Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Trần Thị Linh Tú, chuyên ngành Nội Tim mạch (mã số 9720107), được thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trương Thanh Hương và bảo vệ năm 2022. Đề tài tập trung vào việc khảo sát các biến đổi về cấu trúc và huyết động tim phải: "Nghiên cứu hình thái, chức năng thất phải bằng siêu âm tim ở bệnh nhân mắc một số bệnh tự miễn thường gặp có tăng áp động mạch phổi".
Bệnh tự miễn là tình trạng hệ thống miễn dịch mất khả năng dung thứ, sản sinh tự kháng thể tấn công các cơ quan của chính cơ thể, bao gồm hơn 100 thực thể bệnh mạn tính với tỷ lệ mắc chung chiếm khoảng 8% dân số thế giới. Trong nhóm bệnh tự miễn hệ thống, lupus ban đỏ hệ thống (LPBĐHT) và xơ cứng bì hệ thống (XCBHT) là hai bệnh lý thường gặp nhất trên thực hành lâm sàng. Biến chứng tăng áp động mạch phổi (Pulmonary Arterial Hypertension - PAH) xuất hiện ở bệnh nhân tự miễn làm thay đổi đáng kể tiên lượng sống, với tỷ lệ sống còn sau 3 năm chỉ đạt khoảng 73%, thấp hơn rõ rệt so với nhóm tăng áp động mạch phổi vô căn (IPAH). Cơ chế bệnh sinh của PAH liên quan chặt chẽ đến sự gia tăng endothelin-1, viêm mạch, xơ hóa và tái cấu trúc mạng lưới tiểu động mạch phổi, dẫn đến tăng sức cản mạch phổi, quá tải áp lực mạn tính và suy giảm chức năng thất phải (TP). Tử vong và bệnh tật ở người bệnh tăng áp động mạch phổi có mối liên hệ mật thiết với kích thước và chức năng co bóp của thất phải. Mặc dù thông tim phải và cộng hưởng từ tim (cMRI) là các tiêu chuẩn tham chiếu quan trọng, tính chất xâm lấn, chi phí cao và nguy cơ tai biến kỹ thuật (tỷ lệ tử vong liên quan thủ thuật khoảng 0,055%) khiến các biện pháp này khó áp dụng thường quy. Siêu âm Doppler tim nổi lên như phương tiện không xâm lấn, sẵn có và thuận tiện trong sàng lọc, đánh giá thất phải. Tại Việt Nam, các dẫn liệu lâm sàng và siêu âm mô tả hệ thống về hình thái và chức năng thất phải ở người bệnh tự miễn có tăng áp động mạch phổi vẫn còn hạn chế.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ thành hai nội dung:
- Mô tả hình thái, chức năng thất phải bằng siêu âm tim ở bệnh nhân mắc lupus ban đỏ hệ thống và xơ cứng bì hệ thống có và không có tăng áp động mạch phổi.
- Phân tích mối liên quan giữa chức năng thất phải và một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở nhóm bệnh nhân trên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân được chẩn đoán xác định mắc lupus ban đỏ hệ thống hoặc xơ cứng bì hệ thống, có kèm theo hoặc không kèm theo biến chứng tăng áp động mạch phổi. Nghiên cứu được triển khai tại các cơ sở y khoa chuyên sâu: Bệnh viện Bạch Mai (Viện Tim mạch Việt Nam, Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng) và Viện Da liễu Trung ương (Phòng khám bệnh tự miễn).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng kết hệ thống các nghiên cứu dịch tễ học và bệnh sinh học liên quan đến tăng áp động mạch phổi ở nhóm bệnh nhân tự miễn. Dịch tễ học lupus ban đỏ hệ thống cho thấy ưu thế rõ rệt ở nữ giới với tỷ lệ nữ/nam xấp xỉ 10/1, tỷ lệ mắc hàng năm từ 0,3 đến 31,5 trên 100.000 dân. Đối với xơ cứng bì hệ thống, tỷ lệ nữ/nam khoảng 3/8, độ tuổi khởi phát điển hình từ 45 đến 64 tuổi; các nghiên cứu tại Pháp (Seine Saint-Denis năm 2004, Lorraine năm 2013, Alsace năm 2016) ghi nhận tỷ lệ lưu hành từ 132 đến 228 ca/triệu dân trưởng thành. Về nguy cơ PAH, nghiên cứu của Hung-An Chen và cộng sự (2020) trên 1.653 bệnh nhân XCBHT ghi nhận 7,68% xuất hiện PAH, trong khi ở 11.735 bệnh nhân LPBĐHT tỷ lệ này là 2,06%. Nhìn chung, tỷ lệ hiện mắc PAH ở bệnh nhân XCBHT dao động trong khoảng 3,6% - 32% (trung bình 8% - 12%), còn ở LPBĐHT dao động từ 0,5% đến 14%, trong đó xác nhận qua thông tim phải đạt 4,2%.
