ĐẶT VẤN ĐỀ SVTH: Hà Long KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 2 GVHD: ThS. Dương Nhật Linh TS. Nguyễn Tấn Phát Trong các thập kỷ qua, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong do nhiễm vi khuẩn kháng kháng sinh tăng đáng kể và lan truyền rộng rãi trên toàn thế giới do việc lạm dụng kháng sinh ngày càng phổ biến. Khoảng 11,000 ca tử vong liên quan đến MRSA bao gồm viêm phổi hoại tử, viêm tủy xương và nhiễm trùng huyết đã được báo cáo hàng năm (Mohammad H và cs.
Tỷ lệ MRSA ở Đông Nam Á dao động từ 7% ở Philippines, ở Malaysia đến 25% và 39% ở Singapore (Lestari và cs. Từ 293 chủng Staphylococcus aureus phân lập từ mẫu bệnh phẩm tại Khoa Sinh học Lâm sàng, Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh đã xác định được 49,7% chủng MRSA (Phan Nữ Đài Trang và cs. aureus kháng methicillin (MRSA) đã trở thành nguyên nhân phổ biến của kháng kháng sinh.
Tình trạng kháng methicillin gia tăng đáng kể ở các chủng S. aureus lâm sàng ở các nước châu Âu lên tới 20%. Vấn đề kháng thuốc đang gia tăng và việc khám phá ra các tác nhân mới có hiệu quả chống lại MRSA là hết sức cần thiết. Do đó việc tìm nguồn thuốc mới ngày càng cấp thiết, thực vật là nguồn quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu trong các năm gần đây.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của y học, các bài thuốc từ thực vật cho mục đích chữa bệnh ngày càng nhiều. Việc sử dụng dược liệu đã tăng vượt bậc trong thập kỷ vừa qua. Thực vật được xem như là một trong những nguồn thay thế lý tưởng vì mức độ an toàn, không hoặc ít phản ứng phụ và có nhiều đích tác động khác nhau lên tế bào vi khuẩn nên ít có nguy cơ gây ra sự kháng thuốc (Raskin và cs. Dược liệu đóng một vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe với khoảng 80% dân số thế giới sử dụng thuốc y học cổ truyền chủ yếu dựa vào thực vật (Owolabi và cs.
Theo WHO, cây thuốc sẽ là nguồn tốt nhất để có được nhiều loại thuốc. Thuốc có nguồn gốc thực vật đã đóng góp lớn cho sức khỏe con người (El-Astal và cs. Sự phong phú của cây thuốc trong tự nhiên và kiến thức truyền thống làm tăng sự hiểu biết về tính chất, tính an toàn và hiệu quả của cây thuốc (Nascimento và cs. Mối quan tâm về tính chất, tính an toàn và hiệu quả của cây thuốc đã được thể hiện do sự kháng thuốc của các vi sinh vật gây bệnh trên lâm sàng đối với các kháng sinh đã được sản xuất trong những SVTH: Hà Long KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 3 GVHD: ThS.
Dương Nhật Linh TS. Nguyễn Tấn Phát thập kỷ qua (Cohen và cs., 1992; Nascimento và cs. Hiện nay, các bài báo nghiên cứu về chiết xuất hợp chất từ các loài thực vật có hoạt tính sinh học cho mục đích làm thuốc gia tăng nhanh chóng (Nascimento và cs., 2000; Rios và cs., 2005) Sâm đại hành (Eleutherine subaphylla Gagnep.) là một loại thảo mộc trong họ La dơn, một họ thực vật bao gồm 90 chi và 1200 loài (Schultes và cs. Sâm đại hành có tác dụng điều trị một số bệnh như kinh nguyệt không đều (Hodge và cs., 1956), rối loạn đường ruột (Van den Berg, 1984; Lin và cs.
