ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp (THA) là một trong những bệnh mạn tính không lây nhiễm, gặp phổ biến ở mọi đối tượng. Ngày nay, tỷ lệ mắc tăng huyết áp có xu hướng ngày càng tăng và là vấn đề sức khỏe cộng đồng đang được quan tâm. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2020, số người mắc bệnh tăng huyết áp là 26,4% [1]. Tăng huyết áp với các hậu quả tổn thương cơ quan đích như suy tim, suy mạch vành, nhồi máu cơ tim, đột tử, tai biến mạch não, suy thận, xuất huyết phù gai thị đưa đến giảm thị lực, mù mắt, tắc mạch ngoại biên.
để lại di chứng nặng nề cho bản thân, gia đình và xã hội [2]. Tăng huyết áp cần phải được điều trị liên tục, lâu dài và đúng theo chỉ dẫn của Bác sĩ thì mới kiểm soát được huyết áp và ngăn ngừa được các biến chứng nguy hiểm của bệnh. Chính vì vậy, tuân thủ sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp là mối quan tâm đối với Bác sĩ và cả hệ thống chăm sóc sức khỏe. Ở Việt Nam cùng với sự phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa, tỉ lệ bệnh THA tăng rất nhanh.
Theo thống kê của Hội Tim mạch Việt Nam năm 2015, nước ta có 20,8 triệu người trưởng thành bị tăng huyết áp, chiếm tỷ lệ 47,3%. Đặc biệt, trong những người bị tăng huyết áp, có: 39,1% (8,1 triệu người) không được phát hiện bị tăng huyết áp; 7,2% (0,9 triệu người) bị tăng huyết áp không được điều trị; 69,0% (8,1 triệu người) bị tăng huyết áp chưa kiểm soát được [3]. Theo tác giả Nguyễn Lân Việt, Việt Nam, hiện cả nước có tới 25% dân số mắc bệnh về tim mạch và tăng huyết áp. Tăng huyết áp được xem là "kẻ giết người thầm lặng" vì không có triệu chứng điển hình và thậm chí người mắc không biết mình bị bệnh.
Đây cũng là lý do gần 60% người bị tăng huyết áp ở Việt Nam chưa được phát hiện và trên 80% chưa được điều trị [4]. Thực tế rất nhiều người bệnh THA chỉ điều trị thuốc khi thấy nhức đầu, mệt hay khó chịu ở ngực. Khi thấy các chỉ số huyết áp trở về bình thường thì tự ý bỏ thuốc, thậm chí chỉ điều trị một đợt không đến khám 2 lại. Do đó biến chứng do THA gây ra ngày càng gia tăng.
Năm 2020, Hội tăng huyết áp Thế giới cũng như Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành hướng dẫn thực hành lâm sàng bệnh tăng huyết áp, điều đó góp phần nâng cao hiệu quả trong quản lý và điều trị bệnh lý này [5]. Lạc Thủy là một huyện miền núi nằm ở phía đông nam tỉnh Hòa Bình, huyện Lạc Thủy có 10 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc. Với dân số là 65.178 người, về công tác Y tế, huyện có một Trung tâm Y tế huyện và 10 trạm Y tế xã, thị trấn trực thuộc. Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, năm 2020 các trạm Y tế các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Lạc Thủy đã thực hiện khám sàng lọc và đưa 1429 người bệnh THA vào quản lý, điều trị.
Những người bệnh này được khám, phát thuốc, tư vấn điều trị định kỳ hàng tháng tại Trạm y tế. Tuy nhiên theo thống kê của cán bộ trạm y tế, số bệnh nhân bỏ khám, không tuân thủ điều trị hoặc đi khám tại các cơ sở y tế khác làm ảnh hưởng tới kết quả theo dõi và quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại Trạm y tế. Để đánh giá thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA chúng tôi thực hiện đề tài “Thực trạng kiến thức và tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp được quản lý tại các Trạm Y tế xã, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình năm 2021”, với mục tiêu: 1. Đánh giá kiến thức về tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan tới kiến thức của người bệnh được quản lý tại các trạm Y tế xã, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình năm 2021.
Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp và công tác quản lý người bệnh tăng huyết tại các trạm Y tế, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình năm 2021. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về tăng huyết áp 1. Huyết áp Huyết áp là áp lực cần thiết tác động lên thành của động mạch để đưa máu từ tim đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể.
Huyết áp được tạo ra do lực co bóp của cơ tim và sức cản của thành động mạch [1], [2]. Mặc dù huyết áp trung bình của một người không đổi nhưng nó cho thấy những dao động nhỏ trong suốt cả ngày - giảm khi đang thư giãn và tăng trong giây lát khi đang phấn khích hoặc căng thẳng. Huyết áp ban đêm thường thấp hơn ban ngày. Huyết áp tăng khi hoạt động, giảm khi nghỉ ngơi [3].
Nếu phép đo cho kết quả: huyết áp tâm thu là 120 mmHg và huyết áp tâm trương là 80 mmHg, thì chúng ta sẽ đọc là "huyết áp 120 trên 80 mmHg" và viết là "120/80 mmHg" [3]. Tăng huyết áp * Tăng huyết áp. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới và Hội Tăng huyết áp quốc tế (WHO-ISH), một người trưởng thành (≥ 18 tuổi) được gọi là THA động mạch khi HATT ≥ 140 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg, hoặc đang sử dụng thuốc điều trị huyết áp [4]. 4 * Tăng huyết áp tâm thu đơn độc.