Về cơ chế bệnh sinh, tài liệu điểm lại các rối loạn sinh học tương đồng với IPAH như sự tăng bộc lộ angiopoietin-1 và phosphoryl hóa TIE2, giảm bộc lộ thụ thể tạo hình xương BMPR1A (Bone Morphogenic Protein Receptor 1A), mất cân bằng giữa các chất gây co mạch, tăng sinh nội mô (thromboxane A2, endothelin-1) và chất giãn mạch (prostacyclin, nitric oxide). Riemekasten và cộng sự đã chứng minh sự hiện diện của kháng thể kháng thụ thể angiotensin II loại 1 và thụ thể endothelin-1 loại A trên bệnh nhân xơ cứng bì có kháng thể kháng tâm động (ACA), kháng Scl-70 và kháng RNP. Kháng thể kháng tế bào nội mô (AECA) kích thích giải phóng endothelin-1 in vitro. Morrisroe và cộng sự ghi nhận mối liên quan giữa kháng thể kháng cardiolipin (aCL) với PAH ở bệnh nhân xơ cứng bì, cho thấy vai trò của huyết khối vi mạch. Về tổn thương cơ tim trực tiếp, Mathai và cộng sự ghi nhận nồng độ NT-proBNP ở bệnh nhân xơ cứng bì có PAH cao hơn so với bệnh nhân IPAH dù áp lực động mạch phổi trung bình thấp hơn; nghiên cứu sinh thiết nội soi cơ tim cho thấy 94% (15/16 bệnh nhân) xơ cứng bì có lắng đọng collagen cơ tim dù chưa có triệu chứng suy tim lâm sàng.
Về phương diện chẩn đoán hình ảnh, Arcasoy chỉ ra hạn chế của siêu âm khi ước tính áp lực động mạch phổi ở người có bệnh phổi tiến triển, tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu ghi nhận tương quan chặt giữa áp lực đo trên siêu âm và thông tim phải (r = 0,57 - 0,93). Kaul và cộng sự khẳng định giá trị của chỉ số di chuyển vòng van ba lá thì tâm thu (TAPSE) tương quan mạnh với chụp buồng thất phóng xạ. Forfia và cộng sự xác định điểm cắt TAPSE < 18 mm có giá trị dự báo tiên lượng xấu và rối loạn chức năng cơ tim tiến triển. Ryan và cộng sự đưa ra chỉ số lệch tâm (Eccentricity Index - EI) của thất trái trên trục ngắn nhằm phản ánh sự biến dạng hình thái vách liên thất do quá tải áp lực thất phải. Ghio và cộng sự phân tích mối tương quan giữa giãn buồng thất phải với sức cản mạch phổi (PVR), áp lực nhĩ phải (RAP) và tỷ lệ sống còn, đồng thời đề xuất kết hợp TAPSE và EI để nhận diện suy chức năng thất phải.
