CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: LÊ THỊ TRÚC LINH Trang 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD 1: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH GVHD 2: TS. NGUYỄN TẤN PHÁT 1.
Tổng quan về vi khuẩn Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA) 1. Phân loại Staphylococcus aureus. Theo Buchanan và Gibbons (1994), Staphylococcus aureus được phân loại như sau: Giới Eubacteria Ngành Fimicute Lớp Bacilli Bộ Bacillales Họ Staphylococcaceae Chi Staphylococcus Loài Staphylococcus aureus Hình 1. Hình vi thể của S.aureus (https://www.com/jesslyn08/micro/) 1.
Tình hình nghiên cứu MRSA trên thế giới và Việt Nam ❖ Tình hình thế giới Trong số các loài Staphylococcus thì Staphylococcus aureus là loài thường gặp nhất, chúng thuộc nhóm cho phản ứng coagulase dương tính. Staphylococcus là những tế bào hình cầu Gram (+), đường kính 0,5-1,5 µm, có thể đứng riêng rẽ, từng đôi, bốn con, chuỗi ngắn (3-4 tế bào) hoặc chùm không theo một trật tự nào cả. Sự SVTH: LÊ THỊ TRÚC LINH Trang 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD 1: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH GVHD 2: TS.
NGUYỄN TẤN PHÁT hình thành chùm thường xảy ra trong quá trình vi khuẩn phát triển trên môi trường đặc, do kết quả của sự phân chia tế bào quá nhiều. Staphylococci không di động, không sinh nha bào, nang thì có mặt trong những tế bào còn non, nhưng biến mất khi tế bào ở giai đoạn pha ổn định. aureus kháng với nhiều loại kháng sinh khác nhau. Một vài loài kháng với tất cả các loại kháng sinh ngoại trừ vancomycin, và những loài này ngày càng tăng.
Methicilin-resistant Staphylococcus aureus (MRSA) rất phổ biến và hầu hết các dòng này cũng kháng với nhiều kháng sinh khác. Trong phòng thí nghiệm, người ta đã tìm thấy plasmid kháng vancomycin ở Enterococcus faecalis có thể chuyển sang S. aureus, và người ta nghĩ rằng việc chuyển này có thể xảy ra ngoài tự nhiên, trong đường tiêu hóa chẳng hạn. aureus còn kháng với chất khử trùng và chất tẩy uế (Kenneth Todar.
Các chủng MRSA mang gen mã hóa protein làm cho vi khuẩn kháng với hầu hết các kháng sinh nhóm β-lactam (như methicillin) ( Lee và cs. Tại Hà Lan, một quốc gia áp dụng chính sách 'tìm kiếm và tiêu diệt', một nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ 0,03% bệnh nhân là người mang MRSA. Hơn nữa, kiểu gen tiết lộ rằng hầu hết các chủng MRSA ở Hà Lan không liên quan đến nhau, và do đó việc nhiễm bệnh có lẽ không phải là kết quả của lây nhiễm (Wertheim và cs. MRSA là nguyên nhân chính gây nhiễm trùng da và mô mềm trong bệnh viện và cộng động ở những người khỏe mạnh khác.
Tần xuất tử vong hàng năm từ MRSA đang gia tăng nhanh chóng và vượt qua những bệnh nhây gây ra bởi virus suy giảm miễn dịch ở người/ hội chứng suy giảm miễn dịch mẵ phải (HIV/AIDS) (Bancroft và cs., 2007), từ năm 1995 đến 2005, số ca nhập viện liên quan đến nhiễm trùng MRSA tăng 119% hay 14% mỗi năm (Klein và cs., 2007), khoảng 1650 trường hợp nhiễm trùng dòng máu và 500 trường hợp tử vong hàng năm ở Úc (Turnidge và cs.000 người chết mỗi năm tại Hoa Kỳ (Dantes và cs., 2013) và một chi phí vượt quá hàng năm cho hệ thống chăm sóc sức khỏe của châu Âu là 380 triệu euro (Köck và cs. Các tình trạng liên quan đến việc nhiễm SVTH: LÊ THỊ TRÚC LINH Trang 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD 1: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH GVHD 2: TS. NGUYỄN TẤN PHÁT MRSA thường được báo cáo bao gồm: sốc nhiễm trùng (56%), viêm phổi (32%), viêm nội tâm mạc (19%), nhiễm khuẩn huyết (10%) và viêm mô tế bào (6%) (Carrol và cs.
