ĐẶT VẤN ĐỀ SVTH: NGUYỄN THỊ TRÚC LY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 2 GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH TS. NGUYỄN TẤN PHÁT Trong những năm gần đây, vấn đề sức khỏe ngày càng được quan tâm đặc biệt là trong điều trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn, vi nấm gây ra. albicans là mầm bệnh đa kháng thuốc mới được tìm thấy ở các vị trí giải phẫu của người khỏe mạnh, gây nhiễm trùng toàn thân và bề mặt trong điều kiện môi trường tối ưu (Federico và cs.
albicans là một trong những vi nấm gây bệnh nguy hiểm nhất ở người, chiếm 6,8% các bệnh gây nhiễm trùng ở những bệnh nhân bị ức chế miễn dịch (Mohamed và cs. Ở hệ tiêu hóa và miệng, C. albicans chiếm khoảng 40-60% ở người lớn khỏe mạnh (Odds, 1988). albicans là tác nhân gây bệnh ở da, móng và niêm mạc.
Vi nấm có thể xâm nhập vào máu và các cơ quan gây nhiễm khuẩn huyết và bệnh nấm nội tạng rất nguy hiểm (Maheshwari và cs. Nấm gây bệnh ngày càng trở thành một vấn đề lớn và khó kiểm soát, làm phá vỡ hệ vi sinh vật, giảm khả năng miễn dịch (Sirirak và cs. Hiện nay, với sự phát triển của y học, thực vật được xem là nguồn thảo dược thay thế lý tưởng vì mức độ an toàn, ít tác dụng phụ và ít có nguy cơ gây ra sự kháng thuốc (Raskin và cs. Chiết xuất các thành phần có trong thực vật và chế phẩm thảo dược có đặc tính kháng khuẩn, kháng nấm có ý nghĩa lớn trong các phương pháp điều trị (Sasidharan và cs.
Các loài thực vật này dễ tìm trong tự nhiên do đó đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu hóa sinh và y dược học trong nước cũng như trên thế giới (Đỗ Tất Lợi, 2006). Sâm đại hành (Eleutherine subaphylla Gagnep.) là một dược liệu phổ biến ở Việt Nam, có nhiều tác dụng dược lý trong đó có điều trị mụn nhọt, viêm da, lở ngứa, vảy nến. Nghiên cứu này đánh giá hoạt tính kháng vi nấm gây bệnh của cao chiết từ củ sâm đại hành (Insanua và cs. Một số nghiên cứu trước đây đã cho thấy rằng, sâm đại hành được sử dụng làm thuốc chống ung thư trong y học dân gian, tăng huyết áp, giảm cholesterol, điều trị các bệnh về da ở người (Padhi và cs.
SVTH: NGUYỄN THỊ TRÚC LY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 3 GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH TS. NGUYỄN TẤN PHÁT Chiết xuất dichloromethane từ củ của Eleutherine bulbosa (Miller) cho thấy hoạt động kháng nấm Cladosporium sphaerospermum mạnh (Alves và cs. Cao chiết bằng ethanol của củ Eleutherine americana có khả năng kháng với tất cả 6 chủng Gram dương thử nghiệm (đường kính vòng kháng khuẩn từ 13-20 mm), kháng 1 trong 7 Gram âm thử nghiệm và các chủng nấm Aspergillus niger, Rhizopus spp., tuy nhiên không kháng lại các chủng nấm da (Ifesan và cs.
Keuk-Jun và cộng sự (2008), đã nghiên cứu tác dụng chống nấm của các hạt nano-bạc. Cho thấy các hạt nano-bạc có tác dụng chống nấm, làm tan máu chống lại hồng cầu của người. Sử dụng dòng chảy tế bào học để phân tích, lượng glucose được giải phóng và sự thay đổi của màng động lực học 1,6-diphenyl-1,3,5- hexatriene (DPH) như một đầu dò plasma, được thực hiện dựa trên vi nấm C. albicans (Keuk-Jun và cs.
Theo nghiên cứu của Wahyuni và cộng sự (2016), chiết xuất của Eleutherine palmifolia từ dung môi ethanol 70% và nước có tác dụng ức chế C. Hoạt tính kháng nấm được thực hiện bằng phương pháp giếng thạch và cho kết quả khả năng ức chế của mỗi chiết xuất là 65,44% và 54,78% (Wahyuni và cs. Mặc dù, sâm đại hành đã được sử dụng trong y học cổ truyền từ rất lâu nhưng hiện nay trong nước các nghiên cứu, bài báo khoa học về khả năng chữa bệnh trong các bộ phận của cây sâm đại hành còn rất hạn chế cũng như còn khá ít các nghiên cứu về khả năng kháng nấm da của cao chiết sâm đại hành. Do đó, tôi tiến hành khảo sát khả năng kháng C.
albicans từ các phân đoạn của cao ethyl acetate đồng thời phân lập và tinh chế các hợp chất có hoạt tính sinh học nói trên. Chính vì thế, chúng tôi thực hiện đề tài “PHÂN LẬP VÀ TINH CHẾ HỢP CHẤT CÓ KHẢ NĂNG KHÁNG Candida albicans TỪ CAO CHIẾT ETHYL ACETATE CỦA SÂM ĐẠI HÀNH (Eleutherine subaphylla Gagnep. SVTH: NGUYỄN THỊ TRÚC LY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 4 GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH TS.
