phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 4 chƣơng : Chƣơng 1: Tổng quan công trình nghiên cứu và cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 4 Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Đánh giá các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hải Phòng Chƣơng 4: Một số biện pháp hoàn thiện nhằm tăng cƣờng vận dụng kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Hải Phòng 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.1 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQTCP trong DN Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DN đƣợc nhiều tác giả quan tâm nhằm phân tích, đánh giá sự tác động của các nhân tố và cung cấp cơ sở giúp nhà quản trị triển khai thành công KTQTCP trong công tác quản trị DN. Nổi bật trong các công trình này là các nghiên cứu của các tác giả Abdel-Kader và Luther (2008), Wu và cộng sự (2007), Ahmad (2012), Shahzadi và cộng sự (2018), Trần Ngọc Hùng (2016), Bùi Tiến Dũng (2018), Thái Anh Tuấn (2019), Lê Văn Tân (2021), Hoàng Thị Tâm (2022). Abdel-Kader và Luther (2008) trong nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến vận dụng KTQT tại các DN sản xuất và kinh doanh thực phẩm, đồ uống tại Anh đã chỉ ra 5 yếu tố: sự không chắc chắn về môi trƣờng; nguồn lực khách hàng; mức độ phân quyền; quy mô DN; vận dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, áp dụng mô hình quản lý chất lƣợng toàn diện, mô hình quản lý sản xuất tinh gọn ảnh hƣởng đến việc vận dụng KTQT trong DN. Wu và cộng sự (2007) nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng KTQT trong các DN liên doanh Trung Quốc đã đƣa vào mô hình nghiên cứu các biến độc lập là quy mô, đối tác nƣớc ngoài, kiến thức của nhà quản trị cấp cao và kiến thức của nhân viên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô và kiến thức của nhà quản trị cấp cao có ảnh hƣởng đáng kể đến việc vận dụng KTQT trong DN. Ahmad (2012) đã chỉ ra quy mô DN, mức độ cạnh tranh trên thị trƣờng, cam kết của nhà quản trị, trình độ nhân viên kế toán và công nghệ sản xuất tiên tiến có ảnh hƣởng đáng kể đến việc vận dụng KTQT tại các DN nhỏ và vừa ở Malaysia. Shahzadi và cộng sự (2018), nghiên cứu tại Pakistan đã chỉ ra ảnh hƣởng của sự không chắc chắn về môi trƣờng, mức độ cạnh tranh, kỹ thuật sản xuất hiện đại, mô hình quản lý chất lƣợng toàn diện, mô hình quản lý sản xuất tinh gọn có ảnh hƣởng đến vận dụng KTQT. Trần Ngọc Hùng (2016) nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong các DN nhỏ và vừa tại Việt Nam khẳng định quy mô DN, văn hóa DN, chiến lƣợc kinh doanh của DN, mức độ cạnh tranh của thị trƣờng, mức độ nhận thức về 6 KTQT của chủ sở hữu/ nhà quản lý DN, mức độ sở hữu của Nhà nƣớc có tác động thuận chiều với mức độ vận dụng KTQT trong các DN.
Ngƣợc lại, yếu tố chi phí tổ chức KTQT có tác động ngƣợc chiều đến vận dụng KTQT trong DN. Nghiên cứu của Bùi Tiến Dũng (2018) về các yếu tố ảnh hƣởng đến tổ chức KTQT trong các DN sản xuất giấy đã chỉ ra mức độ cạnh tranh của thị trƣờng, công nghệ và kỹ thuật sản xuất, quy mô của DN, sự tham gia của các nhà quản lý và trình độ của nhân viên kế toán ảnh hƣởng thuận chiều đến tổ chức KTQT. Kết quả nghiên cứu của Thái Anh Tuấn (2019) đã chỉ ra áp lực cạnh tranh, mức độ phân quyền trong DN, công nghệ thông tin, sự quan tâm của nhà quản trị đến KTQT và trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán có tác động thuận chiều đến việc áp dụng kỹ thuật KTQT trong các DN miền Bắc Việt Nam. Nhƣ vậy, tuỳ theo đối tƣợng nghiên cứu và bối cảnh nghiên cứu, mỗi tác giả sẽ đề cập các nhân tố khác nhau có tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DN.
Thứ nhất, nhận thức của nhà quản trị: đây là nhân tố đƣợc nhiều tác giả quan tâm và đƣa vào mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DN. Wu và cộng sự (2010) cho rằng khi nhà quản trị có kiến thức, hiểu biết và nhận thức rõ về lợi ích của KTQTCP sẽ thúc đẩy việc triển khai áp dụng công cụ này trong công tác quản trị DN. Ngƣợc lại, khi nhà quản trị DN không có sự am hiểu, nhận thức về lợi ích của KTQTCP còn nhiều hạn chế sẽ gây cản trở việc vận dụng KTQTCP trong DN. Tƣơng tự, nghiên cứu của Ahmad (2012), Trần Ngọc Hùng (2016), Bùi Tiến Dũng (2018), Thái Anh Tuấn (2019), Lê Văn Tân (2021), Hoàng Thị Tâm (2022).
cũng đều tìm thấy mối quan hệ giữa nhân tố này với việc vận dụng KTQTCP trong DN. Các nghiên cứu đều xác định sự tác động tích cực của nhận thức của nhà quản trị về KTQTCP đến việc áp dụng KTQTCP trong DN. Thứ hai, trình độ nhân viên kế toán: Ahmad (2012), Wu và cộng sự (2010), Bùi Tiến Dũng (2018), Thái Anh Tuấn (2019), Lê Văn Tân (2021), Hoàng Thị Tâm (2022) tiến hành đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của năng lực nhân viên kế toán đến việc vận dụng KTQTCP và kết quả đều cho thấy nhân tố này tác động tích cực đến việc vận dụng KTQTCP trong các DN. Nghiên cứu của Ahmad (2012) cho rằng đây là nhân tố bên trong DN ảnh hƣởng đến mức độ vận dụng KTQT trong DN nhỏ và vừa tại Malaysia.
