ĐẶT VẤN ĐỀ An toàn ngƣời bệnh hiện đang là một trong những vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu của ngành Y tế, trong đó tiêm an toàn (TAT) đặc biệt đƣợc chú ý bởi tính phổ biến, tầm quan trọng cũng nhƣ ảnh hƣởng của nó đến hiệu quả điều trị [31]. Tiêm không an toàn có thể gây ra những nguy cơ nhƣ: áp xe tại vị trí tiêm, sốc phản vệ, teo cơ, phản ứng nhiễm độc và đặc biệt là nguy cơ truyền các vi rút nhƣ viêm gan B, viêm gan C, virút HIV. qua đƣờng máu cho ngƣời bệnh, nhân viên y tế (NVYT) và cộng đồng [44]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tiêm an toàn là mũi tiêm có sử dụng phƣơng tiện tiêm vô khuẩn, phù hợp với mục đích, không gây hại cho ngƣời đƣợc tiêm, không gây nguy cơ phơi nhiễm cho ngƣời thực hiện tiêm và không gây chất thải nguy hại cho ngƣời khác [45].
Nhận thức tầm quan trọng của tiêm an toàn, WHO đã thành lập Mạng lƣới tiêm an toàn toàn cầu (viết tắt là SIGN - Safe Injection Global Network) [48]. Hiện nay, WHO đã đƣa ra sáu giải pháp toàn cầu về an toàn ngƣời bệnh, trong đó có biện pháp bảo đảm an toàn khi dùng thuốc và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện liên quan trực tiếp đến tiêm an toàn, là công việc hàng ngày của ngƣời điều dƣỡng. Trong những năm qua, chính sách điều dƣỡng cũng đã có những thay đổi. Thông tƣ 07/TT- QĐ- BYT (2011) có quy định rõ về chức trách, nhiệm vụ của ngƣời điều dƣỡng trong công tác chăm sóc ngƣời bệnh [7].
Năm 2012, Chuẩn năng lực và Chuẩn đạo đức đƣợc ban hành càng làm tăng vị thế cũng nhƣ trách nhiệm độc lập của ngƣời điều dƣỡng [8]. Tại Việt Nam, vấn đề tiêm an toàn luôn nhận đƣợc sự quan tâm của Bộ Y tế (BYT). Từ năm 2000, Hội Điều dƣỡng Việt Nam đã phát động phong trào “Tiêm an toàn” trong toàn quốc. Đồng thời, trong TT07/2011/TT-BYT năm 2011 của Bộ Y tế cũng bao gồm các nội dung liên quan đến tiêm an toàn trong công tác chăm sóc ngƣời bệnh[7].
Thực hành tiêm an toàn đã đƣợc hƣớng dẫn cụ thể thông qua quyết định số: 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 của BYT “Hƣớng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” [8],[9]. Công tác tiêm an toàn đang là vấn đề đƣợc đặt lên hàng đầu để đảm bảo an toàn ngƣời bệnh bởi ảnh hƣởng sâu rộng của nó đến nhiều nhóm đối tƣợng. Tuy nhiên, trên thực tế tỷ lệ tiêm an toàn lại 2 rất thấp. Theo đánh giá về tiêm an toàn tại 8 tỉnh do Vụ Điều trị, BYT thực hiện năm 2008, khoảng 80% số mũi tiêm không đạt đủ các tiêu chuẩn của tiêm an toàn [22].
Bệnh viện Sản - Nhi Hƣng Yên đƣợc thành lập theo quyết định số 2323/ QĐ- UBND ngày 23/11/2010 của UBND tỉnh Hƣng Yên với quy mô 200 giƣờng bệnh gồm 2 hệ Sản và Nhi, có chức năng chăm sóc sức khỏe sinh sản, khám và điều trị các bệnh sản phụ khoa và nhi khoa trên địa bàn tỉnh và các tỉnh vùng lân cận.Trong đó, khi tách bệnh viện cán bộ nhân viên thuộc lĩnh vực Nhi khoa hầu hết xin ở lại bệnh viện đa khoa công tác, số ít chuyển sang bệnh viện Sản Nhi và họ đều là những ngƣời rất trẻ cả về tuổi đời cũng nhƣ tuổi nghề [2]. Thêm vào đó là lực lƣợng điều dƣỡng mới đƣợc tuyển dụng, chƣa có kinh nghiệm lâm sàng và đang trong độ tuổi sinh đẻ… Nghị quyết Đảng bộ cơ sở năm 2015 phần phƣơng hƣớng và nhiệm vụ đã chỉ rõ: Cần quan tâm đặc biệt hơn nữa đến công tác điều dƣỡng vì nó chiếm 60% thành công trong công tác điều trị. Và cũng qua báo cáo công tác điều dƣỡng năm 2014 phần khắc phục tồn tại nêu rõ: Cần khắc phục ngay những tồn tại trong năm tới về lĩnh vực điều dƣỡng đặc biệt thực hành tiêm trong an toàn ngƣời bệnh. Đây cũng là tiêu chí đánh giá chất lƣợng BV hàng năm do BYT ban hành.
