CHƯƠNG 1.1 Lý do chọn đề tài Năm 2014, Luật đầu tư công ra đời, và có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2015. Bắt đầu năm 2016, các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư công, được thực hiện theo kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 – 2020, nằm trong tổng thể các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT–XH ), như kế hoạch 5 năm quốc gia giai đoạn 2016 – 2020, kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020… “Giai đoạn 2011 – 2015 tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) có 521 dự án được chuyển tiếp vào giai đoạn đầu tư công trung hạn 2016 – 2020 và được bố trí kế hoạch vốn là 24.742 tỷ đồng, chiếm 16,5% tổng số vốn đầu tư công trung hạn của giai đoạn 2016 – 2020 là 150.000 tỷ đồng (tiền ngân sách thành phố) và trong 521 dự án chuyển tiếp này, chỉ có 324 dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, còn dự án khởi công mới là 1.278 dự án, và được bố trí kế hoạch vốn là 57.400 tỷ đồng, nhưng chỉ có 456 dự án hoàn thành đưa vào sử dụng”.(Minh Hiệp,2022) Giai đoạn đầu tư công trung hạn 2021 – 2022, có 1.191 dự án được chuyển tiếp từ giai đoạn 2016-2020 (Minh Hiệp,2022), như vậy tình hình đầu tư công trung hạn 2016–2020, vẫn còn nhiều bất cập, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực công, công tác giải ngân vốn đầu tư công, còn chậm trong năm không đưa dự án vào sử dụng để phát triển nền kinh tế. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn, khi lập chưa sát với tình hình thực tế, khiến khả năng giao và giải ngân vốn đầu tư công, chưa sát với khả năng thực hiện của từng dự án. Do nguồn vốn hạn hẹp nên việc bố trí vốn cho từng dự án còn nhiều bất cập, các công trình khởi công mới giao vốn không đủ, bên cạnh đó một số địa phương còn tư duy phân bổ dàn trải, phân tán, khi lập kế hoạch đưa quá nhiều dự án vào danh mục cần đầu tư.
Ngoài ra giai đoạn đầu tư công trung hạn 2016–2020, thực hiện chưa hiệu quả đến từ việc quản lý và thực hiện dự án như chậm đền bù giải tỏa, điển hình như Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện đa khoa HVTH: Võ Hà Duy MHV: 2085803021001 2 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lưu Trường Văn Sài Gòn, Bệnh viện Thủ Đức…; công tác lập và thẩm định dự án nhiều sai sót và phải điều chỉnh nhiều lần….,điển hình như “Bệnh viện Nhân dân Gia Định, Bệnh viện Nguyễn Trãi, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi, Bệnh viện Hốc Môn…”(Phòng thẩm định dự án, Sở Xây dựng, 2020) và chậm quyết toán dự án hoàn thành. Xuất phát từ chủ trương chính sách của Chính phủ và những bất cập trong việc thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 -2020, vấn đề nghiên cứu của đề tài luận văn là: “Nghiên cứu mô hình AHP hỗ trợ ra quyết định lựa chọn dự án đầu tư xây dựng ngành y tế sử dụng vốn ngân sách Nhà nước tại TP.HCM”, là cần thiết để nâng cao hiệu quả đầu tư công cho giai đoạn tiếp theo.2 Xác định các vấn đề nghiên cứu Với thực trạng hiện nay, vấn đề khi ra quyết định (RQĐ) các dự án đầu tư xây dựng vốn đầu tư công (ĐTC) cho ngành y tế sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước (NSNN) thường xuyên bị kéo dài, tổng mức đầu tư ban đầu bị thay đổi dẫn đến hiệu quả ĐTC kém. Do vậy, làm thế nào khi RQĐ các dự án ĐTC tốt hơn và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư công và tăng khả năng thành công cho các dự án khi RQĐ đầu tư cho ngành y tế sử dụng nguồn vốn NSNN, là vấn đề đang được quan tâm của các cấp chính quyền, và các bên tham gia vào dự án. - Các vấn đề nghiên cứu của đề tài luận văn này như sau: + Khi RQĐ đầu tư xây dựng các dự án ngành y tế sử dụng nguồn vốn NSNN đang được thực hiện như thế nào tại TP.HCM?; + Những hạn chế và nguyên nhân nào đang ảnh hưởng đến các vấn đề đã xảy ra?; + Ý kiến chuyên gia đang nghĩ gì về các dự án đầu tư xây dựng cho ngành y tế?; + Độ tin cậy và các căn cứ đưa ra các giải pháp và khuyến nghị?; HVTH: Võ Hà Duy MHV: 2085803021001 3 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lưu Trường Văn + Rút ra kết luận và đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả vốn ĐTC khi phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng cho ngành y tế lĩnh vực ĐTC sử dụng nguồn vốn NSNN tại TP.3 Mục tiêu nghiên cứu - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác khi RQĐ các dự án đầu tư xây dựng cho ngành y tế sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước.
