CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài luận án. Ra đời vào cuối những năm 1980 của thế kỷ XX trong bối cảnh đòi hỏi các nhà kế toán trên thế giới tìm ra một số bài toán để giải quyết vấn đề lỗi thời, suy giảm tính hữu ích của các phương pháp kế toán chi phí truyền thống, kế toán chi phí theo mức độ hoạt động (gọi tắt là kế toán ABC) nổi lên như một giải pháp được lựa chọn. Với những ưu thế đã được khẳng định, kế toán ABC đã được rất nhiều nhà nghiên cứu, quản lý tìm hiểu, vận dụng và trở thành một mảng nghiên cứu thực tế quan trọng trong lĩnh vực kế toán quản trị.
Tầm quan trọng của phương pháp được các nhà nghiên cứu khẳng định như một kỹ xảo cung cấp thông tin chi phí sản phẩm, dịch vụ một cách chính xác hơn nhằm hỗ trợ các quyết định chiến lược. Được Kaplan và Cooper giới thiệu từ những năm 1980, kế toán ABC đã làm thay đổi những quan điểm về tính hữu ích của hệ thống kế toán chi phí đối với việc ra quyết định của các nhà quản trị (Kaličanin và Knežević, 2013). Theo quan điểm học thuật, nó đại diện cho sự tiến bộ trong khoa học tri thức. Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh trong các công trình nghiên cứu của họ với các bằng chứng về ưu điểm của phương pháp này trong quá trình kiểm soát chi phí, nhằm bù đắp những thiếu hụt về nhu cầu thông tin để có được chi phí cạnh tranh.
Các nhà quản trị cũng quan tâm đến phương pháp kế toán mới này và tìm cách hoàn thiện nó như một giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh và phát triển chiến lược cho doanh nghiệp. Cho đến nay, đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về kế toán ABC dưới nhiều góc độ. Có thể tổng hợp các công trình nghiên cứu đó theo các hướng chính như sau: 1. Nghiên cứu so sánh kế toán ABC với phương pháp kế toán truyền thống Các nghiên cứu theo khía cạnh này thường xuất phát từ những hạn chế của phương pháp kế toán truyền thống trong việc xác định giá thành sản phẩm, dịch vụ của một công ty, bằng cách sử dụng giá thành theo hệ thống chi phí hiện tại với kết quả tính toán theo kế toán ABC.
Các tác giả trong bài báo “Activity – Based Costing: the new management tool” đã đề cập đến phương pháp kế toán chi phí theo hoạt động với 2 đặc điểm cơ 7 bản: Thứ nhất, giá thành sản phẩm theo phương pháp kế toán ABC gồm toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ, kể cả các chi phí gián tiếp ngoài sản xuất như chi phí (CP) bán hàng, CP quản lý doanh nghiệp (QLDN). Thứ hai, đặc trưng của phương pháp này là phân bổ CP vào giá thành sản phẩm dựa trên mức hoạt động và mức độ đóng góp của mỗi hoạt động vào quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (Naughton-Travers, 2001). Chính vì vậy, dẫn đến sự khác biệt về tính chính xác của giá thành sản phẩm so với phương pháp kế toán CP truyền thống Sự khác biệt trong phân tích chi phí sản phẩm, dịch vụ theo hai phương pháp còn được trình bày trong kết quả của nhiều nghiên cứu (Bhimani và Pigott, 1992; Cooper và Kaplan, 1987; Greeson và Kocakulah, 1997). Hầu hết các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng, dựa trên cơ sở phân tích các hoạt động, kế toán ABC cung cấp thông tin về giá thành sản phẩm, dịch vụ chính xác hơn so với phương pháp truyền thống.
Bjørnenak và Mitchell (2002) đã phân tích các tài liệu về phương pháp kế toán ABC được tích lũy trong các tạp chí kế toán Anh và Hoa Kỳ trong thời gian mười bốn năm kể từ khi các bài viết đầu tiên xuất bản. Họ đưa ra các bằng chứng tiếp cận phương pháp kế toán ABC theo chiều dọc và chiều ngang để hiểu rõ hơn về cách thức để bắt đầu, quá trình truyền đạt, phát triển và thay đổi. Nghiên cứu cho thấy phương pháp kế toán ABC tốt hơn so với phương pháp kế toán chi phí truyền thống khi vận dụng trong các doanh nghiệp sản xuất. Một số nhà nghiên cứu khác cũng nhấn mạnh ưu điểm của kế toán ABC đối với các công ty hoạt động trong một số lĩnh vực cụ thể.
Điển hình là luận án “hệ thống kế toán quản trị trong lĩnh vực dịch vụ: nghiên cứu thực nghiệm với các thước đo hiệu quả phi tài chính trong các ngân hàng của Phần Lan, Thụy Điển, Nhật Bản và các tổ chức tài chính khác”. Dựa trên tình hình áp dụng kế toán ABC của 32 công ty dịch vụ tài chính và ngân hàng, tác giả đã chỉ ra các hạn chế của hệ thống kế toán truyền thống và ưu điểm của kế toán ABC trong các doanh nghiệp này. Nội dung chủ yếu của luận án tập trung vào vai trò của KTQT trong đo lường và đánh giá hiệu quả bằng các chỉ tiêu phi tài chính trong các ngân hàng và các tổ chức tài chính của Phần Lan, Thụy Điển và Nhật Bản (Hussain, 2000). Innes và Mitchell (1995) nghiên cứu về lợi ích và các ứng dụng của thông tin kế toán ABC, kết quả cho thấy rằng kế toán ABC đã có một tác động tích cực trong tất cả các lĩnh vực kế toán quản trị cốt lõi: định giá cổ phiếu, việc ra quyết định, kiểm soát, đo lường hiệu suất và đánh giá.