Vị trí của luận án được xác lập thông qua việc giải quyết khoảng trống dữ liệu trong nước: kết hợp đồng thời các chỉ số siêu âm quy ước 2D, Doppler xung, Doppler liên tục và Doppler mô (TDI), chỉ số Tei, sức căng cơ tim (strain, strain rate) để phân tích chi tiết sự tái cấu trúc hình thái và biến đổi chức năng tâm thu, tâm trương thất phải; khảo sát mối tương quan của các biến số siêu âm này với nồng độ NT-proBNP huyết thanh, nghiệm pháp đi bộ 6 phút (6MWD), phân độ khó thở NYHA và các tự kháng thể miễn dịch ở hai nhóm bệnh nhân LPBĐHT và XCBHT.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên khung định nghĩa và phân loại tăng áp phổi theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Châu Âu và Hội Hô hấp Châu Âu năm 2015 (ESC/ERS 2015). Tăng áp phổi (PH) được xác định khi áp lực động mạch phổi trung bình (mPAP) ≥ 25 mmHg khi nghỉ ngơi. Tăng áp động mạch phổi (PAH - Nhóm 1) được định nghĩa là tăng áp phổi tiền mao mạch với mPAP ≥ 25 mmHg, áp lực mao mạch phổi bít (PAWP) ≤ 15 mmHg và sức cản mạch phổi (PVR) > 3 đơn vị Wood (Wood units), không do nguyên nhân bệnh lý hô hấp, thuyên tắc phổi mạn tính (CTEPH) hay bệnh lý tim trái.
| Tiêu chuẩn huyết động (ESC/ERS 2015) |
Đặc điểm huyết động học |
Phân nhóm nguyên nhân liên quan |
| Tăng áp phổi (PH) |
mPAP ≥ 25 mmHg |
Tất cả các nhóm nguyên nhân |
| PH tiền mao mạch |
mPAP ≥ 25 mmHg; PAWP ≤ 15 mmHg |
Nhóm 1 (PAH), Nhóm 3 (bệnh phổi), Nhóm 4 (CTEPH), Nhóm 5 |
| PH hậu mao mạch |
mPAP ≥ 25 mmHg; PAWP > 15 mmHg |
Nhóm 2 (bệnh tim trái) |
| PH hậu mao mạch đơn thuần (Ipc-PH) |
Chênh áp tâm trương < 7 mmHg và/hoặc PVR ≤ 3 đơn vị Wood |
Bệnh lý cơ tim, van tim trái |
| PH hậu mao mạch phối hợp |
Chênh áp tâm trương ≥ 7 mmHg và/hoặc PVR > 3 đơn vị Wood |
Bệnh lý tim trái có tái cấu trúc mạch phổi |
Chẩn đoán bệnh lý nền tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế: tiêu chuẩn SLICC 2012 cho lupus ban đỏ hệ thống và tiêu chuẩn ACR/EULAR 2013 cho xơ cứng bì hệ thống. Đánh giá mức độ khó thở chức năng theo phân loại của Hiệp hội Tim mạch New York (NYHA từ độ I đến độ IV).
Thiết kế nghiên cứu là phương pháp mô tả cắt ngang, tiến cứu, có nhóm so sánh đối chứng (bệnh nhân có và không có tăng áp động mạch phổi). Quy trình thu thập dữ liệu bao gồm khai thác bệnh sử, thăm khám lâm sàng (hội chứng Raynaud, biến dạng khớp, tổn thương da, chỉ số khối cơ thể BMI, dấu hiệu sinh tồn), thực hiện nghiệm pháp đi bộ 6 phút (6-Minute Walk Distance - 6MWD) theo quy chuẩn. Xét nghiệm cận lâm sàng bao gồm các tự kháng thể miễn dịch: ANA, anti-dsDNA, anti-Sm, anti-RNP, kháng thể kháng tâm động (ACA), kháng thể kháng topoisomerase I (Scl-70), kháng thể kháng phospholipid (aPL, aCL), nồng độ peptide lợi niệu NT-proBNP huyết thanh.
