CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình tai nạn giao thông trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Trên toàn thế giới mỗi ngày có hơn 3000 người chết và hàng triệu người bị thương do bị tai nạn giao thông đường bộ. TNGT gây nên một gánh nặng tới sức khỏe của nhân loại toàn cầu.
Vào năm 2009, thương tích do TNGT gây khuyết tật đứng hàng thứ 9 trong các nguyên nhân tàn tật và dự kiến đứng hàng thứ ba vào năm 2020 [6]. Các chi phí liên quan để giải quyết hậu quả của TNGT là rất lớn, từ xe cứu thương chở nạn nhân đến phòng cấp cứu, bệnh viện, nhân viên y tế, phục hồi chức năng, mất thu nhập, bất ổn gia đình và xã hội, ảnh hưởng tới nền kinh tế một cách sâu rộng. Năm 2004, WHO và Ngân hàng thế giới (WB) đã đưa ra một báo cáo nhờ sự nỗ lực hợp tác của hơn 100 chuyên gia của các nước và vùng miền khác nhau trên toàn thế giới. Báo cáo nêu rõ việc phòng ngừa thương tích do thảm kịch TNGT đường bộ liên quan đến đường đi và những thương tích ảnh hưởng như thế nào tới sức khỏe tất cả các quốc gia.
Số người chết do TNGT ở khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á cao nhất thế giới với trung bình hằng năm ở mỗi nơi có trên 300.000 người thiệt mạng [6]. Cũng theo báo cáo này, tại 10 nước ASEAN hàng năm có tới 75000 người chết và 4,7 triệu người bị thương liên quan tới các vụ tai nạn xe cơ giới. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) và ngân hàng thế giới (WB), thống kê số liệu tử vong do TNGT năm 2002, tỷ lệ cao nhất là 28,3 ở châu Phi (tính trên 100.000 dân), các nước phía đông Địa Trung Hải là 26,4, khu vực Đông Nam Á là 19,0 và các nước châu Âu là 11. Tính trung bình cứ 1 người chết vì TNGT thì có 15 người bị thương nặng cần phải điều trị tại các cơ sở Y tế và 70 người bị thương nhẹ [6].
4 Theo WHO, trung bình mỗi ngày trên toàn thế giới có hơn 1000 người dưới 25 tuổi bị thiệt mạng vì TNGT, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở thanh thiếu niên trong độ tuổi 15-19. Tại các nước châu Phi, ven Địa Trung Hải và các nước Đông nam Á, nạn nhân chủ yếu là người đi bộ, xe đạp và xe gắn máy [6]. Tại châu Mỹ, TNGT là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ từ 5-14 tuổi, nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở nhóm tuổi 15-44, có tới 39% người chết vì TNGT là những người đi bộ, xe đạp, xe gắn máy và 47% là do tai nạn ô tô, đặc biệt ở Bắc Mỹ là 74%. Tỷ lệ tử vong cho người đi bộ khoảng 50%, trong khi ở El Salvador 63%, ở Peru 78% [7].
Tại Mỹ, theo một nghiên cứu năm 2002, đã có 42.815 người chết và gần 3 triệu người bị thương do TNGT đường bộ là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở độ tuổi từ 1-34, đứng hàng thứ 3 về thương tích. Mỹ hiện đang giữ kỷ lục thế giới về số lượng tử vong do tai nạn xe cơ giới và đứng thứ 27 trong tổng số 34 nước châu Mỹ (15,6 người chết/100. Tỷ lệ thương tật của Mỹ vượt qua mức trung bình 11,7 người/100. Số liệu thống kê năm 2004 cho thấy người bị chết và bị thương do TNGT trong độ tuổi từ 16-20 chiếm tỷ lệ cao nhất, lứa tuổi 5-9 có tỷ lệ tử vong thấp nhất, trẻ dưới 5 tuổi ít bị thương nhất [8].
