CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm COVID-19: COVID-19 là bệnh do một loại coronavirus mới có tên là SARS- CoV-2 gây ra. WHO lần đầu tiên biết đến loại vi rút mới này vào ngày 31 tháng 12 năm 2019, sau một báo cáo về một nhóm các trường hợp 'viêm phổi do vi rút' ở Vũ Hán, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (2). Vắc xin: Là một sản phẩm kích thích hệ thống miễn dịch của một người tạo ra khả năng miễn dịch đối với một căn bệnh cụ thể, bảo vệ người đó khỏi căn bệnh đó.
Vắc xin thường được sử dụng thông qua đường tiêm, nhưng cũng có thể được sử dụng bằng đường uống hoặc xịt vào mũi (10). Vắc xin COVID-19: Vắc xin COVID-19 là chủng loại vắc xin phòng viêm đường hô hấp cấp, giúp ngăn ngừa vi rút SARS-CoV-2. Sự chấp nhận: Dựa trên thuật ngữ tiếng Lating, khai niệm “Chấp nhận” đề cập đến hành động và tác dụng của việc chấp nhận. Đây là hành động liên quan đến việc phê duyệt, chấp nhận hoặc nhận một cái gì đó một cách tự nguyện và không có sự phản đối (11).
Sự chấp nhận vắc xin: là quyết định của cá nhân hay một nhóm nhất định nào đó chấp nhận sử dụng vắc xin khi có cơ hội tiêm chủng (12). Tổng quan về vắc xin phòng COVID-19 2.Cơ chế hoạt động của vắc xin, các loại vắc xin Vắc xin COVID-19 giúp cơ thể chúng ta phát triển khả năng miễn dịch đối với vi rút gây ra COVID-19 mà chúng ta không cần phải mắc bệnh. Cơ chế hoạt động của vắc xin: Các loại vắc xin khác nhau hoạt động theo những cách khác nhau để bảo vệ. Nhưng với tất cả các loại vắc-xin, cơ thể cung cấp tế bào lympho T “ghi nhớ” cũng như tế bào lympho B sẽ ghi nhớ cách chống lại loại vi rút đó trong tương lai.
Thông thường, phải mất vài tuần sau khi tiêm vắc-xin thì cơ thể mới sản sinh ra tế bào lympho T và tế bào lympho B. Do đó, có thể một người có thể bị nhiễm vi-rút gây ra COVID-19 ngay trước hoặc ngay sau khi tiêm chủng và sau đó bị bệnh vì vắc- xin không có đủ thời gian để bảo vệ.Các loại vắc xin phòng COVID-19 Vắc xin mRNA chứa vật chất từ vi rút gây ra COVID-19 cung cấp cho các tế bào của chúng ta hướng dẫn cách tạo ra một loại protein vô hại dành riêng cho vi rút. Sau khi tế bào của chúng ta tạo ra các bản sao của protein, chúng sẽ phá hủy vật liệu di truyền từ vắc-xin. Cơ thể chúng ta nhận ra rằng protein không nên có ở đó và tạo ra các tế bào lympho T và tế bào lympho B sẽ ghi nhớ cách chống lại vi rút gây ra COVID-19 nếu chúng ta bị nhiễm trong tương lai.
Vắc xin tiểu đơn vị protein bao gồm các mảnh (protein) vô hại của vi rút gây ra COVID-19 thay vì toàn bộ vi rút. Sau khi được chủng ngừa, cơ thể chúng ta nhận ra rằng protein không nên có ở đó và tạo ra các tế bào lympho T và các kháng thể sẽ ghi nhớ cách chống lại vi-rút gây ra COVID-19 nếu chúng ta bị nhiễm trong tương lai. Vắc xin vectơ chứa một phiên bản sửa đổi của vi rút khác với vi rút gây ra COVID-19. Bên trong lớp vỏ của vi rút đã biến đổi, có vật chất từ vi rút gây ra COVID-19.
