CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ 1. Định nghĩa Tăng huyết áp được xác định khi huyết áp tâm thu 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg hay đang dùng thuốc trị THA (Bộ Y Tế, 2019). Tăng huyết áp thường gặp với tình trạng là một rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau.
Bên cạnh đó THA cũng là yếu tố nguy cơ có thể gây ra các bệnh lý cấp hoặc mạn tính khác khác như: tai biến mạch máu não, bệnh mạch vành, suy thận mạn,… (Hà Hoàng Kiệm, 2006), (Hà Hoàng Kiệm, 2010). Nguyên nhân Tăng huyết áp nguyên phát: còn gọi là THA vô căn không rõ nguyên nhân chiếm khoảng 90 % dân số THA (Huỳnh Văn Minh, 2018). THA thứ phát: có thể biết rõ nguyên nhân như do bệnh thận, bệnh tim mạch, nội tiết, do thuốc hay thai nghén chiếm khoảng 10 % dân (Huỳnh Văn Minh, 2018). Phân độ tăng huyết áp Tổ chức Y tế thế giới 2003 đã đưa ra khuyến cáo phân độ huyết áp được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
Phân độ tăng huyết áp theo Tổ chức Y tế thế giới (Jan A Staessen et al, 2003) Phân độ huyết áp HATT (mmHg) HATTr (mmHg) Huyết áp tối ưu < 120 và < 80 Huyết áp bình thường 120-129 và/hoặc 80-84 Tiền THA 130-139 và/hoặc 85-89 THA độ 1 140-159 và/hoặc 90-99 THA độ 2 160-179 và/hoặc 100-109 THA độ 3 ≥ 180 và/hoặc > 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 và < 90 *Nguồn: WHO,2003 Nếu mức huyết áp tâm thu và tâm trương không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn để xếp loại. THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức biến động của huyết áp tâm thu (Bộ Y Tế, 2019). 4 Hội nghị của Liên uỷ ban Quốc gia Hoa Kỳ (United States, Joint National Committee viết tắt là JNC) lần thứ 7 và 8 đã thống nhất ý kiến đưa ra khuyến cáo mức độ tăng huyết áp đối với đối tượng trên 18 tuổi nhằm phát hiện sớm và điều trị tích cực cho những bệnh nhân tăng huyết áp từ đó giảm nguy cơ tử vong (Aram V. Chobanian et al, 2003).
Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII (Aram V. Chobanian et al, 2003) Phân loại HATT (mmHg) HATTr (mmHg) Bình thường < 120 và < 80 Tiền THA 120-139 hoặc 80-89 THA độ 1 140-159 hoặc 90-99 THA độ 2 ≥ 160 hoặc ≥ 100 *Nguồn: JNC 7,2003. Năm 2018, hội tăng huyết áp châu Âu (European Society of Hypertension-European Society of Committee) thống nhất đưa ra khuyến cáo phân độ tăng huyết áp trong chẩn đoán và điều trị có cập nhật và cụ thể hơn so với khuyến cáo của WHO năm 2003 (Bryan Williams et al, 2018). Phân độ tăng huyết áp theo ESH/ESC (Bryan Williams et al, 2018) Phân loại HATT (mmHg) HATTr (mmHg) Lý tưởng < 120 và < 80 Bình thường 120-129 và/hoặc 80-84 Bình thường cao 130-139 và/hoặc 85-89 THA độ 1 140-159 và/hoặc 90-99 THA độ 2 160-179 và/hoặc 100-109 THA độ 3 > 180 và/hoặc > 110 THA tâm thu đơn độc > 140 và < 90 *Nguồn: (ESH/ESC, 2018).