Kỹ thuật siêu âm Doppler tim được thực hiện trên hệ thống máy siêu âm tim GE Vingmed Vivid E9, sử dụng đầu dò M3S. Quy trình đo lường cấu trúc và huyết động tuân thủ các mặt cắt chuẩn (mặt cắt cạnh ức trục dọc, trục ngắn, 4 buồng tại mỏm, 4 buồng tập trung thất phải và mặt cắt dưới sườn):
- Đánh giá hình thái thất phải và nhĩ phải:
- Bề dày thành tự do thất phải: đo ở mặt cắt dưới sườn vào cuối tâm trương (giá trị bình thường < 0,5 cm).
- Kích thước buồng thất phải tại mặt cắt 4 buồng: đường kính đáy (RVD1, giới hạn trên bình thường 42 mm), đường kính giữa (RVD2), chiều dài (RVD3).
- Đường ra thất phải (RVOT): đo trên mặt cắt trục ngắn cạnh ức (giới hạn trên bình thường 27 mm) và trục dọc cạnh ức (giới hạn trên 33 mm).
- Chỉ số lệch tâm thất trái (Eccentricity Index - EI hay tỷ lệ D1/D2): tỷ lệ giữa đường kính trước - sau và đường kính vách - bên của thất trái ở thì tâm thu và tâm trương (giá trị > 1,0 gợi ý quá tải thất phải, > 1,1 gợi ý tăng áp phổi).
- Diện tích nhĩ phải (RA area): viền diện tích buồng nhĩ ở thì cuối tâm thu tại mặt cắt 4 buồng (giá trị tham chiếu trên là 18 cm²; kích thước trục ngắn và trục dọc tối đa lần lượt là 44 mm và 53 mm).
- Đánh giá chức năng tâm thu thất phải:
- Biên độ dịch chuyển vòng van ba lá thì tâm thu (TAPSE): đặt M-mode qua vòng van ba lá phía thành tự do (ngưỡng bất thường < 16 mm).
- Phân suất thay đổi diện tích thất phải (Fractional Area Change - FAC): tính bằng công thức
[(Diện tích cuối tâm trương - Diện tích cuối tâm thu) / Diện tích cuối tâm trương] × 100% (ngưỡng bất thường < 35%).
- Vận tốc đỉnh sóng S' trên Doppler mô cơ tim (S'/TDI): đặt cửa sổ tại vòng van ba lá thành tự do (ngưỡng bất thường < 10 cm/s).
- Tốc độ tăng áp lực thất phải (dP/dt): đo thời gian dòng hở ba lá tăng tốc từ 1 m/s lên 2 m/s (chênh áp 12 mmHg), giá trị < 400 mmHg/s phản ánh suy giảm co bóp.
- Sức căng toàn bộ thất phải thì tâm thu theo trục dọc (RV-GLS hoặc GS) và tốc độ biến dạng (GLSRs).
- Đánh giá chức năng tâm trương thất phải:
- Phổ Doppler xung qua van ba lá: vận tốc đỉnh sóng E, vận tốc đỉnh sóng A, tỷ lệ E/A (E/A < 0,8 phản ánh giảm thư giãn; 0,8 - 2,1 là bình thường; > 2,1 phản ánh đổ đầy hạn chế), thời gian giảm tốc (DT: 120 - 229 ms), thời gian thư giãn đồng thể tích (IVRT: 23 - 73 ms).
- Phổ Doppler mô vòng van ba lá: sóng E', sóng A', tỷ lệ E'/A', tỷ số E/E' (E/E' > 6 phản ánh tăng áp lực đổ đầy buồng tim phải).
- Đánh giá chức năng thất phải toàn bộ:
- Chỉ số hiệu suất cơ tim thất phải (Tei index hay RIMP): tính theo công thức
(IVRT + IVCT) / ET, xác định qua Doppler xung (giới hạn tham chiếu trên là 0,40) hoặc Doppler mô (giới hạn tham chiếu trên là 0,55).