Tỷ lệ nhiễm MRSA đã tăng lên trong 10 năm qua, với số lần xuất viện của bệnh nhân nhiễm trùng da và mô mềm do MRSA gây ra tăng gấp ba lần kể từ năm 2004 (Mera và cs. Methicillin, giống như tất cả các penicillin. Cơ chế đề kháng của S. aureus đối với methicillin là biến đổi protein bám penicillin (PBP), chịu trách nhiệm duy trì và hình thành vách tế bào vi khuẩn.
Các chủng MRSA đã thu được một loại protein mới, được gọi là PBP2a, không bị ảnh hưởng bởi methicillin và có thể thay thế các PBP khác, do đó cho phép S. aureus sống sót với sự hiện diện của methicillin. PBP2a được mã hóa bởi gen mec A, đây là dấu hiệu đặc trưng của MRSA. Trái ngược với gen penicillinase, mecA không cư trú trên một plasmid mà trên nhiễm sắc thể, được nhúng vào một yếu tố di truyền lớn có tên là Staphylococcal Chromosome Cassette mec hoặc SCC mec.
Sự hiện diện của PBP2a có nghĩa là MRSA không chỉ kháng với methicillin mà còn với tất cả các loại kháng sinh β-Lactam, bao gồm cả penicillin tổng hợp, cephalosporin và carbapenem (Katayama và cs. Hơn 50% các chủng MRSA kháng với các loại thuốc như macrolide, lincosamide, fluoroquinolones và aminoglycoside; và 30% kháng với trimethoprim-sulfamethoxazole (Archer, 1998). Harbarth và cộng sự (2001) đã nghiên cứu sự khác biệt trong dịch tễ học của vi khuẩn đa kháng tại Hoa Kỳ và Đức. Tỷ lệ kháng kháng sinh nói chung ở Đức thấp hơn ở Mỹ, nhưng không thấp hơn một số quốc gia châu Âu khác như Hà Lan.
Lý do cho sự khác biệt giữa Hoa Kỳ và Đức không rõ ràng, nhưng có thể liên quan đến sự khác biệt trong việc sử dụng phòng thí nghiệm để chẩn đoán nhiễm trùng và các quy trình thí nghiệm chính xác được sử dụng, cũng như sự khác biệt về dòng vô tính giữa các vi khuẩn lưu hành, thực hành kê đơn kháng sinh, sự khác biệt trong dân số bệnh nhân và các yếu tố văn hóa. Để nhấn mạnh về mối đe dọa tiềm tàng của MRSA gây ra cho hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Châu Phi, một báo cáo toàn cầu đầu tiên của SVTH: LÊ THỊ TRÚC LINH Trang 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD 1: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH GVHD 2: TS. NGUYỄN TẤN PHÁT WHO về kháng kháng sinh được công bố năm 2014 đã ghi nhận rằng, ở một số vùng của Châu Phi có đến 80% trường hợp nhiếm MRSA khiến việc điều trị bằng kháng sinh tiêu chuẩn không còn hiệu quả.
Điều này cho thấy tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn ngày càng diễn biến phức tạp. Để đối phó với tình hình kháng kháng sinh, nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu các sản phẩm tự nhiên có nguồn gốc từ thực vật cho các loại thuốc kháng sinh và phương pháp điều trị thay thế (Wang và cs.Vancomycin là kháng sinh được lựa chọn để điều trị nhiễm trùng MRSA. Tuy nhiên sự xuất hiện của S. aureus kháng vancomycin (VRSA) và vancomycin-trung gian S.aureus (VISA) đã khiến việc điều trị kháng khuẩn trở nên khó khăn.
Do đó, các hợp chất mới được điều chế để điều trị và kiểm soát nhiễm trùng bởi các vi sinh vật này đã được phát triển và nghiên cứu rộng rãi (Lora-Tamayo và cs. ❖ Tình hình ở Việt Nam Sự lây nhiễm MRSA dẫn đến nhiều ca tử vong ở các bệnh viện tại Việt Nam. MRSA là nguyên nhân chính gây ra nhiễm trùng da và mô mềm trong bệnh viện và cộng động ở những người khỏe mạnh khác. Các vi khuẩn này có thể sống ký sinh ở vùng da hoặc vùng tai - mũi - họng mà không gây ra bệnh.
