Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc bảo hiểm y tế tại bệnh viện quân y 105 từ năm 2015 2018

Luận án tiến sĩ y tế phân tích y học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc bảo hiểm y tế tại bệnh viện quân y 105 từ năm 2015 2018, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Trường đại học

Bệnh viện Quân y 105

Chuyên ngành

Y tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2018

150
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động đảm bảo thuốc

Hoạt động đảm bảo thuốc là một chuỗi các hoạt động từ lựa chọn, mua sắm, tồn trữ đến cấp phát và sử dụng thuốc. Quy trình này đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế. Bệnh viện Quân y 105 đã thực hiện quy trình này từ năm 2015 đến 2018, tập trung vào việc đảm bảo thuốc cho bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế. Quy trình này chỉ đạt hiệu quả khi các khâu được quản lý chặt chẽ và tuân thủ đúng trình tự logic.

1.1. Lựa chọn thuốc

Lựa chọn thuốc là bước đầu tiên trong quy trình đảm bảo thuốc. Bệnh viện Quân y 105 đã xây dựng danh mục thuốc dựa trên mô hình bệnh tật, chi phí điều trị và các hướng dẫn của Bộ Y tế. Việc lựa chọn thuốc cần tuân thủ các nguyên tắc như phù hợp với phân tuyến chuyên môn, ưu tiên thuốc sản xuất trong nước và đáp ứng các phương pháp điều trị mới. Phân tích ABC/VEN được sử dụng để xác định ưu tiên mua sắm và tồn trữ thuốc, đảm bảo hiệu quả kinh tế và chất lượng điều trị.

1.2. Mua thuốc

Mua thuốc là khâu quan trọng trong quy trình đảm bảo thuốc. Bệnh viện Quân y 105 đã thực hiện mua thuốc thông qua đấu thầu theo Luật đấu thầu số 43/2013. Quy trình mua thuốc cần đảm bảo đúng loại thuốc, số lượng phù hợp, giá cả hợp lý và chất lượng đạt chuẩn. Tuy nhiên, việc mua sắm tập trung còn gặp một số bất cập như tỷ lệ thuốc đấu thầu tập trung thấp, đầu mối tổ chức đấu thầu không giảm và nguy cơ đứt hàng do năng lực cung ứng của nhà thầu.

II. Quản lý tồn trữ và cấp phát thuốc

Tồn trữ và cấp phát thuốc là hai khâu quan trọng trong quy trình đảm bảo thuốc. Bệnh viện Quân y 105 đã thực hiện quản lý tồn kho thuốc để đảm bảo lượng thuốc đầy đủ cho nhu cầu khám chữa bệnh. Việc tồn trữ thuốc cần được quản lý chặt chẽ để tránh lãng phí do dư thừa hoặc thiếu hụt thuốc. Cấp phát thuốc cũng là cơ sở để xây dựng số lượng và chủng loại thuốc tồn trữ hợp lý.

2.1. Tồn trữ thuốc

Tồn trữ thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cung cấp thuốc liên tục cho bệnh nhân. Bệnh viện Quân y 105 đã áp dụng các biện pháp quản lý tồn kho để giảm thiểu rủi ro và đảm bảo chất lượng thuốc. Tồn kho an toàn được tính toán dựa trên mức tiêu thụ trung bình và thời gian chờ đợi để đảm bảo thuốc luôn sẵn có khi cần thiết.

2.2. Cấp phát thuốc

Cấp phát thuốc là khâu cuối cùng trong quy trình tồn trữ. Bệnh viện Quân y 105 đã thực hiện cấp phát thuốc dựa trên nhu cầu khám chữa bệnh của bệnh nhân. Việc cấp phát thuốc cần đảm bảo đúng loại thuốc, đúng liều lượng và đúng thời gian để đạt hiệu quả điều trị cao nhất. Quản lý tồn kho và cấp phát thuốc hiệu quả giúp giảm chi phí và tăng chất lượng dịch vụ y tế.

