Đặt vấn đề Tre trúc là loại lâm sản quan trọng đứng thứ hai sau gỗ phân bố trong một số trạng thái rừng tự nhiên vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, hiện nay đã được gây trồng ở khá nhiều nơi và có trên 200 loài tre trên cả nước. Đây là loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế và có đặc điểm sinh trưởng nhanh và tái sinh mạnh, trồng một lần khai thác nhiều lần nên luôn có nguồn thu hàng năm nếu trồng tre, do vậy còn được mệnh danh là cây của người nghèo. Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách nước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng: đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre. Trong số các loài tre trong cả nước thì có cây Bương lông điện biên là một trong số các loài cây đem lại lợi ích kinh tế cho người dân.
Để có được lợi ích kinh tế cao thì biện pháp kỹ thuật nhân giống cũng rất quan trọng nhằm phát triển cây Bương lông điện biên cho năng suất, chất lượng cao cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp. Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus), có tên gọi khác là Mạy púa mơi, Bương lớn, Bương lớn điện biên. Là một trong những loài tre có kích thước lớn nhất ở Việt Nam, chiều cao 15 - 20 m, đường kính gốc 20 - 25 cm, có vách dày, chiều dài đốt từ 25 - 30 cm, ít cành nhánh, chắc và bền có khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thay thế cho gỗ cho hiệu quả rất cao. Nhưng hiện nay, việc kinh doanh cây Bương lông điện biên vẫn theo hướng quảng canh, dựa vào kinh nghiệm của người dân địa phương nên năng suất không cao.
Đặc biệt, việc phát triển mở rộng diện tích trồng loài cây này rất khó khăn do nhân giống bằng gốc rất hạn chế về số lượng giống, người dân chưa có được kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết cành hoặc giâm 2 hom cành nên số lượng giống cung cấp ra thị trường ít chưa đáp ứng được nhu cầu nhân rộng mô hình. Mặt khác, người dân địa phương chỉ cho rằng trồng bằng giống gốc mới cho năng suất, trong khi đó nhiều loài tre mọc cụm khác việc nhân giống và trồng bằng giống cành đã đem lại hiệu quả kinh tế rất cao như: Luồng (Dendrocalamus barbatus), Mai xanh (Dendrocalamus latiflorus). Như vậy, việc gây trồng Bương lông điện biên còn thiếu hướng dẫn kỹ thuật nhân giống, loài này có khả năng đáp ứng số lượng giống lớn cho gây trồng nhân rộng, nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu. Xuất phát từ những lý do trên đề tài: “Bước đầu nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Bương lông điện biên tại Đoan Hùng - Phú Thọ” được đặt ra là cần thiết, góp phần cơ sở khoa học và yêu cầu cấp bách của thực tiễn sản xuất hiện nay.
Mục tiêu nghiên cứu Xác định được loại chất kích thích và nồng độ thích hợp nhất đến khả năng ra rễ của hom Bương lông điện biên. Xác định một số biện pháp kỹ thuật nhân giống như hom thân, hom gốc, hom cành chét. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhân giống Bương lông điện biên. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Nhằm giúp cho sinh viên nắm vững hơn những kiến thức đã học, đồng thời được trải nghiệm giữa lý thuyết và thực tiễn để tiếp thu học hỏi nhiều kinh nghiệm về đặc điểm, quá trình sinh trưởng phát triển cây Bương lông điện biên. Quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội biết được phương pháp giải quyết vấn đề khoa học , tiếp cận các phương pháp nghiên cứu ngoài hiện trường. Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài. 3 Nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng khoa học tiến bộ vào nhân giống cây.
Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật nhân giống trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. Nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng khoa học tiến bộ vào nhân giống cây. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Xác định được một số biện pháp kỹ thuật nhân giống từ hom thân, hom gốc, hom cành chét và một số biện pháp kỹ thuật nhân giống Bương lông điện biên. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo (Poaceae). Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp trên thế giới. Tre trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau. Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân nông thôn và miền núi.
Tre trúc thường có thân cứng như gỗ, song có đặc trưng là thân thường rỗng trong ruột, có hệ thân ngầm và phân cành khá phức tạp và có hệ thống mo thân hoàn hảo được sử dụng hiệu quả trong quá trình phân loại. Thân ngầm của tre trúc thường phát triển trong đất thành mạng lưới hay chỉ phát triển thành một số đốt ngắn ở gốc cây. Các đốt thân ngầm thường có nhiều rễ và chồi ngủ. Chồi ngủ sẽ mọc lên thành thân khí sinh trên mặt đất hay phát triển thành thân ngầm mới.
Tre trúc có 3 loài thân ngầm chính là thân ngầm mọc cụm, thân ngầm mọc tản và thân ngầm kiểu hỗn hợp. Kỹ thuật nhân giống, gây trồng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tre, trúc đã và đang được quan tâm nghiên cứu và phát triển. Nhiều loài tre, trúc được nhân dân gây trồng để phát triển kinh tế, đồng thời nâng cao độ che phủ, giảm xói mòn, chống sụt lở vùng đầu nguồn, ven sông suối, cung cấp nguyên liệu cho chế biến, thúc đẩy phát triển thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Đặc biệt, trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới, việc phát triển vùng nguyên liêu tre, trúc theo Quyết định số 11/2011/QĐ-TTg ngày 18 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ cần được quan tâm nghiên cứu theo hướng phát triển bền vững.
