CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm về kế toán quản trị chi phí môi trường Theo Cơ quan Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc (UNDSD, 2001) thì “Chi phí môi trường có thể hiểu là các chi phí gắn với thiệt hại môi trường và bảo vệ môi trường của doanh nghiệp. Chi phí này bao gồm các chi phí để ngăn ngừa, tiêu hủy, lập kế hoạch, kiểm soát, thay đổi hành động, khắc phục những thiệt hại có thể xảy ra ở doanh nghiệp và ảnh hưởng tới Chính phủ, mọi người”. “Chi phí môi trường (CPMT) là một trong những đối tượng kế toán của kế toán quản trị chi phí môi trường, và kế toán quản trị chi phí môi trường là một bộ phận của kế toán quản trị môi trường (KTQTMT).” Cơ quan Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc (UNDSD, 2001) định nghĩa “KTQTMT là việc nhận dạng, thu thập, phân tích và sử dụng loại thông tin cho việc ra quyết định nội bộ: Thông tin vật chất (phi tiền tệ) về sử dụng, luân chuyển và thải bỏ năng lượng, nước và nguyên vật liệu (bao gồm chất thải); và thông tin tiền tệ về các chi phí, lợi nhuận và tiết kiệm liên quan đến môi trường”. Còn định nghĩa của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC, 2005): “KTQTMT là quản lý hiệu quả kinh tế và môi trường thông qua việc xây dựng và triển khai hệ thống kế toán và thực hành phù hợp với môi trường có thể bao gồm báo cáo và kiểm toán”.
Hiện nay, EMA chưa có định nghĩa thống nhất và được chấp nhận phổ biến bởi tất cả các quốc gia, các nhà nghiên cứu “Như vậy, theo nhóm tác giả thì có thể hiểu là: Kế toán quản trị chi phí môi trường là một bộ phận của KTQTMT nhằm cung cấp các thông tin chi phí môi trường của doanh nghiệp giúp nhà quản lý nâng cao lợi nhuận đồng thời bảo vệ môi trường.2 Kế toán quản trị chi phí môi trường 1.1 Nhận diện và phân loại chi phí môi trường Có hai quan điểm để nhận diện CPMT là quan điểm của Tổ chức Liên hợp quốc về phát triển bền vững (UNDSD) và Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC).1 Nhận diện và phân loại theo Tổ chức Liên hợp quốc về phát triển bền vững (UNDSD - 2001) CPMT được nhận diện theo tiêu chí là “nội dung kinh tế” gồm 5 loại: (1) chi phí xử lý chất thải, khí thải; (2) chi phí phòng ngừa và quản lý môi trường; (3) chi phí bảo vệ 15 môi trường; (4) chi phí nguyên liệu, vật liệu của đầu ra không phải là sản phẩm; và (5) chi phí chế biến không tạo ra sản phẩm. Chi phí xử lý chất thải và khí thải, bao gồm: - “Chi phí khấu hao: là chi phí khấu hao của các thiết bị xử lý và kiểm soát chất thải như các máy đầm rác, phương tiện thu gom, hệ thống thu hồi nhiệt thải, bộ lọc ô nhiễm không khí, nhà máy xử lý nước thải, đầu tư cho hệ thống giảm tiếng ồn. Ngoài ra, nó còn bao gồm chi phí cho việc thuê bãi rác hay là các khoản đầu tư cho việc cải thiện cảnh quan, khắc phục ô nhiễm môi trường.” - “Chi phí bảo trì và vật liệu hoạt động: Đó là các chi phí liên quan đến việc bảo trì và các vật liệu cho việc bảo trì, bảo dưỡng các loại máy móc thiết bị xử lý, kiểm soát chất thải, khí thải và các vật liệu cần thiết khác phục vụ cho việc xử lý chất thải như vật liệu lót cho bãi chôn lấp tại chỗ hay các loại hóa chất cho việc xử lý chất thải.” - “Chi phí nhân viên: Là chi phí nhân viên liên quan đến việc xử