III. Sử dụng thuốc và hiệu quả điều trị

Sử dụng thuốc là bước cuối cùng trong quy trình đảm bảo thuốc và phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình quản lý. Bệnh viện Quân y 105 đã tập trung vào việc sử dụng thuốc hợp lý để đảm bảo bệnh nhân được điều trị đúng cách. Tuy nhiên, vẫn còn một số thách thức trong việc kiểm soát sử dụng thuốc, đặc biệt là tình trạng lạm dụng kháng sinh và sử dụng thuốc không đúng hướng dẫn.

3.1. Sử dụng thuốc hợp lý

Sử dụng thuốc hợp lý là mục tiêu quan trọng của Bệnh viện Quân y 105. Việc sử dụng thuốc cần tuân thủ các hướng dẫn điều trị, đảm bảo đúng liều lượng và thời gian sử dụng. Tuy nhiên, tình trạng sử dụng thuốc không đúng cách vẫn còn phổ biến, gây lãng phí và giảm hiệu quả điều trị. Cần có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn để đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý.

3.2. Hiệu quả điều trị

Hiệu quả điều trị phụ thuộc vào việc sử dụng thuốc đúng cách. Bệnh viện Quân y 105 đã nỗ lực cải thiện hiệu quả điều trị thông qua việc đảm bảo thuốc chất lượng và sử dụng hợp lý. Tuy nhiên, vẫn cần có các giải pháp để giảm thiểu tình trạng lạm dụng thuốc và đảm bảo bệnh nhân được điều trị đúng cách với chi phí thấp nhất.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc bảo hiểm y tế tại bệnh viện quân y 105 từ năm 2015 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO THUỐC 1. Quy trình đảm bảo thuốc trong bệnh viện Bảo đảm thuốc hay còn gọi là cung ứng thuốc là một chuỗi các hoạt động bao gồm từ việc lựa chọn thuốc, đến tổ chức mua sắm, tồn trữ và cấp phát đến sử dụng thuốc. Quy trình đảm bảo thuốc trong bệnh viện được mô tả theo sơ đồ (Hình 1.1) dưới đây: Hình 1.

Quy trình đảm bảo thuốc trong bệnh viện Nguồn: theo MSH (2010) [7]. Như vậy, 4 khâu trên luôn liên kết chặt chẽ, bổ sung cho nhau để tạo nên một quy trình đảm bảo thuốc cung cấp cho nhu cầu khám chữa bệnh (KCB). Quy trình đảm bảo thuốc chỉ đạt được hiệu quả tốt khi các khâu trong quy trình đều được quản lý chặt chẽ, theo đúng trình tự logic. Lựa chọn thuốc Lựa chọn thuốc là bước đầu tiên trong quy trình đảm bảo thuốc cho nhu cầu KCB nói chung và cho công tác xây dựng DMT bệnh viện nói riêng.

Theo hướng dẫn của Thông tư số 21/2013/TT-BYT về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) trong bệnh viện, HĐT&ĐT có nhiệm vụ xây dựng DMT bệnh viện theo nguyên tắc sau và các bước sau [8]: * Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc: - Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; - Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; - Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở KCB; - Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; - Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện; - Thống nhất với DMT thiết yếu, DMT chủ yếu do Bộ Y tế ban hành; - Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước. * Các bước xây dựng danh mục thuốc: - Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và giá trị sử dụng, phân tích ABC - VEN, thuốc kém chất lượng, thuốc hỏng, các phản ứng có hại của thuốc, các sai sót trong điều trị dựa trên các nguồn thông tin đáng tin cậy, trong đó: + Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện. Phân hạng sản phẩm được tính như: Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 - 80 % tổng giá trị tiền; Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 - 20 % tổng giá trị tiền; Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5 - 10 % tổng giá trị tiền. Thông thường, hạng A 5 chiếm 10 – 20% tổng số sản phẩm, hạng B chiếm 10 – 20% và còn lại là hạng C chiếm 60 - 80%.

+ Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn. Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau: Thuốc V (Vital drugs) - là thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện. Thuốc E (Essential drugs) - là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện. Thuốc N (Non-Essential drugs) - là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc.

