phần mở đầu, mục lục, danh mục các bảng biểu sơ đồ, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:” “ hương 1: Lý luận chung về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất.” “ hương 2: Nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần In Hà Nội.” “ hương 3: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần In Hà Nội. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT” “1. Khái quát về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp” “1. Các khái niệm cơ bản” “1.
Khái niệm chi phí” “Theo mục b đoạn 31 của chuẩn mực kế toán Việt Nam – V S 01 thì “ hi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Theo định nghĩa này, chi phí được xem xét theo từng kỳ kế toán và là các khoản mục trong báo cáo tài chính và chi phí được ghi nhận, phản ánh theo những nguyên tắc nhất định. Định nghĩa này hoàn toàn phù hợp khi đứng trên góc độ của đối tượng sử dụng thông tin kế toán tài chính, chủ yếu là các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp” “Theo chuẩn mực kế toán quốc tế thì “ hi phí bao gồm các khoản lợi ích kinh tế cũng như các chi phí mà phát sinh trong quá trình hoạt động bình thường của đơn vị. Chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động bình thường của đơn vị bao gồm: Chi phí bán hàng, tiền lương và khấu hao… hi phí thường được thể hiện dưới hình thức một dòng chảy ra hoặc sự tiêu tốn về tài sản như tiền mặt và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho và tài sản cố định”.” “Xét trên góc độ của kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn thực tế phát sinh, gắn liền với hoạt động sản xuất của DN, bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình SXKD thông thường của DN và các chi phí khác để đạt được một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định, mục đích cụ thể trong kinh doanh (Giáo trình Kế toán quản trị - Nguyễn Ngọc Quang 2012).” “ ũng theo Nguyễn Ngọc Quang (2012), xét trên góc độ của kế toán quản trị, chi phí là những phí tổn ước tính hoặc dự kiến trước để thực hiện một hoạt động SXKD, một hợp đồng kinh tế, được tổng hợp theo từng bộ phận, từng 10 trung tâm chi phí cũng như xác định trị giá hàng tồn kho trong từng khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ.” “Theo bản chất của chi phí, chi phí là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ra nhằm tạo ra các loại tài sản, hàng hóa hoặc các dịch vụ.
Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất (CPSX), kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí khác.” “Chi phí sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về vật chất và về lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và một số khoản tiền thuế gián thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất - kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.” “Như vậy, nội dung của chi phí rất đa dạng. Trong kế toán quản trị, chi phí bao gồm chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất được sử dụng theo nhiều cách khác nhau nhằm cung cấp những thông tin phù hợp với nhu cầu đa dạng trong các thời điểm khác nhau của quản lý nội bộ doanh nghiệp.” “Thêm vào đó, chi phí phát sinh trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau (sản xuất, thương mại, dịch vụ) cũng có nội dung và đặc điểm khác nhau, trong đó nội dung chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thể hiện tính đa dạng và bao quát nhất.” “Từ các quan điểm trên có thể hiểu “C i phí là những phí tổn về nguồn lực, tài sản cụ thể và dịch vụ sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh tính trong một thời kì nhất địn. Khái niệm kế toán quản trị” “Kế toán đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý các hoạt động kinh tế, tài chính của các doanh nghiệp. Chức năng của kế toán là cung cấp các thông tin cần thiết về tình hình và sự vận động của tài sản trong quá trình SXKD của doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụng với các mục đích sử dụng khác nhau.
Sự khác nhau đó chia hệ thống thông tin kế toán thành hai bộ phận. Sự khác 11 nhau đó là tiền đề hình thành kế toán quản trị, một bộ phận của hệ thống kế toán trong doanh nghiệp. ho đến nay đã có một số quan điểm khác nhau về KTQT, như:” “ Theo Luật kế toán Việt Nam (2015), KTQT được định nghĩa là “Việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.” “Theo giáo trình Kế toán quản trị của Trường Đại học Thương Mại (2006) “KTQT là khoa học thu nhận, xử lý cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh một cách cụ thể phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp”.” “Theo giáo trình Kế toán quản trị của Nguyễn Ngọc Quang – Đại học KTQD (2012) thì “KTQT là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể. Các thông tin đó giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định, liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị nhằm tối ưu hóa các mục tiêu”.” “Như vậy, có thể hiểu “K Q là một bộ phận của kế toán nhằm thu thập, xử lý và cung cấp thông tin dưới dạng các báo cáo KTQT phục vụ cho nhà quản trị DN ra quyết địn liên quan đến các chức năng quản trị DN”.” “Kế toán quản trị là một phân hệ kế toán trong các tổ chức hoạt động.