NGUYỄN TẤN PHÁT Mục tiêu: Phân lập và tinh chế hợp chất có khả năng kháng Candida albicans của cao chiết ethyl acetate từ sâm đại hành (Eleutherine subaphylla Gagnep. Nội dung: − Thu nhận cao chiết sâm đại hành bằng dung môi ethyl acetate. − Đánh giá giới hạn nhiễm khuẩn của cao chiết. − Điều chế các phân đoạn cao ethyl acetate bằng phương pháp sắc kí cột.
− Khảo sát khả năng kháng C. albicans của các phân đoạn cao ethyl acetate. − Xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao chiết với C. − Khảo sát khả năng kháng C.
albicans của các hợp chất thu nhận được bằng phương pháp tự sinh đồ. − Khảo sát cao phân đoạn bằng phương pháp sắc kí bản mỏng (TLC). − Phân lập và tinh chế hợp chất có khả năng kháng C. SVTH: NGUYỄN THỊ TRÚC LY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 5 GVHD: ThS.
DƯƠNG NHẬT LINH TS. NGUYỄN TẤN PHÁT PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: NGUYỄN THỊ TRÚC LY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 6 GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH TS. NGUYỄN TẤN PHÁT 1.
SƠ LƯỢC VỀ CÂY SÂM ĐẠI HÀNH (Eleutherine subaphylla Gagnep. Phân loại khoa học Giới: Plantae Ngành: Angiospermae Lớp: Monocots Bộ: Asparagales Họ: Iridaceae (họ La dơn) Chi: Eleutherine Loài: Eleutherine subaphylla Hình 1. Cây sâm đại hành Gagnep. (Eleutherine subaphylla Gagnep.com/vithuoc/samdaihanh.htm) Tên khoa học: Eleutherine subaphylla Gagnep.
Tên đồng nghĩa: Eleutherine bulbosa (Mill. Còn gọi là: tỏi lào, sâm cau, sâm đại hành, hành lào (Hòa Bình), tỏi mọi, kiệu đỏ, cỏ nhọt (Lào), phong nhan, hom búa lượt (Thái). Người ta dùng củ tươi hay phơi hoặc sấy khô của cây sâm đại hành làm thuốc với tên khoa học Bul-bus Eleutherine subaphylla (Đỗ Tất Lợi, 2006). Đặc điểm hình thái Sâm đại hành là một loại cây cỏ sống lâu năm, cao từ 30-60 cm, dò (củ) hình trứng dài 4-5 cm, đường kính 2-3 cm giống như củ hành nhưng dài hơn, ngoài phủ vảy màu đỏ nâu, phía trong màu nâu hồng đến đỏ nâu.
Lá hình mác, gân lá song song, chạy dọc, trong giống như lá cau non, củ lại có tác dụng bổ cho nên có tên sâm cau (lá như lá cau, bổ như sâm), lá có thể dài 40-50 cm, rộng 3-5 cm. Từ củ SVTH: NGUYỄN THỊ TRÚC LY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 7 GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH TS. NGUYỄN TẤN PHÁT mọc lên một cán mang hoa dài 30-40 cm, trên cán có một lá dài 15-25 cm, hoa mọc thành chùm 3 lá đài, 3 cánh tràng màu trắng hay vàng nhạt, 3 nhị màu vàng.
Bầu hình trứng, 3 cạnh 3 ngăn dài 1 mm, vòi dài 2,5 mm, trên xẻ thành 3 trông như 3 mũi dùi (Đỗ Tất Lợi, 2006). Phân bố, thu hái và chế biến Sâm đại hành mọc hoang và được trồng lấy củ (dò) làm thuốc tại nhiều nơi như Hà Tây, Hòa Bình, Nghĩa Lộ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đà Nẵng, Hà Nội cũng có một số nhà trồng. Trồng sâm đại hành rất đơn giản: chỉ việc dùng củ vùi xuống đất như trồng hành, trồng tỏi. Mùa hoa: tháng 4-6.
