phần mở đầu (12 trang), phần kết luận (4 trang) và tài liệu tham khảo, luận án gồm ba chương. Chương một (60 trang) trình bày một cách tổng quan về văn bản, đoạn văn và mạch lạc trong văn bản. Trong đó, luận án điểm qua khái niệm văn bản, ngữ pháp văn bản, đặc điểm của văn bản, phân biệt văn bản nói và văn bản viết, 18 một số kiểu văn bản tập làm văn được giảng dạy ở trường phổ thông; khái niệm về đoạn văn, một số cấu trúc đoạn văn thường được sử dụng trong văn bản; khái niệm mạch lạc, liên kết trong văn bản, phân biệt giữa mạch lạc và liên kết, mạch lạc trong hội thoại và viết; giới thiệu một cách sơ lược về các cấp mạch lạc: mạch lạc cấp độ câu, mạch lạc cấp độ đoạn văn của văn bản. Chương hai (56 trang) trình bày về lỗi diễn đạt thiếu mạch lạc, phân tích một số dạng lỗi viết văn thiếu mạch lạc của học sinh phổ thông.
Ở phạm vi đặt câu có các dạng lỗi về ngữ pháp, ngữ nghĩa (hướng nội), lỗi trong quy chiếu, sắp xếp trình tự và lỗi hỗn hợp (hướng ngoại). Lỗi trong dựng đoạn bao gồm triển khai lệch chủ đề, thiếu ý, trùng lắp, thiếu hệ thống, nội dung thiếu chính xác. Lỗi trong văn bản bao gồm bố cục không rõ ràng, không tách đoạn, tách đoạn tuỳ tiện, thiếu liên kết đoạn và hướng khắc phục các lỗi trên. Chương ba (50 trang) trình bày về chuẩn mạch lạc trong văn bản tập làm văn của học sinh phổ thông.
Luận án phân tích các ví dụ trích từ bài viết được giáo viên đánh giá là mạch lạc để rút ra yêu cầu tổng quát của các phần mở bài, thân bài, kết luận mạch lạc; đồng thời, xác định những quan hệ góp phần tạo nên mạch lạc như quan hệ liên kết được thể hiện bằng quy chiếu, thay thế, nối kết, lặp và quan hệ ngữ nghĩa bao gồm quan hệ tương liên, ngữ cảnh và logic. 19 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN BẢN, ĐOẠN VĂN VÀ MẠCH LẠC Ngôn ngữ học văn bản (text linguistics) ra đời đã góp phần lý giải những vấn đề mà lâu nay ngôn ngữ học truyền thống bị bế tắc như những hiện tượng biểu hiện trong phạm vi câu nhưng lại có liên quan đến cơ chế ngoài câu, nhu cầu thực tiễn của việc xây dựng văn bản, vận dụng kiến thức ngôn ngữ học để phân tích các tác phẩm văn học và xử lý thông tin. Đây là một bộ môn khoa học mới của ngành ngôn ngữ học có đối tượng nghiên cứu là những hiện tượng ngôn ngữ ở lĩnh vực trên câu. Ngôn ngữ học văn bản bao gồm tất cả các loại hoạt động giao tiếp ngôn ngữ.
Trong đó, ngữ pháp văn bản là bộ phận quan trọng nhất của ngôn ngữ học văn bản. Trần Ngọc Thêm đã nhận định: “Nếu coi việc nâng ngôn ngữ học lên tầm một khoa học khái quát gắn liền với tên tuổi của F.de Saussure là cuộc cách mạng lần thứ nhất trong ngôn ngữ học như lâu nay vẫn nói, thì cuộc cách mạng lần thứ hai phải là việc đưa ngôn ngữ học lên tầm một khoa học bao quát hết đối tượng của mình gắn liền với sự ra đời của ngôn ngữ học văn bản”.12] Chương này trình bày một cách tổng quan về văn bản, đoạn văn và mạch lạc văn bản trong mối quan hệ với các dạng bài viết tập làm văn của học sinh phổ thông. Vài nét về ngữ pháp văn bản 1. Sơ lược về sự ra đời của ngữ pháp văn bản Từ những năm ba mươi, trường phái ngôn ngữ học Praha đã đề cập đến đoạn văn, sự liên hệ giữa các câu trong đoạn văn; và đến những năm sau, K.