Các yếu tố nguy cơ liên quan đến tăng huyết áp Hút thuốc lá, thuốc lào: Nhiều nghiên cứu cho thấy hút một điều thuốc là có thể làm tăng huyết áp tâm thu lên tới 11 mmHg và huyết áp tâm trương lên 9 mmHg và kéo dài trong 20-30 phút (Huỳnh Văn Minh, 2018) Đái tháo đường: Ở người bị đái tháo đường (ĐTĐ), tỷ lệ bệnh nhân bị THA cao gấp đôi so với người không bị đái tháo đường. Khi có cả THA và đái tháo đường sẽ làm tăng gấp đổi biến chứng mạch máu lớn và nhỏ, làm tăng gấp đôi nguy cơ tử vong so với bệnh nhân THA đơn thuần (Huỳnh Văn Minh, 2018), (Nguyễn Lân Việt, 2011) 5 Hình 1. Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp *Nguồn:( Hội Tim mạch học Việt Nam, 2018) Rối loạn lipid máu: Nồng độ cholesterol máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa động mạch, dần dần làm hẹp lòng các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác trong cơ thể. Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn hồi và cũng chính là yếu tố gây THA (Huỳnh Văn Minh, 2018).
Tiền sử gia đình có người bị THA: Theo thống kê của nhiều tác giả cho thấy bệnh THA có thể có yếu tố di truyền. Trong gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ bị bệnh THA thì con cái có nguy cơ mắc bệnh này nhiều hơn (Huỳnh Văn Minh, 2018). Tuổi cao: Tuổi càng cao thì tỷ lệ THA càng nhiều, do thành động mạch bị lão hóa và xơ vữa làm giảm tính đàn hồi và trở nên cứng hơn, vì thế làm cho huyết áp tâm thu tăng cao hơn còn gọi là THA tâm thu đơn thuần (Huỳnh Văn Minh, 2018). Thừa cân, béo phì: Cân nặng có quan hệ khá tương đồng với THA, người béo phì hay tăng cân theo tuổi cũng làm tăng nhanh HA (Huỳnh Văn Minh, 2018) (Đồng Thị Ngọc Lâm, 2021).
6 Ăn mặn: Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy chế độ ăn nhiều muối (natri clorua) thì tần suất mắc bệnh THA tăng cao rõ rệt. Người dân ở vùng biển có tỷ lệ mắc bệnh THA cao hơn nhiều so với những người ở đồng bằng và miền núi. Nhiều bệnh nhân THA ở mức độ nhẹ chỉ cần ăn chế độ giảm muối là có thể điều trị được bệnh (Đồng Thị Ngọc Lâm, 2021), (Huỳnh Văn Minh, 2018). Uống nhiều bia, rượu: Đối với những người phải dùng thuốc để điều trị THA thì uống rượu, bia quá mức hoặc nghiện rượu sẽ làm mất tác dụng của thuốc hạ áp làm cho bệnh cũng nặng hơn.
Ngoài ra, uống rượu, bia quá mức còn gây bệnh xơ gan và các tổn thương thần kinh nặng nề khác từ đó gián tiếp gây THA (Đồng Thị Ngọc Lâm, 2021) Ít vận động thể lực: Cũng được coi là một nguy cơ của bệnh THA. Việc vận động hàng ngày đều đặn từ 30-45 phút sẽ mang lại lợi ích rõ rệt trong giảm nguy cơ bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng (Đồng Thị Ngọc Lâm, 2021) Stress (căng thẳng, lo âu quá mức): Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng căng thẳng thần kinh, stress làm tăng nhịp tim. Dưới tác dụng của các chất trung gian hóa học là adrenalin, noradrenalin làm động mạch bị co thắt dẫn đến THA (Huỳnh Văn Minh, 2018). Cách đo huyết áp chuẩn Theo Hội Tim mạch Việt Nam và Phân Hội tăng huyết áp Việt Nam, các phương thức đo huyết áp chuẩn được áp dụng tại phòng khám và tại nhà được khuyến nghị như sau (Huỳnh Văn Minh, 2018), (Bộ Y Tế, 2019): Đo HA tại phòng khám/ huyết áp lâm sàng Huyết áp có thể được đo bằng một HA kế thủy ngân với các bộ phận (ống cao su, van, ống định lượng bằng thủy ngân, .) được bảo quản trong các điều kiện thích hợp.