Những người nhiễm MRSA được gọi là vật chủ. MRSA thường kéo theo sự đề kháng các kháng sinh khác là vì cơ chế đề kháng của S. aureus đối với methicillin là biến đổi protein bám penicillin (PBP) chỉ do một gen quy định (mecA) và kháng thuốc kiểu này là kháng thuốc một cấp, nghĩa là một khi đã đề kháng được methicillin thì vi khuẩn đề kháng được tất cả các kháng sinh - lactam và có thể kháng các kháng sinh khác nữa (Phạm Hùng Vân, 2005). Khảo sát tính chất chống đối kháng sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 cho thấy các chủng S.aureus phân lập từ bệnh phẩm cho thấy có đến 94,1% chủng kháng Penicillin, 52,9% kháng Ciprofloxacin, 52% kháng Amoxillin và 12,5% kháng Getamicin (Nguyễn Thị Kê và cs.
Điều này cho thấy tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn ngày càng diễn biến phức tạp. SVTH: LÊ THỊ TRÚC LINH Trang 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD 1: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH GVHD 2: TS. NGUYỄN TẤN PHÁT 1.
Tổng quan về cây diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus) 1. Phân loại khoa học Theo Đỗ Huy Bích và cộng sự (2004), Phyllanthus thuộc họ thầu dầu. Tên khoa học: Phyllanthus amarus. Tên thường gọi: cây chó đẻ, diệp hạ châu, rút đất, cam kiềm, trân châu thảo, diệp hòe thái, lào nha châu.
Theo Hemant Dhongade (1999), diệp hạ châu đắng được phân loại như sau Giới Plantae Ngành Angiospermae Lớp Dicotyledoneae Bộ Tubiflorae Họ Euphorbiaceae Chi Phyllanthus Loài Amarus Schum.et Thom Hình 1. Cây diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus) (http://tropical.php?id=Phyllanthus+amarus) 1. Đặc điểm hình thái và phân bố Diệp hạ châu đắng là một loại cây thảo, sống quanh năm, cao 20-30 cm, có thể lên đến 60-70 cm, thân nhẵn, có màu xanh. Lá đơn, mọc so le, xếp thành 2 dãy, mỗi cành giống như một lá kép lông chim gồm nhiều lá.
Phiến lá hình bầu dục đầu tròn có mũi nhọn, màu xanh lục, đậm ở mặt trên, nhạt ở mặt dưới. Hoa mọc ở kẽ lá, SVTH: LÊ THỊ TRÚC LINH Trang 9 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD 1: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH GVHD 2: TS. NGUYỄN TẤN PHÁT quả nang, hình cầu, hơi dẹt, mọc rủ xuống ở dưới lá, mùa hoa: tháng 4-6, mùa quả: tháng 7-9.
có nhiều loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam, chi này có khoảng 40 loài, trong đó đáng chú ý là hai loài P.amarus có hình dáng gần giống nhau nhưng P.amarus thân có màu xanh, quả nang nhẵn, có tên gọi là diệp hạ châu đắng, còn P. urinaria thân có màu đỏ, quả nang có gai, có tên gọi là diệp hạ châu ngọt hay cây chó đẻ răng cưa. Cả hai loài này mọc rải rác ở khắp nơi,phân bố khắp các vùng nhiệt đới.
Ở Việt Nam, cây mọc hoang trên đất ẩm, ở khắp các địa phương trừ vùng núi cao, lạnh. Diệp hạ châu đắng là cây ưa ẩm, ưa sáng và hơi chịu bóng, thường mọc lẫn trong các bầu cỏ, ruộng cao, nương rẫy và vườn nhà,.Cây non mọc từ hạt vào cuối mùa xuân, sinh trưởng nhanh vào mùa hè và tàn lụi vào giữa mùa thu nêncây thường được thu hái vào cuối mùa hè vì trong thời gian này cây đã sinh trưởng, phát triển đầy đủ và chứa lượng hoạt chất cao nhất (Đỗ Huy Bích và cs. Lá và hoa diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus) 1. Thành phần hóa học Theo Đỗ Huy Bích và cộng sự (2004), Phyllanthus chứa nhiều chất thuộc các nhóm hóa học: - Triterpen (stigmasterol, stigmasterol-3-0-β glucosid, β-sitosterol, β- sitosterol glucosid, lup-20-en-3 β-ol), flavonoid (kaempferol, quercetin, SVTH: LÊ THỊ TRÚC LINH Trang 10 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD 1: ThS.
DƯƠNG NHẬT LINH GVHD 2: TS.