MỞ ĐẦU 1. Sự cấp thiết đề tài Kế toán ra đời và không ngừng hoàn thiện cùng với quá trình ra đời và phát triển của các hình thái kinh tế xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa theo kinh tế thị trƣờng, kế toán không đơn thuần là một công cụ thu thập, xử lý, cung cấp thông tin mà còn trở thành một công cụ quan trọng phục vụ cho việc quản lý, điều hành, kiểm soát và phân tích các hoạt động kinh tế tại đơn vị; từ đó kế toán đƣợc phân chia một cách thích hợp thành kế toán tài chính và kế toán quản trị. Kế toán quản trị (KTQT) sử dụng các phƣơng pháp thích hợp để lƣợng hóa các hoạt động của đơn vụ một cách cụ thể, qua đó cung cấp thông tin làm cơ sở cho các nhà quản lý ra quyết định cũng nhƣ thực hiện kiểm soát quản lý trong đơn vị.Do đóKTQT đã trở thành công cụ vô cùng quan trọng giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp (DN) thực hiện tốt hơn các chức năng quản trị DN của mình.
Kế toán quản trị chi phí (KTQTCP) là một bộ phận quan trọng trong công tác kếtoán của DN trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định. Vì vậy, trong giai đoạn kinh tế Việt Nam đảng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế quốc tế; để cạnh tranh, đứng vững và chiếm lĩnh thị trƣờng, tìm kiếm khách hàng, đạt đƣợc lợi nhuận thì việc cung cấp thông tin phục vụ sản xuất sản phẩm với chi phí thấp nhất đồng thời chất lƣợng sản phẩm đƣợc nâng cao hoặc giữ vững có vai trò to lớn trong việc tăng cƣờng hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín, giá trị của DN. Cũng nhƣ các thị trƣờng khác, thị trƣờng Dƣợc phẩm, vật tƣ y tế ở nƣớc ra hiện nay đang phát triển rất mạnh, ngành Dƣợc đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta xác định là một trong những ngành quan trọng nhất vì đó là ngành chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Tại các công ty Dƣợc nói chung và Công ty Cổ phần dƣợc vật tƣ y tế Thanh Hóa nói riêng với lĩnh vực hoạt động chính là sản xuất và phân phối dƣợc phẩm trong những năm gần đây đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt với công ty nƣớc ngoài có vốn mạnh, bề dày kinh nghiệm và công nghệ sản xuất kinh doanh hiện đại, mặt khác sản phẩm Dƣợc là hàng hóa đặc biệt không chỉ có sản xuất thuốc tốt mà phải sản xuất kinh doanh thuốc với giá cả hợp lý, các sản phẩm phải luôn luôn thay đổi cả về mẫu mã, chất lƣợng để phù hợp với cơ chế thị trƣờng.
Do vậy, để tồn tại và phát triển thì nhiệm vụ hàng đầu là nhƣ thế nào để có thể kiểm soát đƣợc chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời giữ vững đƣợc chất lƣợng sản phẩm theo tiêu chuẩn quy định. Để làm đƣợc điều này thì mỗi DN cần có hệ thống thông tin nội bộ hoàn chỉnh để cung cấp thông tin cho lãnh đạo nhằm nâng cao chất lƣợng quản lý. Hệ thống kế toán chi phí tại Công ty Cổ phần Dƣợc Vật tƣ y tế Thanh Hóa – THEPHACO hiện nay đã tiến hành lập dự toán, định mức sản xuất, tuy nhiên dự toán chi phí còn chung chung, chƣa cụ thể, linh hoạt, xác định giá thành sản xuất theo 1 phƣơng pháp truyền thống. KTQTCP tại công ty chƣa đƣợc quan tâm đúng mức.
Do đó thông tin mà KTQTCP cung cấp vẫn chƣa hƣớng vào phục vụ việc lập kế hoạch, kiểm soát, đánh giá lập kế hoạch trong nội bộ đơn vị; chƣa cung cấp thông tin kịp thời, phù hợp, đáng tin cậy cho nhà quản trị đƣa ra quyết định kinh doanh. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của KTQT nói chung và KTQTCP nói riêng, đồng thời xuất phát từ thực trạng nêu trên, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài “ Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Dƣợc Vật tƣ y tế Thanh Hóa - THEPHACO” làm đề tài nghiên cứu khoa học. Sơ lƣợc về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về vấn đề chọnnghiên cứu Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam đang nỗ lực tìm kiếm cách thức kiểm soát, quản lý, nhằm mục tiêu tối thiểu hóa chi phí, hạ giá thành sản phẩm để ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng năng lực cạnh tranh. Muốn vậy, doanh nghiệp không thể thiếu đƣợc sự tồn tại của kế toán quản trị chi phí.