Đối với người lớn tuổi huyết áp tâm thu có xu hướng tăng, huyết áp tâm trương có xu hướng giảm. Khi trị số của huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và huyết áp tâm trương ≤ 90 mmHg, được gọi là THA tâm thu đơn độc. Tỷ lệ THA tâm thu đơn độc khác nhau ở các nghiên cứu, nhưng thường thấp [5]. * Tăng huyết áp tâm trương đơn độc Thường xảy ra ở tuổi trung niên, THA tâm trương được định nghĩa khi HATT ≤140 mmHg và HATTr ≥90 mmHg.
Một số tiền cứu cho thấy THA tâm trương đơn độc thường lành tính, nhưng vấn đề này còn đang tranh luận. Phân độ và phân loại tăng huyết áp Trên thực tế, có 2 cách phân loại tăng huyết áp được dùng phổ biến, gồm có phân loại dựa trên nguyên nhân và phân loại dựa trên mức chỉ số huyết áp. * Theo nguyên nhân: - THA tự phát (tiên phát), không rõ nguyên nhân (vô căn) gọi là bệnh THA, chiếm khoảng 95% số bệnh nhân THA. - THA thứ phát là THA có nguyên nhân chiếm 5% trường hợp bị THA.
Với nhóm tăng huyết áp thứ phát, nhiều nguyên nhân đã được biết đến như hẹp động mạch chủ, bệnh mạch máu thận, suy thận, hội chứng cường Aldosterol, u tủy thượng thận. * Phân loại dựa trên mức chỉ số huyết áp Phân độ THA dựa vào chỉ số huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương hoặc chỉ một trong 2 dạng đó. Khi huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không cùng mức phân độ khác nhau thì chọn mức cao hơn để xếp loại. THA tâm thu đơn độc cũng được đánh giá theo mức biến động của huyết áp tâm trương.
Phân độ THA ở người lớn theo WHO, 2018 [6], [7] Phân độ THA Huyết áp theo WHO HATT (mmHg) HATTr (mmH Tối ưu < 120 < 80 Bình thường <130 <85 Tiền THA 130-139 85-89 THA độ 1 140-159 90-99 THA độ 2 160-179 100-109 THA độ 3 ≥ 180 ≥110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 ≤ 90 Bảng 1. Phân loại huyết áp ở người ≥ 18 tuổi theo JNC 7, 2014 [8] Phân độ THA HATT(mmHg) HATr(mmHg) Huyết áp bình thường <120 <80 Tiền THA 120 - 139 80 - 89 THA độ I 140 - 159 90 - 99 THA độ II ≥160 ≥100 Việc phân nhóm tiền THA của WHO rất có ý nghĩa dựa trên nhiều bằng chứng nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong do bệnh lý về mạch vành trong nhóm đối tượng có chỉ số này cao hơn có ý nghĩa so với mức huyết áp bình thường. Những người tiền tăng huyết áp nếu không đưa được huyết áp về bình thường sẽ tiến triển thành THA thực sự. Nhóm này được khuyến cáo cải thiện tình trạng huyết áp thông qua thay đổi lối sống.
Các yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp Chỉ có rất ít từ 5% đến 10% bệnh nhân THA là có nguyên nhân cụ thể (như bệnh thận, bệnh nội tiết, u tủy thượng thận. Đa số bệnh nhân THA không tìm thấy nguyên nhân cụ thể và những trường hợp này được gọi là THA tiên phát hay THA vô căn. Tuy nhiên ở những trường hợp này thường có những yếu tố làm dễ mắc bệnh, gọi là yếu tố nguy cơ [3]. Chế độ ăn nhiều muối Chế độ ăn thừa muối làm tăng nguy cơ mắc THA và các bệnh tim mạch có liên quan, đặc biệt là đột quỵ và nhồi máu cơ tim.
Nồng độ muối của các chất dịch trong cơ thể là ổn định. Vì thế khi ăn nhiều muối cơ thể sẽ phải cần thêm nước để duy trì ổn định nồng độ dịch thể. Đáp ứng với yêu cầu này, cảm giác khát nước sẽ xuất hiện làm cho người ăn mặn phải uống nhiều nước, điều này đồng nghĩa với việc tăng dung lượng máu và tăng áp lực lên thành mạch. Hiện tượng này kéo dài sẽ làm tăng huyết áp.
Một cơ chế gây tăng huyết áp ở người ăn nhiều muối nữa là muối làm tăng độ nhạy cảm của hệ thống tim- mạch và thận đối với Adrenaline - một chất gây tăng huyết áp [9]. Chế độ ăn nhiều muối ở trẻ em cũng có ảnh hưởng tới huyết áp và làm tăng khả năng mắc THA cũng như các bệnh khác. Rối loạn lipid máu Hậu quả của tình trạng rối loạn lipid máu được thể hiện gián tiếp trên những bệnh lý khác. Khi nồng độ mỡ trong máu cao, chính hệ thống động mạch chịu nhiều ảnh hưởng nhất, do chịu áp lực dòng máu lớn, lớp nội mạc trong lòng động mạch bị tổn thương và xơ cứng, lắng đọng các mảng xơ vữa, giảm mất khả năng đàn hồi, từ đó làm huyết áp tăng lên.
Tuổi tác Khi tuổi càng cao, thành mạch máu càng lão hóa và xơ cứng, giảm khả năng đàn hồi nên áp lực trong lòng mạch sẽ tăng lên. Từ đó, huyết áp ở người 7 lớn tuổi sẽ cao hơn lúc còn trẻ. Theo đó, tuổi tác là một yếu tố nguy cơ không thể thay đổi của căn bệnh tăng huyết áp. Tuy nhiên, nếu biết cách hạn chế được các yếu tố làm tăng huyết áp khác sẽ phần nào giúp ổn định được huyết áp bền vững theo thời gian [9].