Thái Anh Tuấn (2019) đã chỉ ra trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán có tác động mạnh mẽ 7 nhất. Nhân viên kế toán có năng lực cao sẽ hỗ trợ việc phát triển hệ thống KTQT và phân tích thông tin KTQT. Thứ ba, phân quyền trong DN: ảnh hƣởng của yếu tố phân quyền đến việc vận dụng KTQTCP đƣợc Abdel-Kader và Luther (2008), Trần Ngọc Hùng (2016) và Thái Anh Tuấn (2019) nghiên cứu và cho kết quả là việc phân quyền trong DN có tác động tích cực đến việc vận dụng KTQTCP. Abdel-Kader và Luther (2008) khẳng định các DN phân quyền thành công thƣờng thiết kế và vận dụng KTQTCP phù hợp nhằm cung cấp thông tin kịp thời cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định.
Đồng quan điểm với Abdel-Kader và Luther (2008), Trần Ngọc Hùng (2016) và Thái Anh Tuấn (2019) cũng nhận định phân quyền có ảnh hƣởng tích cực đến vận dụng KTQTCP trong các DN. Việc phân quyền trong DN đã thúc đẩy nhu cầu về thông tin cho quản trị DN ở các cấp từ đó tác động đến nhu cầu sử dụng KTQTCP. Thứ tư, công nghệ sản xuất: Khi nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DN, nhiều tác giả đã kiểm chứng sự tác động của nhân tố công nghệ sản xuất. Điển hình là nghiên cứu của Abdel-Kader và Luther (2008), Ahmad (2012), Shahzadi và cộng sự (2018), Bùi Tiến Dũng (2018), Thái Anh Tuấn (2019), Lê Văn Tân (2021), Hoàng Thị Tâm (2022).
Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã chỉ ra công nghệ sản xuất là yếu tố có ảnh hƣởng tích cực đến việc áp dụng KTQTCP, khuyến khích việc thay đổi hệ thống KTQTCP trong các DN. Khi các DN áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến thƣờng vận dụng các kỹ thuật KTQT ở mức cao và phức tạp (Ahmad, 2012). Phát hiện này có sự tƣơng đồng với kết quả nghiên cứu của Abdel – Kader và Luther (2008) khi cho rằng các DNSX có công nghệ sản xuất tiên tiến thƣờng lựa chọn áp dụng các kỹ thuật KTQTCP hiện đại hơn các kỹ thuật KTQTCP truyền thống. Thứ năm, ứng dụng công nghệ thông tin: Kết quả nghiên cứu của Thái Anh Tuấn (2019) cho thấy sự hỗ trợ của công nghệ thông tin làm cho việc áp dụng KTQTCP thuận lợi hơn, các DN ứng dụng mạnh mẽ hệ thống công nghệ thông tin thƣờng tăng cƣờng vận dụng KTQT để cải thiện, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Theo tác giả, tại những DN đã triển khai ứng dụng công nghệ thông tin thì việc vận dụng KTQTCP diễn ra nhanh chóng, hiệu quả. 8 Thứ sáu, quy mô DN: Các công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng quy mô DN có ảnh hƣởng quan trọng đến việc áp dụng KTQT, các DN lớn thƣờng tăng cƣờng sử dụng các kỹ thuật KTQT phức tạp hơn. Abdel-Kader và Luther (2008) đã phát hiện các DN có quy mô lớn với tiềm lực tài chính dồi dào sẽ dễ dàng tiếp cận và triển khai áp dụng KTQTCP hơn các DN quy mô nhỏ. Đồng thời, tác giả nhận thấy các DN có quy mô lớn sẽ lựa chọn vận dụng KTQTCP ở mức độ phức tạp hơn so với DN có quy mô nhỏ (Abdel – Kader và Luther, 2008).
Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Wu và cộng sự (2007), Ahmad (2012), Trần Ngọc Hùng (2016), Bùi Tiến Dũng (2018). Thứ bảy, mức độ cạnh tranh: Nghiên cứu của Ahmad (2012), Shahzadi và cộng sự (2018), Trần Ngọc Hùng (2016), Bùi Tiến Dũng (2018), Thái Anh Tuấn (2019), Hoàng Thị Tâm (2022) đều cho rằng mức độ cạnh tranh trên thị trƣờng ngày càng tăng đòi hỏi các DN phải sử dụng chi phí và kiểm soát các nguồn lực sử dụng trong quá trình SXKD càng chặt chẽ hơn, ra quyết định hiệu quả hơn. Từ đó nhà quản trị cần nhiều thông tin chi phí để phục vụ cho quá trình kiểm soát, quản trị chi phí, trong đó thông tin KTQT tin cậy sẽ đƣợc ƣu tiên sử dụng cho mục đích ra quyết định nhằm cạnh tranh hiệu quả. Do vậy các DN tích cực triển khai áp dụng KTQTCP nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu này.
Ngoài các nhân tố trên, các tác giả còn nghiên cứu ảnh hƣởng của một số nhân tố khác đến việc vận dụng KTQTCP trong DN nhƣ: sự không chắc chắn về môi trường (Abdel-Kader và Luther, 2008; Shahzadi và cộng sự, 2018); nguồn lực khách hàng (Abdel-Kader và Luther, 2008); đối tác nước ngoài (Wu và cộng sự, 2007); mức độ sở hữu của Nhà nước (Trần Ngọc Hùng, 2016). Nhƣ vậy, các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DN đƣợc nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc thực hiện.