Đặt vấn đề Việt Nam với khí hậu nhiệt đới nóng ầm, đất đai màu mỡ tạo là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển của nền nông nghiệp với quy mô lớn, đa dạng về các loại cây trồng và vật nuôi. Tuy nhiên, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho các loại sâu hại và nắm bệnh phát triển, gây ton thất nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng nông sản. Thuốc bảo vệ thực vật hóa học đã và đang được xem là phương pháp hiệu quả nhất trong việc phòng trừ dịch hại trên cây trồng do đễ áp dụng, có hiệu quả nhanh và giá thành rẻ. Tuy nhiên, các biện pháp phòng trừ dịch hại hóa học đã nhanh chóng bộc lộ nhiều nhược điểm như làm tăng tính kháng thuốc đối với các loại sâu bệnh, dư lượng thuốc BVTV trên nông sản, tồn dư trong đất và còn còn lưu dẫn vào mạch nước ngầm làm gây ô nhiễm môi trường, gây ra các ảnh hưởng nghiêm trọng với sức khỏe người tiêu dùng, các sinh vật có ích, gây mat cân bang sinh thái.
Vì vậy, can tìm ra một phương pháp phòng trừ dịch hại mới thân thiện với môi trường là các biện pháp có nguồn gốc hữu cơ như: dùng thiên địch, các chủng vi sinh vật đối kháng và các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hữu cơ phổ biến là hoạt chat thứ cấp chiết xuất có nguồn gốc thực vật, vi sinh vật. Trên thế giới hiện nay đang có xu hướng nghiên cứu và sử dụng các hợp chất thiên nhiên có nguồn gốc từ thực vật, có tính kháng vi sinh vật gây bệnh và đặc biệt có độ an toàn cao, từ đó tạo ra các chế phẩm sinh học có khả năng phòng trừ các loại dịch hại trên cây trồng. Cây cỏ hôi (A. conyzoides) là một loại thảo mộc được ứng dung lâu đời trong y học cô truyền ở nhiều quốc gia trên thế giới, nó được xem là loài cỏ dại phân bố khắp mọi nơi nhờ có sự phát triển mạnh mẽ và kháng sâu bệnh cao.
Nhờ có chứa các hoạt chất thứ cấp như alkaloid, flavonoid, polyphenol, saponin và nhiều loại hoạt chất khác mà A. conyzoides có tiềm năng ứng dụng tạo thuốc phòng trừ các loại nam gây bệnh trên cây trồng như Aspergillus niger (gây bệnh thối gốc, chết cây con và một số loại bệnh thối trên rau quả sau thu hoạch), Fusarium oxysporum (gây bệnh héo rũ trên cây), Phytophthora sp. Nghiên cứu này sử dụng dịch chiết từ cây cỏ hôi (A. conyzoides) khảo sát tác động lên ba loại nam trên, qua đó triển vọng ứng dụng tạo thuốc bảo vệ thực vật sinh học có khả năng kháng z A nam.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá hoạt tính kháng nam (Aspergillus niger, Fusarium oxysporum, Phytophthora sp.) của dịch chiết cây cỏ hôi định hướng ứng dụng làm thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Nghiên cứu phương pháp tách chiết và phân tích định lượng các hợp chât có trong cây cỏ hôi. Nội dung 2: Đánh giá hoạt tính kháng một số chủng nắm gây bệnh trên môi trường thạch đĩa. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Giới thiệu về cây cỏ hôi (Ageratum conyzoides L. Phân loại thực vật Theo trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam, cỏ hôi được phân loại như sau: Tên Khoa học: Ageratum conyzoides L. Gidi: Plantea (Thuc vat) Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Asterales Họ: Asteraceae lau '4g,/Gin) Hình 2. Cây cỏ hôi.
conyzoides Cây cỏ hôi (A. conyzoides), con gọi là cây hoa ngũ vi, cây cut lợn là một loại cây thuộc họ Cúc. Cỏ hôi được xem là một loài cỏ dại xâm lẫn nhưng có giá trị lớn về y học. Đặc điểm phân bố Cỏ hôi phát triển nhanh, thích ứng tốt với môi trường và thường mọc thành cụm ở ven đường, đầm lầy, quanh các bờ ruộng.