- Đánh giá, xếp hạng, xác định nhóm yếu tố ảnh hưởng đến công tác khi RQĐ các dự án đầu tư xây dựng cho ngành y tế sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước. - Đề xuất các biện pháp khi RQĐ các dự án đầu tư xây dựng cho ngành y tế sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước tại TP.HCM được hiệu quả.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn này là: công tác khi RQĐ đầu tư xây dựng cho ngành y tế tại TP.HCM sử dụng nguồn vốn NSNN.2 Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu là: các dự án đầu tư xây dựng cho ngành y tế sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước tại TP. - Phạm vi nghiên cứu giới hạn về thời gian: thu thập và khảo sát số liệu, tài liệu có liên quan trong khoảng thời gian từ 2016-2022.5 Quy mô và tình trạng dự án 1.1 Quy mô dự án - Các dự án theo Luật ĐTC (2019) là dự án nhóm A và dự án nhóm C.2 Tình trạng dự án - Dự án nhóm A, từ 800 tỷ đồng trở lên (xây mới). - Dự án nhóm C, dưới 45 tỷ đồng (nâng cấp, sửa chữa).6 Nguồn vốn cho dự án HVTH: Võ Hà Duy MHV: 2085803021001 4 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lưu Trường Văn - Ngân sách Thành phố Hồ Chí Minh.7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 1.1 Về lý luận Hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận và thể chế phục vụ cho công tác khi ra quyết định đầu tư xây dựng cho ngành y tế sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, góp phần làm rõ các quy định của pháp luật để địa phương tham khảo, thực hiện khi ra quyết định đầu tư xây dựng cho ngành y tế hiệu quả trong tương lai.2 Về thực tiễn - Làm cơ sở cho địa phương tham khảo để áp dụng một cách hiệu quả, đẩy lùi và nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư công sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cho ngành y tế tại TP.
- Góp phần hoàn thiện công tác khi ra quyết định đầu tư xây dựng cho ngành y tế sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước để chăm lo sức khỏe cho người dân, qua đó để phát triển kinh tế - xã hội.8 Cấu trúc của luận văn - Các chương trong luận văn được mô tả,“(xem Hình 1.1)”: HVTH: Võ Hà Duy MHV: 2085803021001 5 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lưu Trường Văn Hình 1.1 Cấu trúc của luận văn HVTH: Võ Hà Duy MHV: 2085803021001 6 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lưu Trường Văn CHƯƠNG 2.1 Thực trạng đầu tư công tại Việt Nam năm 2022 Phát triển đầu tư công chính là động lực để phát triển kinh tế, chính trị, xã hội tại Việt Nam. Qua đó giúp cho nền kinh tế tăng trưởng tốt, đem lại cuộc sống ấm no cho người dân. Nhiều nhà nghiên cứu ở nước ngoài cũng đã phân biệt giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân, theo đó đầu tư công là đầu tư cho lĩnh vực kết cấu hạ tầng và có những điểm khác biệt với nguồn vốn được sử dụng trong doanh nghiệp tư nhân. Tại Việt Nam Luật Đầu tư công ra đời năm 2014 và được bổ sung thay thế năm 2019, đầu tư công chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng mức đầu tư và đóng vai trò quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng của đầu tư nói chung.
“Theo Bộ Tài chính, ước tỷ lệ giải ngân của cả nước đến tháng 11/2022 là 52,43% kế hoạch. Nếu so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, tỷ lệ giải ngân là 58,33%, như vậy với ước tỷ lệ giải ngân này thì thấp hơn so với năm 2021 là 63,68%” và tỷ lệ giải ngân được minh họa,“(xem Hình 2. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công cả nước năm 2022 (LP, 2022) HVTH: Võ Hà Duy MHV: 2085803021001 7 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lưu Trường Văn Trong năm 2022 theo báo cáo của Bộ Tài chính hiện có “16 bộ, cơ quan trung ương và 29 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt trên 60% đó là Thanh tra Chính phủ đạt 100%; Liên minh hợp tác xã Việt Nam 100%; Tổng liên đoàn lao động Việt Nam 99,47%; Ngân hàng Nhà nước 84,42%; Quảng Ngãi 83,1%; Tiền Giang 82%; Bình Định 81,5%. (Thùy Chi, 2022) “Tuy nhiên, vẫn còn 27 bộ, cơ quan trung ương và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới 50%, trong đó có 12 bộ, cơ quan trung ương và 1 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới 30% đó là: Thành phố Hồ Chí Minh trên 25%, Hà Giang 31,4%, Cao Bằng 32,6%, Quảng Trị trên 40%, Hòa Bình 44,8%”.(Thùy Chi, 2022) Ngoài những nguyên nhân chung chậm giải ngân vốn đầu tư công cho các dự án đầu tư là: giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, tình hình thời tiết, chậm công tác đền bù, giải tỏa…., thì còn một nguyên nhân nữa đó là nhiều địa phương đang thực hiện điều chỉnh quy hoạch cục bộ, những địa điểm dự án được giới thiệu chấp thuận chủ trương đầu tư, do đó ảnh hưởng chung đến tiến độ thực hiện dự án.
Có một vài dự án có giá trị đầu tư lớn được triển khai khởi công mới và thực hiện đấu thầu vào quý III/2022; một vài dự án có thời gian lập báo cáo nghiên cứu khả thi bị kéo dài do một số hạng mục công việc không thống nhất ý kiến giữa chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế, đơn vị thẩm tra và cơ quan thẩm định của Nhà nước. Có một số dự án đặc thù có thiết bị đi kèm xây lắp phải đặt hàng ở nước ngoài và thời gian giao nhận thiết bị lâu cũng làm ảnh hưởng đến thực hiện triển khai thi công.