Thân rễ của sâm đại hành được sử dụng như một tác nhân cầm máu và kháng khuẩn (Dam và cs. Các loại thực vật thuộc chi này đã phân lập và xác định được một số hợp chất bao gồm elecanicin, eleutherol, isoeleutherol, eleutherin, isoeleutherin (Hara và cs., 1997), hongconin (Zhengxiong và cs., 1984) và anthraquinones (Komura và cs. Đồng thời, củ của Eleutherine americana từ lâu đã được sử dụng như một loại thuốc dân gian để điều trị bệnh tim, bệnh tiểu đường, ung thư vú, đột quỵ, tăng huyết áp và rối loạn tình dục đặc biệt là rối loạn mạch vành ở đảo Hải Nam, Trung Quốc (Ieyama và cs., 2011; Chen và cs., 1981; Mahabusarakam và cs., 2010; Han và cs. Theo nhiều báo cáo, củ của E.
americana chứa anthraquinones, naphthoquinones, các dẫn xuất của naphtalene và các hoạt tính sinh học quan trọng, chẳng hạn như giãn mạch vành, giảm prothrombin, chống đông máu, chữa lành vết thương, ức chế topoisomerase II, ức chế HIV, kháng nấm và chống ung thư (Alves và cs., 2003; Shibuya và cs., 1997; Francesca và cs., 2010; Chen và cs., 1986; Qiu và cs., 2005; Xu và cs. Hiện nay các nghiên cứu, bài báo khoa học trong nước về khả năng chữa bệnh trong các bộ phận của cây sâm đại hành còn rất hạn chế cũng như còn khá ít các nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn của cao chiết sâm đại hành. Kế thừa kết quả từ đề tài nghiên cứu trước “Phân lập và tinh chế hoạt chất kháng Staphylococcus aureus ATCC 43300 (MRSA) từ cao chiết sâm đại hành (Eleutherine subaphylla Gagnep.)” cho thấy kết quả cao ethyl acetate có khả năng kháng mạnh với MRSA (25,67 ± 0,86 mm). Do đó chúng tôi tiến hành khảo sát khả năng kháng MRSA ở người từ các phân đoạn của cao SVTH: Hà Long KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 4 GVHD: ThS.
Dương Nhật Linh TS. Nguyễn Tấn Phát ethyl acetate đồng thời phân lập và tinh chế các hoạt chất khác có hoạt tính sinh học nói trên. Chính vì thế, chúng tôi thực hiện đề tài “Phân lập và tinh chế hoạt chất sinh học có khả năng kháng Staphylococcus aureus ATCC 43300 (MRSA) từ cao chiết ethyl acetate của sâm đại hành (Eleutherine subaphylla Gagnep.)” Mục tiêu: - Phân lập và tinh chế hoạt chất sinh học có khả năng kháng Staphylococcus aureus ATCC 43300 (MRSA) Nội dung: - Thu nhận cao chiết sâm đại hành bằng dung môi ethyl acetate. - Đánh giá giới hạn nhiễm khuẩn của cao chiết.
- Điều chế các phân đoạn của cao chiết từ dung môi ethyl acetate bằng phương pháp sắc kí cột. - Khảo sát khả năng kháng khuẩn của cao chiết sâm đại hành: + Khảo sát khả năng kháng khuẩn của sâm đại hành bằng phương pháp khuếch tán đĩa giấy. + Xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao chiết với MRSA - Xác định cấu trúc của hợp chất ES06. SVTH: Hà Long KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 5 GVHD: ThS.
Dương Nhật Linh TS. Nguyễn Tấn Phát PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: Hà Long KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 6 GVHD: ThS. Dương Nhật Linh TS. Nguyễn Tấn Phát 1.
Tổng quan về vi khuẩn Staphylococcus aureus ATCC 43300 (MRSA) Staphylococcus aureus kháng methicillin (Methicillin-resistant Staphylococcus aureus, viết tắt là MRSA) là chủng tụ cầu vàng Gram dương có khả năng đề kháng với các loại kháng sinh methicillin, penicillin, amoxicillin, oxacillin và được xem là một loại “siêu vi khuẩn” vì hiện nay có thể nó có khả năng đề kháng với rất nhiều loại kháng sinh mà trước kia có thể sử dụng để tiêu diệt MRSA trong các bệnh viện, trung tâm y tế… MRSA đề kháng penicillin M chủ yếu qua trung gian gen mecA mã hóa cho protein 2A gắn penicillin (PBP 2A hoặc PBP 2’). Khi được tạo ra, PBP 2A nằm ở vách tế bào vi khuẩn và có ái lực thấp với kháng sinh β-lactam, nhờ vậy mà làm cho vi khuẩn kháng được không chỉ penicillin M mà còn với tất cả các kháng sinh β-lactam (Phạm Hùng Vân, 2013). Kể từ những năm 1960, MRSA trở nên phổ biến trên toàn cầu và là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn ở bệnh viện và cộng đồng. Các chủng MRSA mang gen mã hóa protein làm cho vi khuẩn kháng với hầu hết các kháng sinh nhóm β-lactam (như methicillin) (Lee và cs.