- Đánh giá các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng một cách khách quan; - Xây dựng DMT và phân loại các thuốc trong danh mục theo nhóm điều trị và theo phân loại VEN; - Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng DMT. Như vậy, DMT bệnh viện được HĐT&ĐT xây dựng trên cơ sở DMT thiết yếu, DMT chủ yếu và DMT chữa bệnh được quỹ BHYT thanh toán do Bộ Y tế ban hành. Theo Luật Dược (2016): “Thuốc thiết yếu là thuốc đáp ứng nhu cầu CSSK của đa số nhân dân thuộc DMT thiết yếu do Bộ Y tế ban hành” [9]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Thuốc thiết yếu là những loại thuốc đáp ứng nhu cầu sức khỏe ưu tiên của một nhóm dân số cụ thể” 6 [10].

Năm 1978, Tuyên ngôn Alma Ata xác định “Chăm sóc sức khỏe ban đầu đòi hỏi một nguồn cung cấp liên tục thuốc thiết yếu” [11]. Đến năm 2019, WHO đã công bố DMT thiết yếu lần thứ 21 với 570 khoản thuốc [12]. Việc tiếp cận các loại thuốc thiết yếu phụ thuộc vào bốn yếu tố: Lựa chọn hợp lý, giá cả phải chăng, tài chính bền vững và hệ thống y tế đáng tin cậy [13]. Nhận rõ vai trò to lớn của thuốc thiết yếu trong CSSK nói chung và CSSK ban đầu nói riêng, từ năm 1985, Bộ Y tế đã ban hành DMT thiết yếu lần thứ I.

Danh mục này sau đó đã được cập nhật, điều chỉnh và ban hành vào các năm 1989, 1995, 1999 và 2005 [14]. DMT thiết yếu lần thứ VII được ban hành gần đây nhất vào năm 2018 [20]. Trên cơ sở DMT thiết yếu, ngày 1/2/2008, Bộ Y tế đã ban hành DMT chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở KCB làm cơ sở để thanh toán cho các đối tượng có thẻ BHYT [16]. Chính sách quốc gia về thuốc giai đoạn 1996- 2000 đã đề ra mục tiêu “Bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân.

Bảo đảm sử dụng thuốc hợp lí, an toàn, có hiệu quả” [17]. Chính phủ đã xây dựng chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 [18]. Từ năm 2005 - 2018, Bộ Y tế đã ban hành 3 lần DMT thiết yếu và 3 lần DMT chủ yếu. Kết quả tổng hợp được thể hiện ở bảng 1.1 dưới đây: Bảng 1.

Danh mục thuốc do Bộ Y tế ban hành DMT thiết yếu DMT chủ yếu Năm Số ban hành SKM thuốc Số ban hành SKM thuốc 2005 17/2005/QĐ-BYT 325 03/2005/QĐ-BYT [21] 646 [15] 2008 05/2008/QĐ-BYT [22] 750 7 2013 45/2013/TT-BYT [19] 466 2014 01/2014/TTHN-BYT 1. Như vậy, DMT thiết yếu ngày càng tăng về số lượng nhằm đảm bảo số chủng loại thuốc thiết yếu cho mô hình bệnh tật trong nước. Trong khi đó, DMT chủ yếu là DMT được cơ quan BHYT thanh toán luôn có SKM cao gấp đôi DMT thiết yếu, giúp cho thầy thuốc có nhiều sự lựa chọn thuốc để điều trị cho BN tham gia BHYT. Bên cạnh DMT chủ yếu, Bộ Y tế còn ban hành “Thông tư ban hành và hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế” năm 2014 với 1.064 SKM thuốc và “Thông tư ban hành Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế” năm 2018 với 1.

Mua thuốc Sau khi có kết quả lựa chọn thuốc, mua thuốc là bước tiếp theo trong quy trình đảm bảo thuốc và là khâu có vai trò cụ thể hoá bước lựa chọn thuốc. Mua thuốc là một phần rất quan trọng trong quản lý đảm bảo thuốc ở tất cả các cấp độ CSSK. Mua thuốc là một quá trình để đảm bảo chắc chắn đúng thuốc, đúng số lượng, sẵn có, cho đúng BN, với giá hợp lý và chất lượng đảm bảo. Mua thuốc không chỉ đơn thuần là hành động mua bán mà còn có sự tham gia của nhiều lĩnh vực như thương mại, thông tin kỹ thuật, quản lý nguy cơ, hệ thống pháp luật.

