ĐẶT VẤN ĐỀ Vỡ xương sọ là tổn thương hay gặp trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB). Về định nghĩa vỡ xương sọ là sự phá huỷ một hoặc nhiều xương của hộp sọ. Trong chấn thương sọ não nặng, mảnh xương vỡ có thể bị di chuyển và làm tổn thương mạch máu ở màng não hoặc xé rách màng não dẫn đến chảy máu hoặc tổn thương não, nhiễm trùng, động kinh, mất trí sau chấn thương… và nặng hơn là tử vong. Tỷ lệ vỡ xương sọ trong các nghiên cứu lâm sàng là 44/100000, phần lớn là vỡ đơn giản (53%), vỡ xương hở, vỡ nền sọ trong khoảng từ 12% - 19%.
Trong số các loại tai nạn thương tích, tỷ lệ vỡ xương sọ do TNGTĐB là 38% chiếm khoảng 50% trong số các hình thái chấn thương sọ não (CTSN).1 CTSN có nhiều nguyên nhân nhưng hay gặp nhất là tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB). CTSN gây hậu quả nặng về sức khỏe, kinh tế gia đình và xã hội, là nguyên nhân gây chết đứng hàng thứ ba sau ung thư, tim mạch nhưng là nguyên nhân hàng đầu ở lứa tuổi 15 – 45. Hàng năm tại Mỹ có 1,6 triệu nạn nhân CTSN trong đó 52 000 tử vong, 90.000 mang di chứng thần kinh suốt đời.2 Ở Việt Nam CTSN do tai nạn giao thông đường bộ có tốc độ gia tăng nhanh chóng với tỷ lệ 79,28%, tỷ lệ tử vong là 25/100.3,4 Số liệu thống kê tại bệnh viện Việt Đức mỗi năm khám và điều trị từ 5000 – 8000 nạn nhân, tử vong khoảng 500 – 700; bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh) điều trị 15.000 nạn nhân CTSN hàng năm và tử vong khoảng 1000 – 1500 trường hợp.3 Chức năng của giám định Y- Pháp (GĐYP) trong các vụ TNGT là xác định nguyên nhân tử vong, cơ chế gây thương tích, dựng lại hiện trường vụ tai nạn và nghiên cứu đặc điểm tổn thương của những nạn nhân tử vong nhằm tìm ra những biện pháp phòng tránh TNGT phù hợp nhất, đồng thời giúp các 2 thầy thuốc lâm sàng trong chẩn đoán, hồi sức cấp cứu, tiên lượng và điều trị những người bị tai nạn được tốt hơn. Mặc dù đã có quy định của luật pháp về chức năng GĐYP trong các vụ TNGT, nhưng trên thực tế ở nước ta, việc khám nghiệm tử thi không phải lúc nào cũng thuận lợi do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, dẫn đến chất lượng giám định không cao.
Đã có nhiều vụ việc giám định viên không giải thích được cơ chế hình thành dấu vết thương tích và nguyên nhân tử vong của nạn nhân, đặc biệt trong những trường hợp CTSN có vỡ xương sọ cùng các tổn thương nội sọ, do vậy đã gây không ít khó khăn cho công tác điều tra xét xử và đặc biệt là góp phần tìm ra những nguyên nhân cùng giải pháp nhằm làm giảm bớt số vụ tai nạn giao thông. Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu hình thái vỡ xƣơng sọ và mối liên quan với tổn thƣơng nội sọ do tai nạn giao thông đƣờng bộ” với mục tiêu: 1. Đặc điểm hình thái vỡ xương sọ và tổn thương nội sọ trong những trường hợp tử vong do tai nạn giao thông đường bộ. Phân tích mối liên quan giữa vỡ xương sọ với các tổn thương nội sọ.