Do đó kế toán quản trị cũng có đối tượng nghiên cứu chung của kế toán là tài sản, nguồn vốn gắn với các quan hệ tài chính. Bên cạnh đó kế toán quản trị còn nghiên cứu những đối tượng đặc thù và cụ thể hóa nhằm cung cấp các thông tin nhanh, chính xác cho các cấp quản trị đạt được mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận:” “- Nghiên cứu sâu về chi phí của DN theo các góc độ khác nhau như phân loại chi phí, dự toán chi phí, xây dựng định mức chi phí, phân tích mối quan hệ 12 giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận. nhằm mục đích kiểm soát và quản lý chi phí chặt chẽ và dự toán chi phí chính xác để tối thiểu hóa chi phí.” “- Kế toán quản trị các yếu tố sản xuất như lao động, hàng tồn kho và tài sản cố định nhằm khai thác tối đa các yếu tố sẵn có, đảm bảo chi phí thấp nhất và lợi nhuận cao nhất, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của thị trường.” “- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu, lợi nhuận thông qua các hệ thống báo cáo kết quả kinh doanh trong việc hình thành các quyết định điều hành hoạt động của doanh nghiệp.” “- Xây dựng các trung tâm trách nhiệm, phân tích chi phí, doanh thu và lợi nhuận theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp để đưa ra các quyết định cần đầu tư thêm hay thu hẹp hoặc chấm dứt hoạt động của từng bộ phận nhằm phát triển và bảo đảm an toàn của vốn kinh doanh. Đồng thời xác định trách nhiệm của cá nhân, bộ phận trong tổng thể doanh nghiệp.” “- Cung cấp các thông tin cần tiết để làm sáng tỏ việc đưa ra quyết định kinh doanh hiện tại và tương lai.
Xây dựng các dự toán chi phí, doanh thu và kết quả tài chính nhằm dự báo các kết quả kinh doanh diễn ra theo kế hoạch.” “- Phân tích và lựa chọn các phương án đầu tư ngắn hạn và dài hạn để đảm bảo an toàn và phát triển vốn trong hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất. Khái niệm kế toán quản trị chi phí” “ Những phân tích trên cho thấy một bộ phận của KTQT là KTQT chi phí. Theo Đào Thị Minh Tâm (2009) thì: “Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị chuyên thực hiện việc xử lý và cung cấp thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định”.” “Với tư cách là một bộ phận của hệ thống KTQT, KTQT P được thực hiện nhằm thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí của DN. Mục đích là giúp các nhà quản trị tại DN có thể quản trị được các yếu tố nguồn lực tiêu dùng 13 cho các hoạt động thông qua xây dựng KH, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra quyết định.” “Về bản chất, KTQTCP là một bộ phận của KTQT nên cũng có đầy đủ bản chất của KTQT.
Tuy nhiên, KTQT P được sử dụng nhằm cung cấp thông tin về chi phí bao gồm CP liên quan trực tiếp đến SX và CP ngoài sản xuất của doanh nghiệp cho các nhà quản trị để đưa ra các quyết định kinh doanh cũng như kiểm soát sử dụng chi phí một cách có hiệu quả, tránh lãng phí. Chức năng và đối tượng của kế toán quản trị chi phí” “1. Chức năng của kế toán quản trị chi phí” “Kế toán quản trị chi phí với mục tiêu cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong nội bộ. Do vậy, chức năng của KTQTCP là thu thập, xử lý, p hân tích, cung cấp thông tin và lập dự toán phục vụ quản trị chi phí.