Khi thu hoạch, đào lấy củ về, rửa sạch, bóc lớp vỏ bên ngoài, thái mỏng dùng tươi hoặc phơi hay sấy khô, rồi để nguyên hay tán bột mà dùng. Nó có vị đắng, mùi hơi hắc (Đỗ Tất Lợi, 2006). Thành phần hóa học Năm 1975, Bianchi và cộng sự đã cô lập từ cây sâm đại hành hai hợp chất là eleutherin và eleutherol (Bianchi và cs. Năm 1982, từ sâm đại hành người ta đã phân lập được một anthraquinon mới là anthracene-9,10-dione-1,5-diol-4-methoxy-3-methyl-2-cacboxylic acid methyl ester (Weniger B và cs.
Công thức hóa học của eleutherol và anthracene-9,10-dione-1,5-diol- 4-methoxy-3-methyl-2-cacboxylic acid methyl ester SVTH: NGUYỄN THỊ TRÚC LY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 8 GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH TS. NGUYỄN TẤN PHÁT Dựa theo thành phần hóa học đã được nghiên cứu của cây Eleutherine bulbosa Mill. Lê Văn Hồng và Nguyễn Văn Đàn (1973) đã tiến hành nghiên cứu củ sâm đại hành đã chiết và xác định được 4 chất là eleutherin C16H16O4 độ chảy 175o, izoeleutherin C16H16O4 độ chảy 177o, eleutherola C14H12O4 độ chảy 202-203o và một chất chưa xác định được đặt tên là Ex.
Sắc kí lớp mỏng của dịch chiết còn cho biết có 16 vết trong đó 9 vết màu vàng đậm nhạt khác nhau, 6 vết phát quang lơ và một vết màu hồng nhạt. Cả 3 hoạt chất đều có tác dụng kháng sinh đối với chủng S. aureus (Lê Văn Hồng, Nguyễn Văn Đàn. Theo một công bố mới và đầy đủ nhất năm 2010 về thành phần hóa học của cây sâm đại hành, 4 hợp chất polyketit mới được phân lập gồm (R)-4-hydroxy eleutherin, eleuthone, eleutherinol-8-O-D-glucoside và isoeleuthoside C (dihydroisoeleutherin-5-O-D-gentiobioside) cùng với các chất đã được phân lập trước đó gồm eleutherin, isoeleutherin, eleutherinol, eleutherol, eleuthoside B (eleutherol-4-O-D-gentiobioside), eleuthoside C (dihydroeleutherin-5-O- Dgentiobioside), elecanacin và hongconin (4-oxodihydroisoeleutherin).
SVTH: NGUYỄN THỊ TRÚC LY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 9 GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH TS. NGUYỄN TẤN PHÁT Hình 1. Công thức hóa học của (R)-4-hydroxy eleutherin, eleuthone, eleutherinol-8-O-D-glucoside, isoeleuthoside C, eleutherinol, eleuthoside B, eleuthoside C, elecanacin và hongconin 1.
Tác dụng dược lý Tác dụng kháng sinh: dịch chiết sâm đại hành tẩm giấy có đường kính 10 mm đặt trên thạch có cấy vi khuẩn có tác dụng hạn chế sinh sản của vi khuẩn D. hemopyticus, Staphylococcus spp. Tác dụng yếu hơn đối với Shigella flexneri, Shiga spp., Bacillus mycoides, Bacillus anthracis. Không có tác dụng đối với E.
Tác dụng chống viêm: làm giảm phản ứng phù thực nghiệm trên chân chuột (thí nghiệm so sánh với hydrocortisone thấy gần tương tự). Sâm đại hành còn được một số nước trên thế giới sử dụng làm thuốc diệt giun sán, thuốc chữa các bệnh về kinh nguyệt, các bệnh rối loạn hay nhiễm khuẩn đường ruột và làm thuốc chống sinh sản quá nhanh và đẻ non (Paramapojna và cs. Công dụng Sâm đại hành được dùng làm: thuốc bổ máu chữa thiếu máu, vàng da, xanh xao, hoa mắt, choáng váng, nhức đầu, mệt mỏi. Thuốc cầm máu dùng trong băng huyết, ho ra máu, bị thương chảy máu (dùng củ tươi, giã đắp).
Còn dùng chữa ho gà, viêm họng, mụn nhọt, chốc lở. Ở Indonesia, rễ sâm đại hành được dùng theo kinh nghiệm dân gian làm thuốc lợi tiểu, trị lỵ, viêm và sa trực tràng. Ở Philippines, người dân dùng rễ củ giã nát SVTH: NGUYỄN THỊ TRÚC LY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 10 GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH TS.
NGUYỄN TẤN PHÁT đắp lên vết cắn của cá độc, để nhổ gai ở chân, và đắp vào vết đốt của sâu bọ, vết thương, nhọt. Rễ củ nướng, giã nát, xát vào bụng chữa đau bụng.