Đây được gọi là “vectơ virut”. Khi vectơ virut ở bên trong tế bào của chúng ta, vật liệu di truyền sẽ cung cấp cho các tế bào hướng dẫn để tạo ra một loại protein dành riêng cho virut gây ra COVID-19. Sử dụng các hướng dẫn này, các tế bào của chúng ta tạo ra các bản sao của protein. Điều này thúc đẩy cơ thể chúng ta xây dựng tế bào lympho T và tế bào lympho B, những tế bào này sẽ ghi nhớ cách chống lại loại vi rút đó nếu chúng ta bị nhiễm trong tương lai (13).Hiệu quả của việc tiêm vắc xin phòng COVID-19 Trên thế giới Hoa Kỳ là một trong những nước đầu tiên đưa vắc xin vào thử nghiệm và đã đạt nhiều kết quả khả quan.
Hai loại vắc xin đầu tiên được công bố và đưa vào sử dụng ở Hoa Kỳ là từ công ty Moderna (LNP-encapsulated mRNA) và Pfizer - BioNTech (3 LNP-mRNAs) sử dụng một kỹ thuật hoàn toàn mới chưa từng được thử nghiệm, gọi là RNA. Vắc xin của công ty Pfizer – BioNTech COVID-19, BNT162b2, là vắc xin mRNA mã hóa đột biến đột biến P2 protein (PS 2) và được cấu tạo dưới dạng hạt nano RNA-lipid của mRNA biến đổi nucleoside (modRNA) (14). Vắc xin này hiện đã kết thúc giai đoạn thử nghiệm thứ 4, với giai đoạn đầu tiên bắt đầu từ tháng 7/2020, hiện vẫn đang tiếp tục thử nghiệm (15). Vắc xin được đưa vào sử dụng từ giai đoạn thử nghiệm thứ 2, do tình huống khẩn cấp.
Vào giai đoạn thử nghiệm thứ 3, thử nghiệm 5 của vắc xin đã được tiến hành tại các địa điểm ở sáu quốc gia (Argentina, Brazil, Đức, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ và Hoa Kỳ) và có khoảng 43 000 người tham gia từ 16 đến 85 tuổi, những người khỏe mạnh hoặc có tình trạng y tế ổn định, được phân ngẫu nhiên như nhau giữa nhóm vắc xin và giả dược. Vắc xin BNT162b2 đã được chứng minh là có hiệu quả khoảng 95%, dựa trên thời gian theo dõi trung bình trong hai tháng (16). Các tác dụng phụ của vắc xin này bao gồm đau, sưng hoặc mẩn đỏ vùng tiêm, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ, ớn lạnh, sốt và chóng mặt (17). Giống như BNT162b2, vắc xin mRNA-1273 COVID-19 của Moderna cũng là loại vắc xin mRNA, với cơ chế hoạt động giống BNT162b2 (18).
Vắc xin này được bắt đầu đưa vào thử nghiệm từ tháng 3/2020, và hiện đang trong giai đoạn thử nghiệm thứ 4 (19). Trong cuộc thử nghiệm giai đoạn 3, tức giai đoạn quan trọng nhất trước khi vắc xin được đưa vào sử dụng, vắc xin đã được tiến hành tiêm tại 99 trung tâm trên khắp Hoa Kỳ và thu hút khoảng 30.000 người tham gia từ 18 tuổi trở lên không có tiền sử nhiễm SARS-CoV-2, nhưng vị trí địa lý hoặc hoàn cảnh đã dẫn đến việc họ có nguy cơ bị mắc COVID-19. Những người tham gia đều khỏe mạnh hoặc có tình trạng sức khỏe ổn định từ trước (20). Những người tham gia được chọn ngẫu nhiên như nhau giữa các nhóm vắc xin và giả dược.
Vắc xin mRNA-1273 đã được chứng minh là có hiệu quả 94,1%, dựa trên thời gian theo dõi trung bình trong hai tháng. Các tác dụng phụ của vắc xin này bao gồm đau, sưng hoặc mẩn đỏ vùng tiêm, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ, ớn lạnh, sốt và chóng mặt (21). Vào tháng 4/2021, một báo cáo uớc tính tạm thời về hiệu quả của vắc xin BNT162b2 và vắc xin mRNA-1273 COVID-19 trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng SARS-CoV-2 tại Hoa Kỳ được công bố. Báo cáo này bao gồm ước tính hiệu quả tạm thời giữa các nhân viên chăm sóc sức khỏe, những người phản ứng đầu tiên và các nhân viên tuyến đầu và thiết yếu khác tại tám địa điểm ở Hoa Kỳ, theo dõi từ tháng 12/2020 đến tháng 3/2021.