Liên quan đến những lợi ích và sự hài lòng về kế toán ABC, các báo cáo cho rằng kế toán ABC cung cấp việc phân tích sâu hơn, các thông tin cung cấp cho việc ra 8 quyết định có giá trị hơn, hiệu quả hơn. Hơn nữa, phương pháp này cũng cung cấp giá thành sản phẩm chính xác hơn, cải thiện khả năng sinh lời của sản phẩm, và đánh giá hiệu quả vốn đầu tư. Những phát hiện này cho thấy rằng kế toán ABC sẽ được sử dụng để hiểu rõ các tiêu thức phân bổ chi phí, sự tác động và ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm để tạo điều kiện cho việc ra các quyết định chiến lược về giá cả và hiệu suất lợi nhuận của mỗi dòng sản phẩm. Các nghiên cứu về tỷ lệ vận dụng phương pháp kế toán ABC Innes và Mitchell (1995) với nghiên cứu “A survey of Activity-Based Costing in the UK’s largest companies”, công bố trên Management Accounting Research sử dụng các kết quả của một cuộc khảo sát năm 1994 về phương pháp kế toán ABC trong 1000 công ty lớn nhất tại Anh.
Cuộc khảo sát được dựa trên một bảng câu hỏi cho các công ty niêm yết trên tờ Times 1000 (1994), và gửi đến 1000 công ty phi tài chính cùng với 60 công ty tài chính hàng đầu (công ty quản lý đầu tư đã được loại trừ). Về thực trạng vận dụng kế toán ABC, các kết quả cho thấy 21% số người được hỏi đã sử dụng kế toán ABC, 29,6% đang trong quá trình xem xét chấp nhận, 13,3% đã từng từ chối sau khi đánh giá và 36,1% đã không quan tâm đến việc áp dụng kế toán ABC. Năm 1997, Van Nguyen và Brooks đã tiến hành một cuộc khảo sát ở bang Victoria, Úc. Các câu hỏi đã được gửi đến 350 công ty sản xuất của Úc và 120 phản hồi tương ứng với tỷ lệ 34%.
Kết quả báo cáo rằng chỉ có 12,5% (15 công ty) đã sử dụng kế toán ABC, 2,5% (3 công ty) từ chối thực hiện, 8,3% (10 công ty) chỉ ra rằng họ đang có có ý định áp dụng kế toán ABC trong tương lai, còn lại 76,7% (92 công ty) không có kế hoạch sử dụng phương pháp kế toán này. Những phát hiện của nghiên cứu này cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các công ty áp dụng kế toán ABC và những đơn vị không áp dụng kế toán ABC là sự phức tạp của quá trình sản xuất, quy mô doanh nghiệp và mức độ cạnh tranh (Van Nguyen và Brooks, 1997). Năm 2000, trong một cuộc khảo sát 1.000 công ty lớn ở Anh về thực trạng chấp nhận, triển khai kế toán ABC và xây dựng mô hình chuẩn cho phương pháp này trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 1999, Innes và cộng sự (2000) báo cáo kết quả vận dụng chủ yếu tập trung vào các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính. Song cũng trong báo cáo thể hiện sự tăng lên về con số thất bại trong vận dụng, từ chối sử dụng hoặc không quan tâm đến phương pháp này.
Số công ty triển khai thực sự không nhiều trong đó bao gồm cả các công ty mới chỉ ở mức độ vận dụng thử nghiệm hoặc một phần (17,5%). Tuy nhiên, các tác giả cũng kết luận ở giai đoạn nghiên cứu các công ty có khuynh hướng triển khai kế toán ABC nhưng kinh nghiệm và kỹ thuật triển khai 9 vẫn còn là vấn đề đáng bàn. Cũng vì lý do này mà tỷ lệ công ty từ bỏ hoặc không quan tâm đến phương pháp kế toán hiện đại như ABC vẫn còn ở mức 7,9% (Innes và cộng sự, 2000). Pierce và Brown (2004) thực hiện một nghiên cứu ở Ireland trong bài “An Empirical study of Activity-Based systems in Ireland, The Irish Accounting Review” đã tiến hành một cuộc khảo sát các công ty sản xuất lớn, và các tổ chức tài chính để điều tra tình trạng vận dụng kế toán ABC tại Ireland.
Bảng khảo sát có sử dụng một loạt các câu hỏi kế thừa từ nghiên cứu của Innes và cộng sự (2000) đã được gửi qua đường bưu điện cho từng cá nhân trong mỗi công ty. Tổng tỷ lệ phản hồi của nghiên cứu là 23,2% trong số 550 phiếu được gửi. Kết quả cho thấy tỷ lệ vận dụng cao hơn so với báo cáo trước đó ở Ireland. Khoảng 28% số công ty trả lời đã triển khai thực hiện kế toán ABC, 52,4% công ty trả lời đã không xem xét đến vấn đề này, 9% công ty trả lời vẫn còn đang nghiên cứu và 10,7% đã từng từ chối việc triển khai.
Nhiều nhà khoa học nghiên cứu về các tỷ lệ vận dụng phương pháp kế toán ABC trong các lĩnh vực khác nhau của hầu hết các nước có nền kinh tế hiện đại. Một số khảo sát cho thấy xu hướng gia tăng trong việc áp dụng và thực hiện phương pháp kế toán ABC ở các nước phát triển (Baird và cộng sự, 2004), như ở Hoa Kỳ, Anh và Pháp, các cuộc khảo sát từ đầu những năm 1990 và 2008 đã chỉ ra mức độ gia tăng vận dụng kế toán ABC ở mỗi quốc gia này.