Đứng trƣớc tình hình đó một câu hỏi đặt ra là: (1) Thực trạng kiến thức và thực hành tiêm an toàn của ĐDV lâm sàng hệ nhi trong bệnh viện là nhƣ thế nào? (2) Các yếu tố nào liên quan đến tiêm an toàn của điều dƣỡng viên lâm sàng hệ nhi trong bệnh viên? Có nhiều hình thức tiêm đƣợc sử dụng rộng rãi tại tất cả các cơ sở y tế nhƣ tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, truyền dịch, tiêm dƣới da… Nhƣng tại bệnh viện với đặc trƣng của hệ Nhi, hầu hết trẻ em nhập viện đƣợc sử dụng thuốc chủ yếu qua đƣờng tiêm và truyền tĩnh mạch, nhằm mục đích đảm bảo tối đa lƣợng thuốc đƣợc đƣa vào cơ thể. Chính vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi chủ đích tiến hành nghiên cứu về tiêm an toàn với quy trình cụ thể là tiêm tĩnh mạch và truyền tĩnh mạch ngoại vi. Để thuận tiện trong cách trình bày, chúng tôi sử dụng cụm từ tiêm an toàn khi nói về tiêm tĩnh mạch an toàn và truyền tĩnh mạch an toàn. 3 Vì tiêm là kỹ thuật phổ biến nhất trong công việc của ngƣời điều dƣỡng nên kiến thức và kỹ năng thực hành của ngƣời điều dƣỡng là hết sức cần thiết và cần đƣợc đánh giá để có cơ sở can thiệp nâng cao.
Thêm vào đó, về lĩnh vực quản lý, lãnh đạo bệnh viện mong muốn tìm ra những yếu kém đang tồn tại cũng nhƣ một số yếu tố liên quan đến thực hành của ngƣời điều dƣỡng, nhất là điều dƣỡng lâm sàng hệ Nhi. Do đó, đề tài “Kiến thức, thực hành về tiêm an toàn và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại 4 khoa lâm sàng hệ Nhi bệnh viện Sản - Nhi Hưng Yên năm 2015” đƣợc triển khai nhằm tìm ra những tồn tại trong công tác tiêm truyền của điều dƣỡng tại 4 khoa lâm sàng hệ Nhi. Đồng thời đƣa ra những giải pháp, khuyến nghị phù hợp, nhằm thực hành đúng các tiêu chuẩn tiêm an toàn tại quyết định số 3671/ QĐ-BBYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Y tế góp phần nâng cao chất lƣợng chuyên môn của bệnh viện. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả kiến thức, thực hành của điều dƣỡng về tiêm an toàn tại 4 khoa lâm sàng hệ Nhi bệnh viện Sản - Nhi Hƣng Yên năm 2015. Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành tiêm an toàn tại 4 khoa lâm sàng hệ Nhi bệnh viên Sản - Nhi Hƣng Yên năm 2015. 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1.
Các khái niệm liên quan đến thực hành tiêm Tiêm: là một trong các biện pháp đƣa thuốc, dịch, chất dinh dƣỡng và một số chất khác (iod, đồng vị phóng xạ, chất màu.) vào cơ thể nhằm mục đích điều trị và dự phòng. Có nhiều loại đƣờng tiêm (trong da, dƣới da, bắp, tĩnh mạch, trong xƣơng, động mạch, màng bụng. Mũi tiêm không an toàn: là mũi tiêm có một trong những đặc tính sau: dùng bơm tiêm, kim tiêm không vô khuẩn, tiêm không đúng thuốc theo chỉ định; không bảo đảm các bƣớc trong khi tiêm, các chất thải, vật sắc nhọn (VSN) sau khi tiêm không phân loại đúng và cô lập ngay theo Quy chế xử lý chất thải của BYT [9], [6]. Nguyên tắc thực hành tiêm an toàn Để đảm bảo an toàn cho ngƣời bệnh, nhân viên y tế và cộng đồng, năm 2012 Hƣớng dẫn TAT, BYT đƣa ra nguyên tắc thực hành tiêm cụ thể nhƣ sau[9]: *Không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm - Thực hiện 5 đúng: + Bao gồm đúng ngƣời bệnh, đúng thuốc, đúng liều lƣợng, đúng thời điểm, đúng đƣờng tiêm; thực hiện khi chuẩn bị phƣơng tiện, thuốc tiêm và trƣớc khi tiêm [9].