Các vấn đề về kế toán quản trị nói chung, kế toán quản trị chi phí nói riêng đã đƣợc các tác giả Việt Nam bắt đầu nghiên cứu từ đầu những năm cuối thế kỷ 20. Có thể khái quát một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nƣớc sau đây. Tác giả Phạm Thị Thủy (2007) nghiên cứu “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dƣợc phẩm Việt Nam”. Trong nghiên cứu, tác giả đã định hƣớng cho doanh nghiệp các cách phân loại chi phí, nhƣ phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động, theo khả năng quy nạp chi phí cho các đối tƣợng chịu chi phí, nhằm mục tiêu kiểm soát chi phí, đánh giá hiệu quả hoạt động, từ đó nâng cao chất lƣợng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc phân loại này chỉ thuận tiện cho kế toán chi phí trong việc ghi chép, tính toán để lập Báo cáo tài chính theo quy định của Nhà nƣớc, nhƣng xét về mức độ cung cấp thông tin chi tiết cho việc lập kế hoạch, kiểm tra, kiểm soát chi phí thực tế chƣa cao và không thực sự hiệu quả. Tác giả cũng đã chỉ ra rằng phƣơng pháp xác định chi phí thực tế là phƣơng pháp mà các doanh nghiệp sản xuất dƣợc phẩm Việt Nam hiện nay đang áp dụng để xác định giá phí sản phẩm sản xuất. Và trong quá trình tính giá thành cho sản phẩm hoàn thành tại doanh nghiệp sản xuất dƣợc phẩm cũng thể hiện, hệ thống kế toán chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dƣợc phẩm còn thiếu những yếu tố cơ bản nhất của một hệ thống kế toán quản trị chi phí. Từ đó, tác giả cho rằng mỗi doanh nghiệp cần xác định phƣơng pháp tính giá là phƣơng pháp chi phí thông thƣờng và từng bƣớc áp dụng phƣơng pháp chi phí theo hoạt động với đối tƣợng tính giá là từng lô sản xuất.
Ngoài ra, tác giả cũng làm rõ vấn đề tính giá thành sản phẩm sản xuất theo phƣơng pháp xác định chi phí toàn bộ, các doanh nghiệp sản xuất dƣợc phẩm cũng cần tính giá thành sản xuất sản phẩm theo phƣơng pháp xác định chi phí trực tiếp [14]. 2 Nghiên cứu của tác giả Garison, Norren, Brewer (2008) “Managerial Accounting”, Mc GrawHill. Bằng việc sử dụng phƣơng pháp xác định chi phí theo tiêu chuẩn và các báo cáo phân tích biến động chi phí, nhà quản trị có thể đánh giá trách nhiệm trong việc kiểm soát chi phí ở các bộ phận và xác định đƣợc nguyên nhân của những biến động về chi phí. Từ đó, nhà quản trị DN có những giải pháp cắt giảm chi phí hợp lý, mang tính hệ thống [7].
Lê Thị Ánh Hoa (2012) với đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần thương mại sản xuất Duyên Hải”. Để thực hiện việc nghiên cứu, tác giả sử dụng các phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng pháp phân tích, so sánh, kiểm chứng… để trình bày các vấn đề về tổ chức kế toán quản trị chi phí ở Công ty cổ phần thƣơng mại sản xuất Duyên Hải. Từ đó tìm ra các tồn tại của Công ty, tổng hợp đƣa ra kết luận từ thực tiễn và đề xuất các giải pháp tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty [1]. Vũ Thị Kim Anh (2012) với đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí vận tải tại các doanh nghiệp vận tải đường sắt Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.” Đề tàiđã xác định nội dung lập định mức và dự toán là quan trọng và cần thiết trong các doanh nghiệp vận tải đƣờng sắt.
Theo đó mô hình lập dự toán trong các doanh nghiệp này là mô hình từ dƣới lên (xuất phát từ đơn vị cơ sở) với các loại dự toán: Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp.Tác giả cũng cho rằng việc xây dựng dự toán linh hoạt cho ngành đƣờng sắt hiện nay là cần thiết nhằm kiểm soát chi phí đồng thời giúp các nhà quản trị xác định sự thay đổi các mức vận chuyển tác động đến nhƣ thế nào đến chi phí cũng nhƣ đánh giá đƣợc kết quả hoạt động [1]. Nguyễn Phú Giang (2013) nghiên cứu về “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thép trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” cho rằng lập dự toán cần xét theo quy mô của doanh nghiệp, cụ thể: (1) Đối với doanh nghiệp thép siêu nhỏ không cần lập dự toán; (2) Đối với doanh nghiệp thép quy mô nhỏ nên lập dự toán với mô hình dự toán ấn định thông tin từ trên xuống; (3) Đối với doanh nghiệp có quy mô lớn lập cả dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt và có thể áp dụng các mô hình dự toán: mô hình dự toán từ trên xuống,mô hình dự toán từ dƣới lên và mô hình kết hợp. Tuy nhiên tác giả cho rằng xây dựng dự toán cần thiết cho các đơn vị kể cả doanh nghiệp siêu nhỏ, đồng thời xây dựng dự toán cần xuất phát từ nhu cầu quản trị doanh nghiệp trong việc cụ thể hóa các mục tiêu của doanh nghiệp [8]. Hồ Mỹ Hạnh (2014) với nghiên cứu“Tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp may Việt Nam”.
Trong công trình này, tác giả đã làm sáng tỏ việc các nhà quản trị doanh nghiệp may cần thiết phải biết cách phân loại 3 tính toán chi phí kinh doanh một cách chính xác, cần phải có thông tin về chi phí không phải chỉ ở phạm vi toàn doanh nghiệp mà từng khâu, từng bộ phận, cá nhân tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh để có thể kiểm soát đƣợc chi phí. Hơn nữa tác giả còn đề xuất đƣợc các giải pháp tổ chức thông tin KTQTCP khá cụ thể để các doanh nghiệp may có thể ứng dụng vào thực tiễn quản trị chi phí của DN [10].