ĐẶT VẤN ĐỀ Tiêm là một kỹ thuật có vai trò rất quan trọng trong công tác khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, vì thế tiêm không đúng kỹ thuật có thể gây ra những nguy cơ có hại đối với cơ thể con ngƣời nói chung và ngƣời bệnh nói riêng, đối với nhân viên y tế (NVYT) và cộng đồng. Theo báo cáo của WHO, mỗi năm có khoảng 16 tỷ mũi tiêm đƣợc thực hiện trên NB, trong đó 90-95% mũi tiêm nhằm mục đích điều trị, chỉ 5%-10% mũi tiêm dành cho dự phòng. Bất cứ một kỹ thuật đâm xuyên qua da nào, bao gồm cả tiêm đều có nguy cơ lây truyền tác nhân gây bệnh qua đƣờng máu nhƣ vi rút viêm gan hoặc HIV làm nguy hại đến cuộc sống của con ngƣời. Ƣớc tính tình trạng bệnh do tiêm không an toàn gây ra mỗi năm hàng triệu trƣờng hợp viêm gan B, viêm gan C và 260.000 trƣờng hợp nhiễm HIV (4).
Hậu quả do những mũi tiêm không an toàn tại các cơ sở y tế không những đã gây ra hậu quả làm ảnh hƣởng đến tính mạng, sức khỏe của ngƣời bệnh (NB) mà còn ảnh hƣởng đến NVYT và cả cộng đồng. Điều này cũng ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng khám-chữa bệnh và uy tín của ngành y tế. Tại các nƣớc đang phát triển, năm 2011 WHO đã thống kê tổng số mũi tiêm đƣợc đánh giá không an toàn là 50% (5). Trên toàn cầu, theo ƣớc tính trong một năm mỗi ngƣời đƣợc nhận 3-4 mũi tiêm.
Do đó tiêm không an toàn sẽ gây nguy cơ nhiễm các mầm bệnh lây truyền cho hàng nghìn triệu ngƣời (5). Tại Việt Nam từ năm 2000 giữa Bộ Y tế và Hội Điều dƣỡng Việt Nam đã có sự phối hợp trong kế hoạch phát động triển khai “Tiêm an toàn” trên cả nƣớc. Qua một thời gian triển khai Hội Điều dƣỡng Việt Nam đã lần lƣợt tiến hành nghiên cứu đánh giá sự tuân thủ các quy định “Tiêm an toàn” vào những năm 2002, 2005, 2008. Kết quả đánh giá cho thấy tỷ lệ NVYT chƣa cập nhật thông tin về tiêm an toàn (TAT) liên quan đến kiểm soát nhiễm khuẩn là 55% và hầu hết NVYT chƣa thực hiện đúng quy trình kỹ thuật cũng nhƣ các bƣớc kiểm soát nhiễm khuẩn trong quy trình (4).
Vì vậy, trƣớc thực trạng đó, Bộ Y tế đã ban hành Hƣớng dẫn TAT tại Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 nhằm cung cấp những 2 kiến thức và kỹ năng trong thực hành TAT để triển khai áp dụng thống nhất trong tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (KBCB), cơ sở đào tạo cán bộ y tế và các cá nhân liên quan (4). Tại Trung tâm Y tế (TTYT) thị xã Sông Cầu chƣa thành lập đoàn kiểm tra giám sát công tác TAT thƣờng xuyên, cũng nhƣ chƣa nâng cao tinh thần trách nhiệm của điều dƣỡng đối với công việc nói chung và TAT nói riêng cùng với đó yêu cầu của NB về chất lƣợng dịch vụ ngày càng cao do đó TAT cần đƣợc chú trọng để góp phần nâng cao chất lƣợng dịch vụ đáp ứng đƣợc sự hài lòng NB. Để có thể cải thiện thực hành TAT của điều dƣỡng tại TTYT thị xã Sông Cầu và có một nghiên cứu cụ thể về các yếu tố ảnh hƣởng đến TAT, chúng tôi nhận thấy cần thực hiện nghiên cứu đề tài “Thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại Trung tâm Y tế thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên năm 2021”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Đánh giá thực hành tiêm an toàn của Điều dƣỡng các khoa lâm sàng tại Trung tâm Y tế thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên năm 2021. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực hành tiêm an toàn của Điều dƣỡng các khoa lâm sàng tại Trung tâm Y tế thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên năm 2021. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu Tiêm: Là kỹ thuật đƣa thuốc, dịch hoặc chất dinh dƣỡng và một số chất khác (Iốt đồng vị phóng xạ chất màu) qua da vào trong cơ thể để phục vụ chẩn đoán và điều trị.