Các nghiên cứu về cây Bương lông điện biên rất ít, đặc biệt là nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật lâm sinh, nhân giống và chế biến … Chính vì vậy, 5 đề tài nghiên cứu được đặt ra là rất cần thiết, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Tre có từ rất sớm cùng với nghiên cứu phân loại các loài thực vật, đầu tiên là Luoreiro (1750) khi công bố các loài tre mới. Các loài tre trúc phân bố tự nhiên ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, từ vùng thấp tới độ cao 4000 m (so với mực nước biển), song tập trung chủ yếu ở vùng thấp tới đai cao trung bình (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [11].
Các loài tre trúc có thể mọc hoang dại hoặc được gây trồng và có một đặc điểm nổi bật là có mặt ở rất nhiều các môi trường sống khác nhau (Dransfield and Widjaja, 1995) [16]. Theo Rao and Rao (1995), cả thế giới có khoảng 1.250 loài tre trúc của 75 chi, phân bố ở khắp các châu lục, trừ châu Âu. Châu Á đặc biệt phong phú về số lượng và chủng loại tre trúc với khoảng 900 loài của khoảng 65 chi (Rao and Rao 1995; 1999) [19], [20]. Ohnberger (1999) đã thống kê trên thế giới có 1.575 loài tre, thuộc 111 chi, 10 phân tông và 6 tông.
Nhân giống tre được nhiều tác giả quan tâm và đề cập đến như Banik (1979, 1985), Hassan (1977), R. Gambhir (2008), Nautiyal et al (2008) bằng nhiều phương pháp khác như bằng hạt, chiết, nuôi cấy mô, chồi gốc. Theo Banik (1979) hạt B.tulda có tỷ lệ nảy mầm chỉ 24,78% và 5% cây con tồn tại ở vườn ươm. Nhưng nhân giống bằng gốc đạt tỷ lệ cao hơn, chẳng hạn đạt 5% ở Melocana baccifera, 9% ở B.tulda, 33% ở Oxytanentheranigrociliata, 40% ở Dendrocalamus longispathus và 100% ở Bambusa vulgaris (Hassan, 1977) [18].
Phương pháp chiết tỷ lệ ra rễ ở các loài tre vách dày được áp dụng ở Băng - la - đét đạt 45 - 56% ở các loài Bambusa vulgaris, B. Benton et al (2011) [15] nghiên cứu về phương pháp chiết (air-layering method) đối với tre cho rằng: đảm bảo ra rễ tốt ở trên 6 cây trước khi cắt xuống. Nhưng phương pháp này chỉ áp dụng ở những vùng có độ ẩm cao và bị hạn chế ở phần dưới của cây và thường phần này không dùng làm vật liệu nhân giống. Chồi gốc (cành chét) của các loài Bambusa balcooa, B.vulgaris, Dendrocalamus longispathus, Melocana baccifera, Neohouzeaua dulloa và Oxytenathera nigrociliata đã được sử dụng để trồng rừng ở Ấn Độ tỷ lệ thành công đạt 44 - 76% khi trồng vào tháng 4, đạt 3 - 38% vào tháng 6 và chồi mầm một tuổi đạt tỷ lệ sống cao hơn cây 2 - 3 tuổi.
Nhân giống bằng phương pháp chiết thân đối với loài Bambusa longispiculata đạt tỷ lệ ra rễ 25% nhưng tỷ lệ ra rễ tăng lên 54% khi có xử lý với hooc môn tăng trưởng IBA 200 ppm. Sử dụng hooc môn IBA và NAA khi giâm hom thân (mỗi hom 1 đốt, gồm 2 mấu) đạt tỷ lệ ra rễ 80% ở Bambusa arundinacea, 70% ở Dendrocalamus strictus (S. Nautiyal et al 2008) [22]. Có 607 ha rừng tre của 9 loài (Dendrocalamus strictus, D.hamiltonii, Bambusa bambos, B.balcooa, Pseudooxytanthera, Guadua angustifolia) được trồng bằng giống nuôi cấy mô.
Điều này rất có lợi ích về mặt kinh tế và có thể trồng rừng qui mô lớn. Công nghệ này đạt chất lượng tốt có thể triển khai trồng rừng trên toàn quốc Ấn độ (R. Zhou Fangchun (2000) [23] với công trình "Selected works of Bamboo research" đã nghiên cứu từ nhân giống đến canh tác, khai thác sử dụng tre trúc trong đó có nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm đến quá trình phát sinh, phát triển măng của nhiều loài tre trúc khác nhau ở Trung Quốc làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp thâm canh thúc đẩy sinh măng trái vụ. Fu Maoyi, Xiao Jianghua (1996) với “Cultivation & Utilization on Bamboos” đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ, dinh 7 dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh.
Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng xuất măng và thân khí sinh [17].