Số nạn nhân bị TNGT có tới 80% là nam giới. Vào năm 2002, nạn nhân nam giới chiếm 73% tổng số nạn nhân tử vong do TNGT trên toàn thế giới. Theo Peden M, McGee K, Sharma G, số nạn nhân là nam giới tử vong hàng ngày do TNGT ở châu Á và châu Phi cao nhất thế giới [8],[9]. TNGT không những gây nên đau do thương tích và tử vong cho nạn nhân và gia đình, khả năng lao động và hòa nhập với xã hội, TNGT còn tạo ra một gánh nặng về chi phí dịch vụ y tế và tổng thể chi phí toàn xã hội.
Ở Mỹ, chi phí liên quan đến chấn thương đã vượt quá 99 tỷ USD trong năm 2005. Tại Brazil, một nghiên cứu tương tự năm 2005, chi phí liên quan tới TNGT lên tới 10 tỷ USD mỗi năm, tương đương với 1,2% tổng sản phẩm quốc nội 5 (GDP). Tại Belize vào năm 2007, ước tính tổng chi phí này lên tới 11 triệu USD, chiếm 0,9% GDP [10]. TNGT còn tác động trực tiếp tới lực lượng lao động chính trong xã hội ở các nước đang phát triển.
Trong năm 1998, một số nghiên cứu cho thấy 51% số người thiệt mạng và 59% số người tàn tật do TNGT là lao động chính trong xã hội [10],[11]. Tổn thất do TNGT gây ra rất nặng nề nhưng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, việc tổ chức các chương trình hành động làm giảm thiểu số vụ TNGT như giáo dục ý thức tham gia giao thông, chấp hành luật an toàn giao thông, nâng cấp hệ thống đường giao thông, cấp cứu người bị nạn… cũng như chi phí cho nghiên cứu về an toàn giao thông vẫn còn ở mức thấp so với chi phí các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Ước tính thiệt hại kinh tế do TNGT gây ra ở các nước có thu nhập trung bình và thấp mỗi năm khoảng 100 tỷ USD lớn hơn nhiều mức viện trợ hằng năm mà những nước này nhận được. Trong khi đó, tại nước Anh, trung bình chi phí nghiên cứu phòng chống TNGT cho một trường hợp tử vong tương đương với 1.910 bảng Anh, chi phí trung bình cho một nạn nhân bị thương tích nặng là 174.
Tổng chi phí do TNGT năm 2002 là 18 tỷ bảng Anh, trong đó 13 tỷ bảng Anh bồi thường cho nạn nhân và 5 tỷ bảng Anh là đền bù các phương tiện giao thông bị hư hỏng [12], [13]. Tình hình về TNGT ngày càng tăng nên từ năm 1962 và liên tục cho đến nay, WHO đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo và vận động về ATGT trên khắp thế giới. Năm 2004 nghị quyết WHA57.10 về “Sức khỏe và đường an toàn” được thông qua nhằm tuyên bố tình trạng nghiêm trọng về TNGT và kêu gọi các quốc gia cùng tham gia để giải quyết vấn đề và quyết định lấy ngày 7 tháng 4 hàng năm là ngày ATGT trên toàn thế giới [6]. Tại Việt Nam Hệ thống giao thông đường bộ tại nước ta dài hơn 2 triệu km nhưng phần lớn chất lượng không đảm bảo tiêu chuẩn, chưa đáp ứng được yêu cầu giao thông với số lượng các phương tiện giao thông cơ giới ngày càng tăng cùng với sự phát triển kinh tế [14].