3 CHƢƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Tình hình TNGT đƣờng bộ Tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) là TNGT xảy ra đối với những phương tiện giao thông đang tham gia giao thông trên các tuyến đường bộ hay trên đường chuyên dùng và đối với người đi bộ.1 Trên thế giới Cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 thế giới đã chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của các loại phương tiện giao thông. Tăng trưởng mạnh nhất là các loại phương tiện giao thông đường bộ, mỗi năm thế giới lại sản xuất thêm hàng triệu xe gắn máy, ô tô đủ mọi chủng loại. Trong khi đó, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ chưa đảm bảo về quy mô và chất lượng, đặc biệt ở các nước kém phát triển và đang phát triển. TNGTĐB ngày càng tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng không chỉ gây thiệt hại lớn về kinh tế mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe, tinh thần của con người.
Đặc biệt, TNGTĐB đang là vấn đề xã hội mang tính toàn cầu mà các quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt vì thế mà tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khẳng định “Tai nạn giao thông đã trở thành một đại dịch của nhân loại”.2 Năm 2013 WHO đã tiến hành khảo sát toàn diện tình hình TNGT trên thế giới và đưa ra một bản báo cáo đầy đủ về bức tranh TNGT toàn cầu. Đây là cơ sở để thực hiện Chương trình “Hành động thập kỷ an toàn giao thông giai đoạn 2011 - 2020” của Tổ chức này.2 Mặc dù vậy, số vụ TNGT hàng năm trên toàn cầu vẫn không ngừng tăng lên. Mỗi năm trên thế giới có khoảng 1,24 triệu người chết và 50 triệu người bị thương do TNGT. Như vậy, trung bình mỗi ngày khoảng 3.400 người chết vì TNGT trên đường bộ.
Trong đó, những người ở độ tuổi từ 15 đến 44 chiếm 59% và 77% số người chết là nam giới. Tỷ lệ chết do TNGT theo nhóm tuổi và mức thu nhập 2 (nguồn WHO 2013) Số liệu nghiên cứu cũng chỉ ra phân bố TNGT trên phạm vi toàn cầu dựa trên tiêu chí mức thu nhập, các nước có mức thu nhập trung bình có tỉ lệ người chết do TNGT cao nhất (20,1 người chết/100.000 dân), thấp nhất là các nước có mức thu nhập cao (8,7 người chết/100.000 dân), trong khi tỉ lệ người chết do TNGT trung bình trên thế giới hiện là 18 người chết/100. Trên thực tế các nước có mức thu nhập trung bình có số lượng phương tiện giao thông chiếm 52% tổng số toàn cầu, còn các nước có mức thu nhập cao chiếm 47%, như vậy số lượng gần ngang nhau (hình 1.2 Điều đó cho thấy, số người chết do TNGT không tỉ lệ với số lượng phương tiện mà do các nguyên nhân quan trọng khác như: trình độ dân trí, hiểu biết luật giao thông, ý thức tham gia giao thông và kết cấu hạ tầng giao thông. Biểu đồ Dân số, Số người chết do TNGT, Số phương tiện giao thông 2 (nguồn WHO 2013) Hình 1.
Tỷ lệ người chết vì TNGT theo địa lý 2 (nguồn WHO 2013) Về phân loại theo phương tiện tham gia giao thông cho thấy, một nửa số trường hợp chết do TNGT là người đi bộ (23%), người đi xe đạp (22%) và người đi xe gắn máy (5%) - WHO gọi đây là những “đối tượng tham gia giao thông dễ bị tổn thương”. Trong khi đó, tỉ lệ lái xe ô tô và hành khách chết do TNGT chiếm 31%, còn lại 19% là các đối tượng tham gia giao thông khác.5 Ở 6 các quốc gia có mức thu nhập thấp và trung bình, tỉ lệ người đi bộ, xe đạp, xe gắn máy tử vong khi tham gia giao thông cao hơn nhiều lần so với các nước thu nhập cao. Điển hình như ở hầu hết các nước Châu Phi, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương như Châu Phi có 38% trường hợp chết do TNGT là người đi bộ và 36% trường hợp chết do TNGT ở khu vực Tây Thái Bình Dương là người đi xe gắn máy (Hình 1. Biểu đồ tỷ lệ tử vong do TNGT theo mức thu nhập 2 (nguồn WHO 2013) Trước những diễn biến phức tạp về TNGT từ năm 1962 và liên tục cho đến nay, WHO đã tổ chức nhiều cuộc vận động về ATGT trên khắp thế giới.