Cây có nguồn gốc ở các nước nhiệt đới châu Mỹ, phát tán tự nhiên vào nhiều nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia,. Ở nước ta, cỏ hôi mọc phô biến ở nhiều nơi từ Lào Cai, Ninh Bình đến các tỉnh đồng bằng khắp cả nước. Đặc điểm thực vật học Ageratum conyzoides L. là loại cây thân thảo nhiệt đới, có mùi hôi, mọc hằng năm, cao khoảng 25 - 50 cm.
Thân cây hình trụ, phân nhánh, có màu xanh lục ở những cây non nhưng theo thời gian khi trưởng thành sẽ chuyên sang màu nâu. Cuống lá hình bầu dục, rộng khoảng 5 — 50 mm và dài 20 — 100 mm. Lá đơn mọc đối, hình trứng, có gân 3 nôi rõ, mép lá có răng cưa tròn, toàn thân và lá được phủ một lớp lông mịn màu trăng. Hoa có màu tím hoặc trang, mọc thành cụm, môi ngọn mang khoảng 4-18 dau hoa.
Quả có các múi màu đen, có lông và có gai hướng lên. Cây ra hoa quanh năm và có khả năng phát tán xa, giúp cây duy trì và phát triển rộng rãi (Chahal và ctv, 2021). Các hợp chat sinh học có trong cây cỏ hôi Cây cỏ hôi chứa nhiều hợp chất thứ cấp như: tinh dau, alkaloid, polyphenol, flavonoid, saponin,. Tinh dau Tinh dau là một dang chat lỏng chứa các hợp chất thơm dé bay hơi được chiết xuất bằng cách chưng cất và lôi cuốn hơi nước từ các bộ phận của thực vật.
Nhiều nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn của tinh dầu đã được công bó. Hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu là do sự hiện diện của một số phenol, terpen và aldoketones. Tinh dau có chứa các thành phần kháng khuẩn tự nhiên dé bảo vệ thực vat chống lại các tác động từ côn trùng, nam, vi sinh vat,. Alkaloids Alkaloids là một nhóm hợp chất hóa học tự nhiên.
Chúng được sử dụng trong quá trình chuyên hóa và trao đổi chat ở một số sinh vat. Các chất liên quan đến alkaloid như serotoin, dopamin và histamin là những chất dẫn truyền thần kinh quan trọng ở động vật. Đối với thực vật, alkaloid có tác dụng điều hòa sự phát triển của thực vật. Ngoài ra, một số nghiên cứu chỉ ra rằng alkaloids thực vật có khả năng ức chế một số sinh vật gây hại tác động lên cây.
Trong y học, khi những alkaloid đầu tiên được phân lập vào thé ki 19, chúng ngay lập tức được ứng dụng trong thực hành lâm sàng. Từ đó đến nay, nhiều loại thuốc tổng hợp và bán tổng hợp là những biến đổi cau trúc của alkaloid, được thiết kế dé tăng cường hoặc thay đôi các tác dụng chính của thuốc và giảm tác dụng phụ không mong muốn (Babbar, 2015). Hai isomeric pyrrolizidin alkaloid được phân lập từ cây cỏ hôi là lycopsamin và echinatin (Nguyễn Thị Kim Liên, 2018). Polyphenol Polyphenol là một nhóm đa dạng các hợp chất xuất hiện trong tự nhiên, chúng thường được tìm thấy ở các nhóm thực vật bậc cao.
Các polyphenol tự nhiên được biết 4 là có nhiều hoạt tinh sinh học. Chúng có tiềm năng dé sử dụng làm thuốc dé chữa các bệnh như AIDS, nhiễm trùng do vi khuẩn và rối loạn thần kinh (Handique và Baruah, 2002). Polyphenol đảm nhận rất nhiều vai trò sinh ly ở thực vật, giúp cây chống chịu trước tác động của môi trường như nhiệt độ thấp, mầm bệnh, thiếu chất dinh dưỡng. Khái niệm “phenol thực vật” bao gồm một nhóm rat đa dạng với sự đa dạng cấu trúc cực kì lớn.