Theo số liệu của Uỷ ban an toàn giao 6 thông quốc gia (UBATGTQG), phương tiện giao thông cá nhân tăng quá nhanh, hạ tầng chưa đáp ứng được sự gia tăng của phương tiện giao thông cùng với ý thức người tham gia giao thông chưa cao là nguyên nhân chính gây ra tai nạn. Năm 2007, số lượng phương tiện giao thông đăng ký mới là 133.322 xe máy, so với năm 2006, ô tô tăng 13,7%, môtô tăng 16,6% và là năm có số ô tô, mô tô tăng cao nhất từ trước tới nay, mức tăng trung bình 16,5% nâng tổng số phương tiện cơ giới đường bộ lên 1. Từ năm 2002 trở về trước, TNGT liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước. Từ năm 2003 trở lại đây TNGT đã giảm trong các năm 2003, 2004 và 2005.
Tuy nhiên, việc giảm TNGT chưa bền vững, số người chết vì TNGT vẫn ở mức cao. Năm 2006, TNGT lại tăng trở lại; năm 2007 số người chết vì TNGT vẫn tăng 3,2% [15]. Về tình hình tai nạn giao thông năm 2013, cả nước đã xảy ra 29.385 vụ, làm chết 9.369 người, bị thương 29. So với cùng kỳ năm 2012, giảm 1.610 vụ (giảm 5,19%), giảm 55 người chết (giảm 0,58%) và giảm 3.045 người bị thương (giảm 9,36%).
Theo số liệu của một công trình nghiên cứu về tình hình tai nạn giao thông tại Việt Nam năm 2002, tỷ lệ tử vong do TNGT ở Việt Nam là 26,7/100.000 dân, trung bình mỗi ngày có 33 người chết vì TNGT, số người bị thương tật vĩnh viễn gấp 2-3 lần số tử vong. TNGT cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em từ 15 tuổi trở lên, với số lượng trung bình hàng năm là 4750 nạn nhân (13 nạn nhân /ngày) và 275.000 nạn nhân bị thương tích (750/ngày). Thiệt hại kinh tế do TNGT ở Việt Nam trong năm 2003-2004 khoảng 900 triệu USD [14], [16]. Nghiên cứu về chấn thương bụng do tai nạn giao thông 1.
Trên thế giới Công tác giám định Y pháp về chấn thương đã có từ rất lâu và phản ánh xã hội có luật pháp. Từ thế kỷ thứ V tại La Mã đã có những văn bản liên quan đến giám định thương tích gây ra cái chết của Cesar. 7 Luật pháp sử dụng Giám định Y pháp là công cụ cho việc bảo vệ quyền lợi người dân, đảm bảo tính công bằng trong xã hội, tạo niềm tin của nhân dân với thể chế. Từ thế kỷ XII tại một số nước như Jordan, Israel đã qui định khám nghiệm tử thi các vụ án mạng liên quan tới thương tích và vật gây thương tích.
Đầu thế kỷ XIII tác giả Tống Từ (Trung Quốc) viết cuốn sách Tẩy oan tập lục” đã được dịch ra các tiếng Anh, Đức, Hà Lan. Tại nước Ý, các bác sỹ nội khoa đã được trưng cầu giám định các vụ phá thai, trúng độc và mọi vụ chết do thương tích. Thế kỷ XVII, thầy thuốc của Giáo hoàng là Zacchias đã viết cuốn sách “Những vấn đề Y pháp” được sử dụng tới thế kỷ XIX, có các chuyên mục về tử vong của trẻ sơ sinh, trúng độc, chấn thương, trong đó có chương mô tả về chấn thương bụng [17]. Nước Pháp, dưới thời Vua Hăng-ri đệ tứ qui định các bác sĩ nội khoa, ngoại khoa và sản khoa sau khi được trưng dụng giám định những trường hợp chết do thương tích hoặc thai nghén đều phải làm nhân chứng tại tòa án [17].
Đến thế kỷ XVIII, Pháp có nhiều nhà giải phẫu bệnh - Y pháp nghiên cứu các vấn đề chấn thương xác định nguyên nhân chết. Cho đến trước thế kỷ 20, nạn nhân bị chấn thương bụng (CTB) chủ yếu là những người lính trong chiến tranh, một số ít nạn nhân trong các vụ án mạng, rất hiếm gặp CTB do TNGT [18].