lý chất thải, khí thải. Phần này chủ yếu là các chi phí nhân viên liên quan ở các bộ phận thu gom chất thải, bộ phận kiểm soát nước thải, khí thải.” - “Các khoản thuế, phí, lệ phí: Là các khoản phí, thuế và lệ phí cho việc cấp phép liên quan đến kiểm soát và xử lý chất thải, bao gồm thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trường, phí xử lý chất thải rắn, phí xử lý nước thải, phí bảo vệ môi trường đối với việc khai thác khoáng sản,… Ở một số quốc gia, thuế, phí môi trường được đánh vào vật liệu và năng lượng đầu vào như một số hóa chất nguy hiểm, một số tài nguyên và ngược lại, một số quốc gia lại đánh vào đầu ra, ví dụ như dựa vào khối lượng chất thải, khí thải.” - “Các khoản nộp phạt: Là các khoản chi phí phát sinh khi DN không tuân thủ và vi phạm các quy định về môi trường như vi phạm các quy định về thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường hay có các hành vi gây ô nhiệm môi trường, hành vi vi phạm quy định quản lý chất thải…” Chi phí bảo hiểm trách nhiệm môi trường - “Bảo hiểm môi trường là bảo hiểm trách nhiệm gây thiệt hại tới môi trường xung quanh và tới sức khỏe của con người.
Trách nhiệm pháp lý về môi trường làm cho 16 các DN gây ra những thiệt hại về môi trường phải có trách nhiệm khắc phục, cải tạo những thiệt hại mà DN đã gây ra. Thông thường, chỉ những hoạt động gây nguy hiểm hoặc có tiềm năng gây nguy hiểm trực tiếp tới con người, làm hỏng tài sản, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học,… mới phải chịu trách nhiệm pháp lý nghiêm ngặt. Việc quy định về việc mua bảo hiểm ở các nước, thậm chí cho các ngành sản xuất khác nhau là khác nhau. Có ngành sản xuất việc mua bảo hiểm môi trường là bắt buộc, có ngành là tự nguyện.” - “Dự phòng cho các khoản chi phí làm sạch, xử lý, đền bù” - “Mục đích của khoản chi phí này là tính toán và dự phòng các khoản chi phí và nghĩa vụ trong tương lai có thể phát sinh trong hoạt động của DN và có liên quan đến môi trường.
Các chi phí này có thể là dự phòng cho trách nhiệm đáp ứng công nghệ hiện đại; trách nhiệm loại bỏ và tái chế chất thải; khắc phục, sửa chữa và dọn dẹp ô nhiễm.” Chi phí phòng ngừa và quản lý môi trường “Ngược lại với chi phí xử lý chất thải, khí thải, khoản mục chi phí này phản ánh các chi phí phòng ngừa và chi phí cho các hoạt động quản lý môi trường nói chung, bao gồm:” - “Chi phí dịch vụ mua ngoài cho quản lý môi trường: Là chi phí cho tất cả các dịch vụ mua ngoài như dịch vụ tư vấn, đào tạo, kiểm tra, kiểm toán, hoạt động truyền thông liên quan đến vấn đề về môi trường. Tuy nhiên, nhìn chung, các khoản chi phí này thường được tiềm ẩn trong mục “chi phí khác” mà không được nhìn nhận và tách biệt, đó là CPMT. Ngoài ra, chi phí này còn bao gồm các khoản chi phí liên quan đến in ấn báo cáo môi trường và các hoạt động liên quan đến truyền thông. Các khoản chi phí này thường không được thu thập một cách có hệ thống trên một tài khoản hay trung tâm chi phí, mà nó có thể trải khắp trên các tài khoản.” - “Chi phí nhân viên cho các hoạt động quản lý môi trường nói chung: Phần này bao gồm nhân sự nội bộ cho các hoạt động quản lý môi trường nói chung, không liên quan trực tiếp đến xử lý khí thải hoặc sản xuất sản phẩm phi sản phẩm.