Có nhiều loại đƣờng tiêm và đƣợc phân loại theo vị trí tiêm (ví dụ tiêm trong da dƣới da bắp tĩnh mạch trong xƣơng động mạch màng bụng (2). Tiêm an toàn: TAT là quy trình tiêm không gây nguy hại cho ngƣời nhận mũi tiêm, không gây phơi nhiễm cho ngƣời thực hiện mũi tiêm và không tạo chất thải nguy hại cho ngƣời khác và cộng đồng (2). Mũi tiêm không an toàn Mũi tiêm không an toàn trong nghiên cứu là mũi tiêm có từ một tiêu chí thực hành không đạt trở lên bao gồm những đặc tính sau: dùng bơm tiêm, kim tiêm (BKT) không vô khuẩn, tiêm không đúng thuốc theo chỉ định; không thực hiện đúng các bƣớc của quy trình tiêm; các chất thải, đặc biệt là chất thải sắc nhọn sau khi tiêm không phân loại và cô lập ngay theo quy chế quản lý chất thải của Bộ Y tế (6). Phƣơng tiện phòng hộ cá nhân: Phƣơng tiện phòng hộ cá nhân bao gồm găng tay, khẩu trang, áo khoác phòng thí nghiệm, áo choàng, tạp dề, bao giày, kính bảo hộ, kính có tấm chắn bên, mặt nạ.
Mục đích sử dụng phƣơng tiện phòng hộ cá nhân là để bảo vệ NVYT, NB, ngƣời nhà NB và NVYT khỏi bị nguy cơ phơi nhiễm và hạn chế phát tán mầm bệnh ra môi trƣờng bên ngoài. WHO không khuyến cáo sử dụng khẩu trang, găng tay, kính bảo vệ mắt, quần áo bảo vệ trong thực hiện tiêm. Các phƣơng tiện phòng hộ cá nhân này chỉ sử dụng trong trƣờng hợp ngƣời tiêm có nguy cơ phơi nhiễm với máu, dịch tiết, chất tiết (trừ mồ hôi) (6). Tiêm bắp: Đƣa mũi tiêm vào phần thân của cơ bắp với góc kim từ 60 0 - 900 so với mặt da thƣờng chọn các vị trí sau (3), (4): 5 - Cánh tay: 1/3 trên mặt trƣớc ngoài cánh tay; - Vùng đùi: 1/3 giữa mặt trƣớc ngoài đùi; - Vùng mông: 1/4 trên ngoài mông hoặc 1/3 trên ngoài đƣờng nối gai chậu trƣớc trên với mõm xƣơng cụt.
* Kỹ thuật tiêm: - Căng da, đƣa kim góc 600- 900. - Rút nhẹ nòng kiểm tra. - Thực hiện 2 nhanh 1 chậm Tiêm tĩnh mạch: Là kỹ thuật dùng kim đƣa thuốc vào tĩnh mạch với góc tiêm 300 so với mặt da. Khi tiêm cần chú ý chọn tĩnh mạch thẳng, nổi rõ, mềm mại, da vùng tiêm nguyên vẹn (3).
Bơm kim tiêm vô khuẩn: là bơm tiêm dùng một lần đã đƣợc tiệt khuẩn và còn hạn sử dụng, đƣợc đựng trong bì nguyên vẹn, kim tiêm không chạm vào đồ vật hoặc tay trƣớc khi tiêm cho NB. Bơm tiêm và kích cỡ kim phù hợp với đƣờng tiêm nhƣ sau (3): - Tiêm bắp: Bơm tiêm 5ml kim số 21-23G dài 2,5 - 4,0 cm. - Tiêm tĩnh mạch: Bơm tiêm 5ml 10ml 20ml kim số 19-23G dài 2,5 - 4,0cm. Kỹ thuật vô khuẩn: là các kỹ thuật không làm phát sinh sự phát tán của vi khuẩn trong quá trình thực hiện: vệ sinh tay, bơm tiêm sử dụng 1 lần, lấy thuốc đúng kỹ thuật, không lƣu kim trên lọ thuốc đa liều (2).