Quy trình mua thuốc tốt trước hết cần xác định đúng mục tiêu, tạo 8 được niềm tin, kiểm soát được nguồn đảm bảo, đánh giá đúng được năng lực của các nhà đảm bảo, lựa chọn chiến lược mua sắm thích hợp, đánh giá được lâm sàng cũng như hiệu quả đầu ra [26]. Quy trình mua thuốc không đảm bảo đúng qui định sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thuốc, gây thất thoát kinh phí. Mua thuốc là một trong những hoạt động dễ nảy sinh tham nhũng nhất trong hệ thống CSSK [26], [27]. Một quy trình mua sắm thuốc hiệu quả thể hiện [28]: - Tìm cách quản lý mối quan hệ người bán - người mua một cách minh bạch và có đạo đức; - Mua đúng loại thuốc với số lượng phù hợp; - Có được giá mua thực tế thấp nhất; - Đảm bảo rằng tất cả dược phẩm được thu mua đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng đã được công nhận; - Sắp xếp giao hàng kịp thời để tránh thiếu hụt và dự trữ; - Đảm bảo độ tin cậy của nhà cung cấp đối với dịch vụ và chất lượng; - Đặt lịch mua hàng, công thức về số lượng đặt hàng và mức dự trữ an toàn để đạt được tổng chi phí mua hàng thấp nhất ở mỗi cấp độ của hệ thống; - Đạt được các mục tiêu này theo cách hiệu quả nhất có thể.

Ngày nay, việc mua sắm thuốc phải thông qua các hình thức đấu thầu theo Luật đấu thầu. Áp dụng đấu thầu là một công cụ quan trọng để mua thuốc, được thực hiện ở hầu hết các nước thành viên Liên minh châu Âu; thông qua đấu thầu lựa chọn được thuốc giá thấp hơn và tăng tính minh bạch khi sử dụng quỹ công [29], [30]. Theo Luật đấu thầu số 43/2013: Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; Lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và 9 hiệu quả kinh tế [31]. Từ năm 2015 – 2018, đấu thầu mua thuốc tại các CSYT được thực hiện theo Luật đấu thầu số 43/2013/-QH13 [31], Nghị định số 63/2014/NĐCP [32] và các thông tư, công văn hướng dẫn theo từng năm, cụ thể: - Năm 2015, các CSYT tự tổ chức đấu thầu mua sắm thuốc bằng các hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp và tự thực hiện.

Trong thời gian này, việc lập hồ sơ mời thầu theo hướng dẫn của các Thông tư số 01/2012/TTLT-BYT-BTC, số 36/2013/TT-BYT-BTC, số 37/2013/TT-BYT và số 31/2014/TT-BYT [33], [34], [35], [36].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu hoạt động đảm bảo thuốc bảo hiểm y tế tại Bệnh viện Quân y 105 (2015-2018) là một tài liệu quan trọng phân tích quy trình và hiệu quả của việc cung ứng thuốc bảo hiểm y tế tại một bệnh viện quân y hàng đầu. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá chất lượng và sự kịp thời trong việc đảm bảo thuốc mà còn đề xuất các giải pháp cải thiện, giúp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng thuốc. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý y tế, bác sĩ, và những người quan tâm đến hệ thống bảo hiểm y tế tại Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị và nghiên cứu y học tiên tiến, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và kết quả điều trị dị vật đường thở bằng nội soi ống cứng trực tiếp, Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả của phẫu thuật van hai lá ít xâm lấn qua đường mở ngực phải, và Luận án nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống glisson trong cắt gan điều trị ung thư tế bào gan. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn chuyên sâu về các kỹ thuật y học hiện đại và hiệu quả điều trị.