Phân loại khoa học Giới: Eubacteria Ngành: Firmicutes Lớp: Bacilli Bộ: Bacillales Họ: Staphylococcaceae Chi: Staphylococcus Hình 1. Hình vi thể MRSA Loài: Staphylococcus aureus (Gaafar và cs., 2014) Penicillin được đưa vào sử dụng cho các ca nhiễm khuẩn vào năm 1940 nhưng chỉ 2 năm sau, chủng tụ cầu vàng kháng penicillin đã được phát hiện. Năm 1960, SVTH: Hà Long KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 7 GVHD: ThS. Dương Nhật Linh TS.
Nguyễn Tấn Phát methicillin được đưa vào sử dụng rộng rãi nhưng chỉ 1 năm sau, chủng Staphylococcus aureus kháng methicillin được phân lập (Jevons và cs. Kể từ lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1960 (Jevons và cs., 1961) tình trạng kháng methicillin ở các chủng S. aureus đã trở nên phổ biến trong các bệnh viện. Hệ thống giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện quốc gia (NNISS) đã ghi nhận sự gia tăng MRSA tại các bệnh viện lớn ở Hoa Kỳ, từ 4% vào những năm 1980 lên 50% vào cuối những năm 1990.
Ở một số bệnh viện, đã ghi nhận được tỷ lệ kháng thuốc cao tới 80% (Wenzel và cs. Sự gia tăng các trường hợp nhiễm khuẩn MRSA khởi phát tại bệnh viện, với ước tính khoảng 18.900 trường hợp trong năm 2005 (Klevens và cs. Các bệnh nhiễm trùng hầu hết do S. aureus kháng methicillin (MRSA) gây ra: Đông Nam Á hơn 25%, Đông Địa Trung Hải hơn 50%, Châu Âu 60%, Châu Phi 80%, Tây Thái Bình Dương 80%, Châu Mỹ 90% (WHO, 2018).
MRSA là nguyên nhân chính gây nhiễm trùng da và mô mềm trong bệnh viện cộng đồng ở những người khỏe mạnh khác. Tần suất tử vong hàng năm từ MRSA đang gia tăng nhanh chóng và vượt qua những người gây ra bởi virus suy giảm miễn dịch ở người/hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (HIV/AIDS) (Bancroft và cs., 2007), từ năm 1999 đến 2005, số ca nhập viện liên quan đến nhiễm trùng MRSA tăng 119%, hay 14% mỗi năm (Klein và cs.650 trường hợp nhiễm dòng máu và 500 trường hợp tử vong hàng năm ở Úc (Turnidge và cs.000 người chết mỗi năm tại Hoa Kỳ (Dantes và cs., 2011) và một chi phí vượt quá hàng năm cho hệ thống chăm sóc sức khỏe của châu Âu là 380 triệu euro (Köck và cs. Đứng trước tình hình S. aureus kháng với penicillin do gần 100% có khả năng tiết được enzyme penicillinase phá huỷ được penicillin, các nhà lâm sàng phải chỉ định penicillin M để điều trị các nhiễm khuẩn do S.
Tuy nhiên hiện nay các bác sĩ điều trị phải đối phó với thách thức là tác nhân S. aureus kháng được penicillin M (MRSA) với tỷ lệ ngày càng gia tăng. Tại Việt Nam, một nghiên cứu đa trung tâm thực hiện năm 2005 trên 235 chủng S. aureus phân lập được từ các trường hợp lâm sàng SVTH: Hà Long KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 8 GVHD: ThS.
Dương Nhật Linh TS. Nguyễn Tấn Phát nhiễm khuẩn do S. aureus cho thấy tỷ lệ MRSA là 47%. Tổng kết tại Bệnh Viện Chợ Rẫy và Bạch mai cũng cho thấy tỷ lệ MRSA là 57% và 43%.
Tổng kết của GARP:VN cho thấy tỷ lệ MRSA ghi nhận từ 15 bệnh viện tại VN vào năm 2008 là từ 30% đến 64%. Bệnh viện Thống Nhất TP. HCM từ năm 2005 đến 2007 đã ghi nhận có đến 79% Staphylococcus saprophyticus và 40% S. aureus phân lập từ nhiễm khuẩn đường tiết niệu kháng methicillin.