Một số loại polyphenol được phân loại dựa trên khung cơ bản của chúng: Ce (phenol đơn giản, benzoquinones), CạC¡ (axit polyphenol), CC; (acetophenone, axit phenylacetic), CøCs (axit hydroxycinnamic, coumarin, phenylpropanes, chromones), Ce6C4 (naphthoquinones), Ce6CiCs (xanthones), CC¿Cs¿ (stilbenes, anthraquinones), CoC3Ce (flavonoid, isoflavonoids, neoflavonoids), (CCzCs)23 (bi-, triflavonoid), (C6C3)2 (lignan, neolignan), (C6C3)n (lignin), (C6)n (catechol melanins, phlorotannin) và sau cùng là (CøC3Cs )n (tannin cô đặc) (Cheynier va ctv, 2013). Theo Mary và Giri (2016) khi xác định hàm lượng hoạt chất trong cây cỏ hôi bằng phương pháp sắc kí khối phổ đã xác định được 28 hợp chất. Trong đó tìm thấy polyphenol ở dạng phenol,4,6-di(1,1-dimethylethyl)2-methyl- chiếm 5,73% trong dịch chiết ethanol từ cỏ hôi. Năm 2019, Yadav và ctv đã có báo cáo về thành phần hóa học và đặc tính của cây cỏ hôi đã tìm thay chromenes, kaempferol, precocene I và precocene II thuộc nhóm polyphenol và xác định được hoạt tính kháng nam của những hop chất trên qua đó góp phan khang định thêm về khả năng kháng nam của cây cỏ hôi.
Flavonoid Flavonoid là một nhóm các hợp chất tự nhiên được tìm thấy rộng rãi trong giới thực vật và được xem như chất chuyền hóa trung gian của thực vật. Flavonoid có nhiều hoạt tính sinh học và công dụng đa dạng như chống oxy hóa, hạ lipid máu, chống lão hóa và ngăn ngừa xơ vữa động mach (Lin va ctv, 2020). Dựa theo câu trúc hóa hoc, flavonoid có các phân lớp như flavonols, anthocyanins, flavan-3-ols, flavanones, flavones, isoflavones va proanthocyanidins (George và ctv, 2017). ° Flavone Flavonol Flavanone ar @ ? ocr?.
OH ) ~ OO OO CL > Flavan-3-ol Anthocyanidin Isoflavone Hình 2. Cấu trúc cơ bản của phân lớp flavonoid. Cây cỏ hôi rất giàu các flavonoid đã methoxy hóa. Có tổng cộng 21 flavonoid đã được công bó, trong đó có 14 flavon bị methoxy hóa là dẫn xuất của tricin.
Có 3 flavon tự nhiên mới là ageconyflavon A (5,6,7-trimethoxy-3',4-methylenedioxyflavon), ageconyflavon B_ (5,6,7,3’-tetramethoxy-4'-hydroxyflavon), ageconyflavon C (5,6,7,3',5'-pentamethoxy-4'-hydroxyflavon). Ngoài ra con có các flavonoid khác như: 5'-methoxynobiletin, linderoflavon B, hexamethoxyflavon, eupalestin, nobiletin. Saponin Saponin là một loại hợp chất có cấu trúc đa dạng có ở nhiều loài thực vật, chúng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống phòng thủ, giúp bảo vệ, cạnh tranh và tương tác giữa các loài với nhau. Saponin có khả năng chống lại mầm bệnh, nam, sâu bệnh do có đặc tính kháng khuẩn, kháng nắm, chống lại kí sinh trùng và diệt côn trùng (Chaieb, 2010).
Saponin được chia thành các loại chính : dammaranes, tirucallanes, lupanes, hopanes, oleananes, taraxasteranes, ursanes, cycloartanes, lanostanes, cucurbitanes và steroid (Vincken va ctv, 2007). Dược tính của cây cỏ hôi A. conyzoides có tác dụng đã được ghi nhận: nhuận tràng, hạ sốt, chữa viêm mắt, đau bụng, làm lành vết thương. Ở các nước Nam Mỹ, châu Phi cỏ hôi được sử dụng làm thuốc kháng viêm, giảm đau (Okunade, 2002).
Tác dụng kháng khuẩn của cỏ hôi có được nhờ có hợp chất sterol và flavonoid. Tinh kháng khuẩn của dịch chiết methanol đã được khảo sát trên 11 chủng vi khuẩn cho kết quả lành vết thương hơn 90%, dịch chiết lá có tác dụng ức chế các chủng nam C. solani và gay độc mạnh trên các loài E. Theo các tài liệu nghiên cứu trước, các hoạt chat sinh học như polyphenol, alkaloid, flavonoid, saponin là những hợp chất có tác dụng ức chế nâm tốt nhất nhờ có đặc tính kháng khuẩn, kháng nắm và chống oxy hóa mạnh.
Do đó nghiên cứu này với mong muốn xác định hàm lượng của các loại hợp chất trên và khả năng ức chế lên các chủng nâm. Các chủng nam gây bệnh pho biến ở trên cây trồng 2.