Năm 1974 dự luật WHA27.59 được thông qua nhằm tuyên bố tình trạng nghiêm trọng về TNGT và kêu gọi các quốc gia thành viên cùng tham gia giải quyết vấn đề. WHO cũng quyết định ngày 7 tháng 4 hàng năm là ngày ATGT trên toàn thế giới. Từ năm 2007, tuần lễ ATGT được tổ chức từ ngày 23/4 đến 29/4 trên toàn cầu nhằm đạt được sự quan tâm đúng mức từ chính phủ, các cơ quan chức năng cho đến mỗi người dân về thực trạng TNGT.2 Tại Việt Nam Nhiều nhà nghiên cứu xã hội và dư luận đều xác định, tai nạn giao thông ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, có mức độ thảm khốc hơn cả 7 những cuộc chiến tranh thời hiện đại, nếu đem so sánh về số người thương vong, thiệt hại kinh tế - xã hội và nỗi đau tinh thần cho người ở lại. Theo Peden và cộng sự, tai nạn giao thông ở Việt Nam hiện đang là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong và thương tật.6 Xe máy chiếm đến 95% tổng số phương tiện giao thông tại Việt Nam nên người đi xe máy là đối tượng có nguy cơ bị tai nạn giao thông cao nhất.
Theo WHO, CTSN là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong và thương tật cho người đi xe máy tại Việt Nam. Hiện nay vẫn chưa có số liệu dịch tễ tại cộng đồng cũng như cơ sở dữ liệu cụ thể tại bệnh viện về CTSN ở người đi xe máy tại Việt Nam. Tuy nhiên, có vẻ như những hậu quả do CTSN gây ra tại Việt Nam là rất lớn, liên quan đến số người đội mũ bảo hiểm còn hạn chế cũng như do xe máy là phương tiện giao thông chính. Cũng theo nghiên cứu này tỷ lệ tử vong do TNGT là 26,7/100.000 dân, trung bình mỗi ngày có 58 người chết vì TNGT, số người thương tật vĩnh viễn gấp 2- 3 lần số tử vong.
TNGT cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em bằng hoặc lớn hơn 15 tuổi với số lượng trung bình hàng năm là 4750 nạn nhân (13 nạn nhân/ ngày) và 275.000 nạn nhân bị thương tích (750/ ngày).6 Trẻ em không những là nạn nhân trực tiếp phải gánh chịu thương tích do TNGT gây ra mà còn là nạn nhân gián tiếp khi cha mẹ các em bị chết, bị thương trong các vụ TNGT. Thiệt hại kinh tế do TNGT ở Việt Nam mỗi năm là 900 triệu USD.5 Theo thống kê từ Bộ Công an, từ năm 2009 đến tháng 5-2019, toàn quốc xảy ra 326.299 vụ TNGTĐB, làm chết 97.721 người, bị thương 329. Riêng năm 2018 xảy ra 18.499 vụ, làm chết 8.079 người, bị thương 14. Như vậy, trong 10 năm qua, bình quân mỗi năm có gần 10.000 người chết vì tai nạn giao thông, trong đó đa số người bị tai nạn đang trong độ tuổi lao động, gây nhiều hệ lụy cho xã hội.7 8 Có nhiều nghiên cứu khác nhau, từ cả các chuyên gia trong và ngoài nước, giải mã các nguyên nhân về tình trạng tai nạn giao thông ở Việt Nam.