Boost (Đức) với “Khối liên hệ các câu”, N. Pospelov (Nga) với “Chỉnh thể cú pháp phức hợp”; I. Figurovskij với “Chỉnh thể cú pháp của văn bản hoàn 20 chỉnh”, Z. Harris (Mỹ) với “Discourse”, … đều nói đến mối liên hệ giữa các câu, tức mối quan hệ trên câu.
Hjelmslev, nhà ngôn ngữ học Đan Mạch, đã viết: cái duy nhất đến với người nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách khởi điểm […] đó là văn bản trong tính hoàn chỉnh tuyệt đối và không tách rời của nó. Từ năm 1968, tên gọi ngữ pháp văn bản ngày càng được nhiều nhà ngôn ngữ học đề cập đến. Lĩnh vực văn bản - theo cách nói hình tượng của V.14]- gần như đã trở thành một “Vũ trụ ngôn ngữ học”. Ngữ pháp văn bản kế thừa và phát triển những thành tựu của ngôn ngữ học nói chung và của ngữ pháp học nói riêng.
Đối tượng của ngữ pháp văn bản là những biểu hiện theo quy luật trong quá trình cấu tạo các đơn vị trên câu và các đơn vị cú pháp văn bản khác để tạo nên đơn vị lớn nhất là văn bản. Còn văn bản là sự biểu hiện bằng ngôn ngữ để bộc lộ ý đồ giao tiếp. Bất kỳ một văn bản nào cũng có những đặc trưng chủ yếu là tính liên kết, tính hoàn chỉnh về nội dung và kết cấu. Ý nghĩa của lý thuyết ngữ pháp văn bản ở trường phổ thông Nhà trường phổ thông từ nhiều năm qua đã chú ý dạy cho học sinh cách sử dụng từ ngữ, viết câu.
Việc làm này đã thu được những kết quả nhất định. Học sinh đã viết được nhiều câu đúng và không ít câu hay. Tuy nhiên, một số không ít lại không biết cách trình bày các câu đúng và hay đó vào một đoạn, một bài viết để tạo thành một chỉnh thể thống nhất, chặt chẽ và logic. Có thể khảo sát đoạn văn sau: Các nhà thơ thời kỳ này đều ca ngợi tinh thần yêu nước, tinh thần quật khởi chống xâm lăng.
Ca ngợi tinh thần độc lập, ý thức tự cường chứa chan lòng yêu nước. Ca ngợi cảnh thanh bình thịnh trị. Các bài thơ của Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, bài thơ “Thần” của Lý Thường Kiệt, “Bạch Đằng Giang Phú” của Trương Hán Siêu… đã khẳng định nội dung văn học thời kỳ này. Trong số đó bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo là một trong những bài tiêu biểu.
Bài hịch ra đời năm 1285. Bài hịch kêu gọi tướng sĩ nêu cao tinh thần yêu nước, chí căm thù giặc mà ra sức chiến đấu. Tác giả đã kêu gọi tướng sĩ 21 hãy từ bỏ lối sống hưởng lạc, ra sức học tập binh thư, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược…” (Phụ lục) Trong đoạn văn trên, học sinh viết câu không sai ngữ pháp nhưng do không biết sắp xếp các câu cho hợp lý nên đoạn văn diễn đạt dài dòng, lộn xộn và tối nghĩa. Tuy nhiên, việc giúp học sinh xây dựng được những đoạn văn chặt chẽ về nội dung và hình thức là điều không phải dễ.