- Ước tính huyết động:
- Áp lực nhĩ phải (RAP): ước tính qua đường kính tĩnh mạch chủ dưới (IVC) và tỷ lệ xẹp theo hô hấp:
| Đường kính tĩnh mạch chủ dưới (IVC) |
Mức độ xẹp theo hô hấp |
Áp lực nhĩ phải (RAP) ước tính |
| ≤ 2,1 cm |
> 50% khi hít vào |
3 mmHg (khoảng 0 - 5 mmHg) |
| > 2,1 cm |
< 50% khi hít vào |
15 mmHg (khoảng 10 - 20 mmHg) |
| Các trường hợp trung gian khác |
Không đồng nhất |
8 mmHg (khoảng 5 - 10 mmHg) |
- Áp lực động mạch phổi tâm thu (PASP): tính theo phương trình Bernoulli cải tiến
PASP = 4 × (TRV)² + RAP, trong đó TRV là vận tốc dòng hở van ba lá đỉnh.
- Áp lực động mạch phổi tâm trương (PADP):
PADP = 4 × (V_cuối tâm trương dòng hở phổi)² + RAP.
- Áp lực động mạch phổi trung bình (PAPm):
PAPm = 1/3 (PASP) + 2/3 (PADP) hoặc tính qua thời gian tăng tốc dòng chảy qua van động mạch phổi (AT): PAPm = 79 - (0,45 × AT) (nếu AT < 120 ms thì PAPm = 90 - (0,62 × AT)).
- Sức cản mạch phổi (PVR): tỷ lệ giữa vận tốc tối đa dòng hở ba lá và tích phân vận tốc - thời gian dòng tống máu đường ra thất phải
PVR = TRV / VTI_RVOT (bình thường < 1,5 đơn vị Wood; bệnh lý > 3 đơn vị Wood).
- Phân loại nguy cơ tăng áp động mạch phổi trên siêu âm: nghi ngờ khi TRV ≤ 2,8 m/s và PASP ≤ 36 mmHg kèm dấu hiệu gợi ý khác, hoặc TRV 2,9 - 3,4 m/s và PASP 37 - 50 mmHg; xác định chắc chắn khi TRV > 3,4 m/s và PASP > 50 mmHg.
Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được phân tích bằng phần mềm thống kê y học, biểu thị dưới dạng giá trị trung bình, độ lệch chuẩn hoặc tỷ lệ phần trăm; so sánh các biến định lượng bằng t-test hoặc Mann-Whitney U test, biến định tính bằng kiểm định chi bình phương; phân tích mối liên quan qua hệ số tương quan tuyến tính; phân tích hồi quy logistic đa biến xác định yếu tố nguy cơ độc lập dự báo tăng áp động mạch phổi; thiết lập đường cong ROC (Receiver Operating Characteristic) để xác định điểm cắt, độ nhạy, độ đặc hiệu của nồng độ NT-proBNP trong chẩn đoán PAH.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 cung cấp cơ sở dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh phân tử, sinh lý bệnh tuần hoàn phổi và các kỹ thuật chẩn đoán hình thái, chức năng tim phải. Bệnh tự miễn hệ thống như LPBĐHT và XCBHT có tỷ lệ tổn thương mạch máu phổi cao do phản ứng viêm mạn tính nội mạc, tăng tiết cytokin viêm, lắng đọng phức hợp miễn dịch và sự mất cân bằng giữa endothelin-1 và nitric oxide. Tác giả phân tích cụ thể 3 cơ chế gây tăng áp phổi trong lupus (huyết khối vi mạch liên quan kháng thể kháng phospholipid aPL, viêm mạch máu phổi đáp ứng với ức chế miễn dịch, và tổn thương tăng sinh xơ hóa tương tự xơ cứng bì). Ở bệnh nhân xơ cứng bì, bên cạnh hiện tượng xơ hóa tiểu động mạch phổi, tổn thương xơ hóa mô kẽ cơ tim nguyên phát độc lập với áp lực mạch phổi đóng vai trò trực tiếp gây rối loạn chức năng thất.