Đó là chi phí nhân công cho các chương trình đào tạo, bao gồm chi phí đi lại, các hoạt động và dự án quản lý môi trường, kiểm toán, tuân thủ và truyền thông.” 17 - “Chi phí nghiên cứu và phát triển: Đó là các chi phí thuê ngoài hoặc chi phí nhân viên nội bộ cho các dự án nghiên cứu và phát triển liên quan đến môi trường. Ngày nay, ở các nước phát triển, việc nghiên cứu và phát triển rất được coi trọng vì thông qua đó sẽ giúp tiết kiệm được chi phí, cải tiến năng suất và giảm các tác động đến môi trường.” - “Chi phí phát sinh thêm do sử dụng công nghệ sản xuất sạch hơn:” - “Hầu hết các khoản đầu tư phòng ngừa ô nhiễm liên quan đến một phần cải thiện môi trường và một phần sản xuất được cải thiện theo hướng sạch hơn. Các công nghệ tích hợp hoặc sạch hơn cho phép các quy trình sản xuất hiệu quả hơn, giúp giảm hoặc ngăn chặn phát thải tại nguồn. Thông thường, công nghệ mới cũng sử dụng ít năng lượng hơn, nhanh hơn và có năng lực sản xuất nhiều hơn.
Do đó, việc phải đầu tư thêm để sử dụng công nghệ sản xuất sạch hơn cũng được ghi nhận như một loại chi phí phòng ngừa môi trường.” - “Chi phí quản lý môi trường khác: Là các khoản chi phí khác liên quan đến bảo vệ môi trường như chi phí tài trợ môi trường sinh thái, chi phí công bố các ấn phẩm về báo cáo môi trường…” Chi phí nguyên, vật liệu của đầu ra phi sản phẩm “Nguyên, vật liệu (NVL) là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất sản phẩm nhưng không phải tất cả NVL đều được tạo nên sản phẩm, mà nó còn tạo ra đầu ra không phải là sản phẩm (chất thải, khí thải). Đó là dấu hiệu của sản xuất không hiệu quả. Do đó, việc xác định giá trị nguyên, vật liệu của đầu ra không phải là sản phẩm là bắt buộc để đánh giá CPMT. Theo UNDSD (2001), chi phí NVL bị lãng phí là yếu tố CPMT quan trọng nhất, chiếm từ 40 – 90% tổng CPMT của DN.
Chi phí nguyên, vật liệu bao gồm:” - “Nguyên liệu, vật liệu chính: Là các NVL dùng cho sản xuất, nhưng tạo ra đầu ra không phải là sản phẩm, mà là các phế thải, thông thường là ở dạng thải rắn và lỏng và rất hiếm khi tìm thấy ở dạng thái khí. Ngoài ra, nó còn bao gồm các NVL bị thất thoát, hư hỏng, bị phân hủy trong kho.” - “NVL phụ trợ: Là những NVL sẽ trở thành một phần của sản phẩm nhưng không phải là thành phần chính. Thông thường, chúng không được theo dõi riêng. Những 18 loại NVL này khi tham gia vào sản xuất cũng sẽ tạo ra những đầu ra không phải là sản phẩm nên cũng cần ước tính để đánh giá CPMT.” - “Bao bì: Bao bì sản phẩm chủ yếu sẽ rời khỏi công ty cùng với sản phẩm, nhưng cũng có một tỷ lệ nhất định bao bì bị tổn thất do hư hỏng, mất mát.
Do đó, giá trị vật liệu của bao bì bị lãng phí nên được ước tính và coi là chi phí tạo ra chất thải.” “Ngoài ra, bao bì của vật liệu cũng là nguyên nhân tạo nên chất thải nếu không được tái sử dụng.