Báo cáo cho thấy trong điều kiện thực tế, hiệu quả của vắc xin loại mRNA khi tiêm chủng đầy đủ các mũi (≥14 ngày sau liều thứ hai) để chống lại virus SARS-CoV-2 bất kể tình trạng triệu chứng nào là 90%; hiệu quả vắc xin của việc tiêm chủng một phần các mũi (≥14 ngày sau liều đầu tiên nhưng trước liều thứ hai) là 80% (22). Kết quả này đã nói lên được rằng hai loại vắc xin mRNA thật sự có tác dụng trong điều kiện các nhân viên y tế, những người phải trực tiếp làm việc trong 6 những giai đoạn dịch diễn ra rất nghiêm trọng, vì theo dữ liệu từ Đại Học John Hopkins, vào tháng 1/2021, trong giai đoạn mà báo cáo tiến hành thu thập dữ liệu, có đến hơn 4,000 ca tử vong trong một ngày ở Hoa Kỳ (23). Những báo cáo của các vắc xin mRNA đều cho kết quả tương đồng, trong cùng một bối cảnh là tại Hoa Kỳ vào các giai đoạn theo dõi gần như trùng khớp. Điều này chứng minh rằng vắc xin BNT162b2 và mRNA-1273 đều có hiệu quả rất khả quan.
Tuy nhiên, việc lưu trữ vắc xin thật sự rất khó khăn, vì hai vắc xin này đều yêu cầu phải được bảo quản trong nhiệt độ từ –25 ºC đến –15 ºC, phải được rã đông trước khi sử dụng. Sau khi rã đông, có thể rút tối đa 10 liều (mỗi liều 0,5 ml) từ mỗi lọ. Lọ có thể được bảo quản trong tủ lạnh ở 2–8 ° C (36–46 ° F) trong tối đa 30 ngày trước khi sử dụng lần đầu. Các lọ chưa mở có thể được bảo quản ở 8–25 ° C (46– 77 ° F) trong tối đa 12 giờ.
Sau khi rút liều đầu tiên, lọ thuốc phải được giữ ở 2–25 ° C (36–77 ° F) và bỏ đi sau 6 giờ (16)(20). Vì thế, mặc dù hiệu quả không thể chối cãi của loại vắc xin này, việc vận chuyển và bảo quản vắc xin khó khăn có lẽ đã dẫn đến việc không phải tất cả các nước đều có thể sử dụng vắc xin loại mRNA. Vắc xin AZD1222 sử dụng vector là virus adeno mất khả năng sao chép của tinh tinh, dựa trên phiên bản suy yếu của virus adeno (virus cúm gây bệnh ở tinh tinh), có chứa vật chất di truyền là protein gai bề mặt của virus gây bệnh COVID-19 được gọi tên là Spike hoặc S. Hiện nay, vắc xin đang ở giai đoạn 4, với giai đoạn thử nghiệm đầu bắt đầu từ tháng 10/2020 (24).
Giai đoạn 3 với dữ liệu tính đến ngày 7/12/2020 ở Anh, Brazil và Châu Phi, cho thấy hiệu quả chống lại các triệu chứng của COVID-19 là 63%, và những người tham gia thử nghiệm được tiêm 2 mũi tiêu chuẩn và theo dõi trong thời gian từ 4 đến 12 tuần. Trong giai đoạn này, Anh, Brazil và Châu Phi đều phải trải qua những đợt bùng dịch lớn, số ca mắc mới ở các nước này tăng từ 15,000 – 68,000 ca một ngày (23). Đến ngày 8 tháng 4 năm 2021, dữ liệu bổ sung từ các phân tích tạm thời về thử nghiệm giai đoạn 3 do AstraZeneca thực hiện ở Hoa Kỳ được cung cấp cho SAGE. Dữ liệu cho cuộc thử nghiệm được tính đến ngày 5/3/2021.
Cuộc thử nghiệm này có 32 449 người tham gia, với 22% người từ 65 tuổi trở lên. Các tác dụng phụ được báo cáo thường xuyên nhất là căng cơ chỗ tiêm, đau chỗ tiêm, nhức đầu, mệt mỏi, đau cơ, khó chịu, sốt (bao gồm cả sốt nhẹ và sốt cao), ớn lạnh, đau khớp và buồn nôn.