- Phòng và chống sốc + Trƣớc khi thực hiện mũi tiêm đầu tiên cho ngƣời bệnh cần hỏi kỹ tiền sử dị ứng thuốc, dị ứng thức ăn [9]. + Luôn mang theo hộp đủ cơ số, hƣớng dẫn phòng và chống sốc phản vệ theo thông tƣ 08/1999/TT-BYT năm 1999 về Hƣớng dẫn phòng và chống sốc phản vệ [4], [9]. 6 + Trong khi tiêm cần bơm thuốc chậm, vừa bơm vừa quan sát sắc mặt ngƣời bệnh[9]. + Sau khi tiêm nên để ngƣời bệnh nằm hoặc ngồi tại chỗ 10 – 15 phút đề phòng sốc phản vệ xuất hiện muộn [9].
- Các phòng ngừa khác [9] + Đảm bảo đúng kỹ thuật vô khuẩn trong tiêm truyền. + Luôn hỏi ngƣời bệnh về tiền sử dùng thuốc để tránh tƣơng tác thuốc. + Sử dụng thuốc tiêm một liều. Nếu phải sử dụng thuốc tiêm nhiều liều, cần sử dụng kim lấy thuốc vô khuẩn và không lƣu kim lấy thuốc trên lọ thuốc.
+ Không pha trộn 2 hoặc nhiều loại thuốc vào một loại bơm kim tiêm (BKT), không dùng một kim tiêm để lấy nhiều loại thuốc. + Loại bỏ kim tiêm đã đụng chạm vào bất kỳ bề mặt nào không vô khuẩn [9]. * Không gây nguy hại cho người tiêm [9] - Nguy cơ bị phơi nhiễm do máu hoặc do kim tiêm/ vật sắc nhọn đâm [9] + Mang găng khi có nguy cơ tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết của ngƣời bệnh. + Dùng gạc bọc vào đầu ống thuốc trƣớc khi bẻ để tránh vỡ rơi vào ống thuốc, rơi ra sàn nhà, bắn vào ngƣời, đâm vào tay.
+ Không dùng tay đập nắp kim. Không dùng tay đậy nắp kim + Bỏ bơm kim tiêm vào hộp kháng thủng ngay sau tiêm, không tháo rời kim tiêm ra khỏi bơm tiêm sau khi tiêm. + Không để vật sắc nhọn đầy quá ¾ hộp kháng thủng. + Khi bị phơi nhiễm do vật sắc nhọn, cần xử lý, khai báo ngay [9].
- Nguy cơ đổ lỗi trách nhiệm cho người tiêm [9] Hộp kháng thủng chuẩn + Thông báo, giải thích rõ cho ngƣời nhà hoặc ngƣời bệnh trƣớc khi tiêm. + Kiểm tra chắc chắn y lệnh ghi trong bệnh án (trừ trường hợp cấp cứu). + Đánh giá tình trạng ngƣời bệnh trƣớc, trong và sau khi tiêm. + Pha thuốc trƣớc sự chứng kiến của ngƣời nhà ngƣời bệnh.
7 + Giữ lại lọ thuốc có ghi tên ngƣời bệnh đến hết ngày tiêm để làm vật chứng. + Ghi phiếu chăm sóc [9]. *Không gây nguy hại cho cộng đồng [9] + Chuẩn bị hộp kháng thủng để đựng vật sắc nhọn. + Tạo thói quen cho ngƣời tiêm: bỏ bơm kim tiêm vào hộp kháng thủng ngay sau khi tiêm.
+ Thu gom và bảo quản bơm kim tiêm đã sử dụng theo đúng Quy chế quản lý chất thải y tế [9].