Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất; Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH TSK Việt Nam; Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH TSK Việt Nam. 8 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất 1.
Khái niệm chi phí sản xuất Quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có thể khái quát với 3 giai đoạn cơ bản có mối quan hệ mật thiết với nhau. Giai đoạn 1: Quá trình mua sắm, chuẩn bị các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh. Giai đoạn 2: Quá trình tiêu dùng, biến đổi các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh một cách có mục đích. Giai đoạn 3: Quá trình tiêu thụ, kết quả cuối cùng của quy trình sản xuất kinh doanh.
Hoạt động của doanh nghiệp thực chất là sự vận động, kết hợp, tiêu dùng, chuyển đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh đã bỏ ra để tạo thành các sản phẩm, dịch vụ. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 – Chuẩn mực chung, tại đoạn 31: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu” [1, 46]. Theo đó, chi phí được xem xét theo từng kỳ kế toán và là các khoản mục trong BCTC và chi phí được ghi nhận, phản ánh theo những nguyên tắc nhất định. Xét theo tính chất cá biệt thì chi phí sản xuất bao gồm tất cả các chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để tồn tại và tiến hành các hoạt động sản xuất, bất kể đó là chi phí cần thiết hay không cần thiết, khách quan hay chủ quan.
Trong cùng một thời kỳ, ở cùng một doanh nghiệp, chi phí và chi tiêu không hoàn toàn giống nhau 9 cả về định lượng và định tính, có trường hợp là chi phí nhưng không phải là chi tiêu và ngược lại có khoản chi tiêu nhưng chưa hoặc không phải là chi phí. Trong một doanh nghiệp sản xuất thì toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ trong một thời kỳ nhất định được biểu hiện bằng tiền được tính là chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Theo chế độ kế toán Việt Nam: “CPSX là biểu hiện bằng tiền về toàn bộ các hao phí lao động sống, lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ”. Trong đó, chi phí lao động sống bao gồm: Tiền lương, các khoản trích theo lương và các khoản có tính chất tiền lương.
Còn lao động vật hóa bao gồm: Chi phí NVL, chi phí nhiên liệu, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho sản xuất… Chi phí sản xuất là cơ sở để tạo nên giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành, nên quản lý chặt chẽ CPSX là mục tiêu hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Có thể kết luận rằng: Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Phân loại chi phí sản xuất Do chi phí sản xuất kinh doanh có rất nhiều loại nên cần thiết phải phân loại chi phí nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán chi phí. Đồng thời xuất phát từ các mục đích và yêu cầu khác nhau, chi phí sản xuất cũng được phân loại theo các tiêu thức khác nhau, cụ thể như sau: a, Phân loại chi phí SXKD theo tính chất, nội dung kinh tế của chi phí.
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo yếu tố. Theo cách phân loại này thì chi phí sản xuất nếu có cùng nội dung kinh tế thì được sắp xếp vào một yếu tố bất kể nó phát sinh ở bộ phận nào, dùng để sản xuất ra sản phẩm nào. Theo đó, toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành các chi phí như sau: 10 - Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Chi phí NVL bao gồm giá mua, chi phí mua của NVL dùng vào hoạt động SXKD trong kỳ. Yếu tố này bao gồm: Chi phí NVL chính, chi phí NVL phụ, chi phí nhiên liệu, chi phí phụ tùng thay thế, chi phí vận chuyển, bốc xếp và chi phí NVL khác sử dụng vào sản xuất (loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi); - Chi phí nhân công: Phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương, tiền trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả cho toàn bộ công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp; - Chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp; - Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào hoạt động sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp; - Chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất trong kỳ.
b, Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí. Theo cách phân loại này, các chi phí sản xuất được phân loại theo công dụng kinh tế của chi phí. Cụ thể phân loại như sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí NVL chính, vật liệu phụ, nhiên liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. - Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất và các khoản tính trích BHXH, BHYT, BHNT, KPCĐ theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung: là những khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất. Chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau: + Chi phí nhân viên quản lý phân xưởng: Bao gồm giá trị tiền lương, các khoản phải trả, các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng, đội sản xuất. 11 + Chi phí vật liệu: Bao gồm chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất với mục đích là phục vụ quản lý sản xuất. + Chi phí CCDC: Bao gồm chi phí về CCDC dùng ở phân xưởng để phục vụ và quản lý sản xuất.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ thuộc các phân xưởng sản xuất quản lý và sử dụng. + Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xưởng và đội sản xuất. + Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi phí trực tiếp bằng tiền dùng cho việc phục vụ và quản lý sản xuất ở phân xưởng sản xuất. c) Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo phương pháp hạch toán quy nạp chi phí cho các đối tượng chịu chi phí.
Theo tiêu thức này chi phí sản xuất kinh doanh được chia làm 2 loại: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. - Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến đối tượng kế toán tập hợp chi phí (như từng loại sản phẩm, công việc, hoạt động, đơn đặt hàng, …). Loại chi phí này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí, chúng dễ nhận biết và hạch toán chính xác, ví dụ như: chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp. - Chi phí gián tiếp: Là các loại chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí khác nhau nên không thể hạch toán trực tiếp được, mà hạch toán cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp.
Khi thực hiện phân bổ chi phí cho từng đối tượng; doanh nghiệp cần phải lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ cho phù hợp. Mức độ chính xác của chi phí phân bổ cho từng đối tượng phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêu chuẩn phân bổ lựa chọn. Vì vậy, các nhà quản lý doanh nghiệp phải quan tâm đến việc lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ chi phí nếu muốn có những thông tin đúng đắn, trung thực về chi phí, kết quả, lợi nhuận cho từng loại sản phẩm, dịch vụ và từng hoạt động của doanh nghiệp. d) Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ 12 - Biến phí: Là những khoản mục chi phí mà mức độ lớn của nó có quan hệ tỷ lệ thuận với mức độ của hoạt động: Giá vốn hàng mua, hoa hồng bán hàng.
- Định phí: Là những khoản chi phí mà độ lớn của nó không biến động khi mức độ của hoạt động thay đổi: Khấu hao máy móc, chi phí thuê nhà - Chi phí hỗn hợp: Là những chi phí mà bản thân nó bao gồm các yếu tố biến phí và định phí. Ở mức độ hoạt động cơ bản, chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm của định phí.