Vệ sinh tay: Là một thuật ngữ chung để chỉ hoặc rửa tay bằng xà phòng thƣờng, rửa tay bằng xà phòng khử khuẩn hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn (4). Xà phòng khử khuẩn: Là xà phòng ở dạng bánh hoặc dung dịch có chứa chất khử khuẩn (4). Xà phòng thƣờng: Là hợp chất có hoạt tính làm sạch, không chứa chất khử khuẩn (4). Xử lý các vật sắc nhọn sau khi tiêm: Phân loại chất thải ngay tại nguồn, cô lập ngay các vật sắc nhọn vào hộp kháng thủng đúng chuẩn, không uốn cong và bẻ cong kim (7, 8).
6 Hộp đựng chất thải sắc nhọn: Còn có tên gọi khác là “Hộp an toàn” “Hộp kháng thủng”. Hộp đựng chất thải sắt nhọn đƣợc sản xuất bằng chất liệu cứng, chống thủng, chống rò rỉ đƣợc thiết kế để chứa chất thải sắt nhọn một cách an toàn trong quá trình thu gom, hủy bỏ và tiêu hủy. Hộp này phải đƣợc thiết kế và quản lý theo đúng Quy chế Quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế (4). Thực hiện mũi tiêm an toàn theo quy định 5 đúng (9) + Đúng NB.
+ Đúng liều lƣợng. + Đúng đƣờng tiêm. + Đúng thời gian. Phản vệ: là mức độ nặng nhất của phản vệ do đột ngột giãn toàn bộ hệ thống mạch và co thắt phế quản có thể gây tử vong trong vòng một vài phút (10).
Thành phần hộp thuốc cấp cứu phản vệ STT Nội dung Đơn vị Số lƣợng Phác đồ, sơ đồ xử trí cấp cứu phản vệ (Phụ lục III, 1 bản 01 Phụ lục X) Bơm kim tiêm vô khuẩn - Loại 10ml cái 02 2 - Loại 5ml cái 02 - Loại 1ml cái 02 - Kim tiêm 14-16G cái 02 3 Bông tiệt trùng tẩm cồn gói/hộp 01 4 Dây garo cái 02 5 Adrenalin 1mg/1ml ống 05 6 Methylprednisolon 40mg lọ 02 7 Diphenhydramin 10mg ống 05 8 Nƣớc cất 10ml ống 03 7 1. Một số nội dung cập nhật trong Hướng dẫn Tiêm an toàn 1. Giảm hoặc loại bỏ những mũi tiêm không cần thiết Tiến hành các biện pháp nhằm giảm thiểu và loại bỏ tình trạng lạm dụng tiêm tại các cơ sở y tế, bằng các biện pháp: Giám sát việc kê đơn thuốc cho NB theo đúng quy định của thông tƣ 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 về việc Hƣớng dẫn sử dụng thuốc trong cơ sở khám, chữa bệnh, thực hiện nhiều hình thức tuyên truyền về tác hại lạm dụng tiêm và tiêm không an toàn (4).2 Bảo đảm đầy đủ các phương tiện, dụng cụ, thuốc cho kỹ thuật tiêm Trang bị đầy đủ các phƣơng tiện vệ sinh tay nhƣ lắp đặt các bồn rửa tay tại các vị trí thuận tiện, cung cấp đủ dung dịch rửa tay, nƣớc, khăn lau tay sạch cho mỗi lần rửa tay hoặc dung dịch sát khuẩn tay nhanh đƣợc đặt trên các xe tiêm. Khuyến khích cung cấp gạc miếng tẩm cồn dùng một lần thay thế hộp chứa cồn nhƣ hiện nay.
Các phƣơng tiện thu gom chất thải sau tiêm theo đúng quy định tại Thông tƣ 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế - Bộ Tài nguyên và môi trƣờng ban hành Quy định quản lý chất thải y tế (11).3 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát Tăng cƣờng công tác kiểm tra, giám sát của Điều dƣỡng trƣởng và mạng lƣới kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) về tuân thủ vệ sinh tay, tuân thủ quy trình tiêm, truyền dịch và KSNK.