Một số máy đo HA không xâm nhập như dụng cụ đo dựa vào áp lực khí kèm ống nghe hoặc dụng cụ đo dạng sóng bán tư động. Đây là những loại máy đo phổ biến được dung rộng rãi hiện nay do máy đo huyết áp thủy ngân cồng kềnh, dễ vỡ và bảo quản ngặt nghèo. Một dụng cụ đo chuẩn phải đảm 7 bảo được chuẩn hóa và có độ chính xác cao khi đối chiếu với giá trị đo bằng huyết áp kế thủy ngân (Bộ Y Tế, 2019) Đo HA thông dụng tại cộng đồng/tự đo tại nhà (Bộ Y Tế, 2019) Bệnh nhân ngồi 5 phút trong một phòng yên tĩnh trước khi bắt đầu đo. Ngồi thẳng lưng ghế, thư giãn trong lúc đo.
Đối với người già và bệnh nhân ĐTĐ, nếu khám lần đầu thì nên đo cả HA tư thế đứng. Cởi bỏ quần áo chật, cánh tay để tựa trên bàn ở mức ngang tim, thả lỏng tay và không nói chuyện trong khi đo. Đo ít nhất hai lần cách nhau 1-2 phút, nếu hai lần đo này quá khác biệt thì tiếp tục đo thêm vài lần nữa và lấy trung bình 2 giá trị sau cùng. Dùng băng quấn tay chặt ở mức độ vừa phải, băng quấn đặt ngang mức tim dù bệnh nhân ở tư thế nào.
Mép dưới băng quấn trên lằn khuỷu 3 cm. Sau khi áp lực hơi trong băng quấn làm mất mạch quay, bơm hơi lên tiếp 30 mm Hg nữa và sau đó hạ cột thuỷ ngân từ từ. Sử dụng âm thanh lần thay đổi thứ nhất và lần thay đổi thứ 2 để xác định huyết áp tương ứng với huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Đo HA cả hai tay trong lần đo đầu tiên để phát hiện sự khác biệt gây ra do bệnh lý mạch máu ngoại biên.
Khi đó giá trị bên cao hơn được theo dõi sử dụng lâu dài sau này. Không bao giờ điều trị THA khi chỉ dựa vào kết quả một lần đo HA. Nên dùng máy đo đã chuẩn hoá và đo đúng quy trình. Một số điểm lưu ý khi đo thông dụng tại cộng đồng hay tự đo tại nhà (Bộ Y Tế, 2019) Nên sử dụng các máy đo đã chuẩn hóa, máy quấn ngang cổ tay thường cho độ chính xác thấp hơn cánh tay.
Khi đo cánh tay của bệnh nhân phải đặt ngang mức tim. Tuy máy đo huyết áp thủy ngân có độ chính xác cao nhưng thích hợp với đo tại phòng khám/bệnh viện hơn. Với cách đo thông thường, để thuận tiện trong việc bảo quản và vận chuyển, nên sử dụng máy bán tự động và tự động, 8 thậm chí máy đo cơ (bao gồm cả băng hơi và tai nghe) cũng cần cân nhắc nếu bệnh nhân tự đo nếu sức nghe và phản xạ bệnh nhân suy giảm, đặc biệt ở người già. Bệnh nhân cần ngồi nghỉ vài phút trước khi đo và bệnh nhân cần được phổ biến để biết các trị số huyết áp có thể khác nhau trong các lần đo khác nhau do sự thay đổi áp lực máu tự động.
Không nên đo liên tiếp quá nhiều lần, nhưng nên đo vài lần trước những quyết định dùng thuốc và trong suốt quá trình điều trị. Lưu ý rằng các giá trị bình thường đo nhà thấp hơn so với đo ở phòng khám. Giá trị đo ở nhà 135/85 mm Hg tương ứng với 140/90mgHg đo ở phòng khám hoặc bệnh viện. Do đó có một số tổ chức khác đã đưa ra khái niệm về tăng huyết áp với ngưỡng thấp hơn, tương ứng với hoàn cảnh đo huyết áp khác nhau.
Bệnh nhân được khuyến cáo nên tự theo dõi huyết áp thường xuyên tại nhà, Phân Hội phòng chống tăng huyết áp Việt Nam và Chương trình phòng chống tăng huyết áp Quốc gia đề xuất theo dõi hàng tuần và tốt nhất là nên vài ngày một lần đối với bệnh nhân đang điều trị ổn định.