Thêm vào đó, việc sử dụng tiếng Việt trên các phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay, trong một số chương trình, cũng chưa đúng chuẩn nên đã ảnh hưởng không ít đến việc rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh. Đồng thời, trong thời gian qua, đa số giáo viên chỉ dạy cho học sinh viết câu đúng, chú ý sửa lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi đặt câu; còn sửa lỗi đoạn văn thì chưa được quan tâm đúng mức vì tính chất phức tạp của nó. Do vậy, việc đưa lý thuyết ngữ pháp văn bản vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông là vô cùng cần thiết. Và để khắc phục những hạn chế trên, chúng tôi nghĩ cần phải tạo điều kiện cho giáo viên được bồi dưỡng, cập nhật những kiến thức về ngữ pháp văn bản một cách chuyên sâu, nhất là nội dung xây dựng câu văn, đoạn văn, văn bản mạch lạc để việc rèn luyện kỹ năng trình bày ý tưởng một cách mạch lạc cho học sinh có hiệu quả.
Khái niệm văn bản (text) Năm 1974, khi bàn về ngôn ngữ học văn bản, H. Isenberg đã nêu lại một số nét chung của văn bản: “Với câu hỏi về các nét chung của tất cả các văn bản – văn bản “có kết cấu” cũng như văn bản “không có kết cấu” – chúng tôi đã trả lời bằng cách kể ra những đặc trưng như chuỗi nối tiếp tuyến tính của câu, biên giới phía trái và phía phải, tính kết thúc tương đối và tính liên kết”. Trong công trình “Liên kết trong tiếng Anh” năm 1976, M. Hasan đã bàn về những đặc trưng của văn bản như sau: “Từ văn bản được dùng trong ngôn ngữ học để chỉ một đoạn nào đó, được nói ra hay được viết ra, có độ dài bất kỳ, tạo lập được một tổng thể hợp nhất.
Chúng ta biết như một nguyên tắc chung rằng một mẫu ngôn ngữ của chính chúng ta hoặc tạo thành 22 được một văn bản hoặc không. Sự phân biệt giữa một văn bản và một tập hợp những câu không có quan hệ với nhau suy cho cùng là vấn đề mức độ, và ở đây luôn luôn có những trƣờng hợp mà đối với chúng thì chúng ta không định chắc đƣợc – điều này có thể thƣờng gặp đối với nhiều giáo viên khi đọc các bài làm văn của học sinh (chúng tôi nhấn mạnh). Tuy nhiên, điều đó không làm mất hiệu lực của nhận xét chung cho rằng chúng ta cảm nhận được sự phân biệt giữa cái là văn bản với cái không là văn bản. Một số quan niệm về văn bản Hiện nay, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về văn bản.
Có quan niệm cho rằng văn bản là biểu hiện sự kiện nói bằng các dạng viết “written text” hoặc là đơn thoại không tương tác (non-interactive monolongue). Có quan niệm lại cho văn bản là cái kiến trúc lý luận trừu tượng mà diễn ngôn sẽ hiện thực hóa nó (V. Dijk), vì thế mới có liên kết văn bản (textual cohesion) và mạch lạc diễn ngôn (discourse coherence). Liên kết văn bản được nhận diện qua bề mặt từ ngữ, qua ngữ pháp và qua sự triển khai mệnh đề, còn mạch lạc diễn ngôn là hoạt động giữa các hành động nói (H.
Guy Cook có cách nhìn tương tự rằng văn bản là một chuỗi ngôn ngữ lý giải được ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh. Halliday thì “Văn bản là một đơn vị nghĩa, một đơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa. Nó không phải được gồm từ những câu mà là được hiện thực hoá hoặc được ký mã vào những câu”.1-2] Trong quyển “The Encyclopedia of Language and Linguistics” (1994), văn bản được xác định như sau: “Văn bản: 1. Một quãng được viết hay được phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc, đề tài – chủ đề, v.v… của nó, hình thành nên một đơn vị, như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường v.
Trước hết được coi như một tài liệu viết, thường đồng nghĩa với sách, […] 3.