Chương này so sánh các phương pháp thăm dò: thông tim phải tuy là tiêu chuẩn vàng đo lường huyết động nhưng tiềm ẩn rủi ro xâm lấn; cMRI đánh giá chính xác thể tích nhưng hạn chế về chi phí và tính khả thi ở người bệnh khó thở nặng; siêu âm Doppler tim khẳng định vị trí hàng đầu nhờ khả năng đánh giá đồng thời cấu trúc buồng tim, chức năng thất phải theo trục dọc (TAPSE, S'/TDI), diện tích co bóp (FAC), chức năng toàn bộ (chỉ số Tei) và ước tính huyết động (PASP, PADP, mPAP, PVR, RAP).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình chọn mẫu và thiết kế nghiên cứu. Bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống được chẩn đoán xác định theo tiêu chuẩn SLICC 2012 và bệnh nhân xơ cứng bì hệ thống theo tiêu chuẩn ACR/EULAR 2013, được phân thành hai nhóm: có tăng áp động mạch phổi và không có tăng áp động mạch phổi. Luận án thiết lập các tiêu chuẩn loại trừ cụ thể nhằm kiểm soát yếu tố gây nhiễu: loại trừ bệnh nhân có bệnh tim bẩm sinh, bệnh van tim nguyên phát nặng phía tim trái, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), xơ phổi giai đoạn cuối không do tự miễn, tiền sử bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ hoặc rung nhĩ làm sai lệch phép đo Doppler.
Chương này trình bày chi tiết quy chuẩn kỹ thuật siêu âm tim theo hướng dẫn của Hội Siêu âm Tim Hoa Kỳ và Châu Âu: sử dụng máy GE Vingmed Vivid E9, đầu dò M3S; định lượng hình thái thất phải qua các đường kính RVD1, RVD2, RVD3, RVOT; tính toán chỉ số lệch tâm thất trái D1/D2; đo đạc chức năng tâm thu thất phải qua TAPSE, FAC, sóng S'/TDI, dP/dt; đánh giá chức năng tâm trương qua dòng vào ba lá và Doppler mô; phân tích chỉ số Tei và sức căng cơ tim GS; đo đường kính và độ xẹp tĩnh mạch chủ dưới IVC để tính RAP và PASP. Các biến số lâm sàng (triệu chứng khó thở NYHA, khoảng cách 6MWD, hiện tượng Raynaud) và biến số sinh hóa (tự kháng thể, nồng độ NT-proBNP) được chuẩn hóa quy trình thu thập và phân tích thống kê y học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu khảo sát thực nghiệm được hệ thống hóa qua hệ thống bảng và biểu đồ:
- Đặc điểm chung và lâm sàng: Nhóm bệnh nhân tự miễn có tăng áp động mạch phổi có độ tuổi trung bình cao hơn, thời gian mắc bệnh kéo dài hơn so với nhóm không tăng áp phổi; tỷ lệ nữ giới chiếm ưu thế tuyệt đối. Tỷ lệ xuất hiện hội chứng Raynaud cao ở nhóm xơ cứng bì. Mức độ khó thở theo phân loại NYHA (độ II, III, IV) tăng rõ rệt ở nhóm có PAH, đồng thời khoảng cách đi bộ 6 phút (6MWD) giảm sút có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có biến chứng tăng áp phổi.
- Đặc điểm cận lâm sàng và tự kháng thể: Nồng độ NT-proBNP huyết thanh ở nhóm có tăng áp động mạch phổi tăng cao rõ rệt so với nhóm không tăng áp phổi ở cả hai bệnh cảnh LPBĐHT và XCBHT. Tỷ lệ hiện diện của các tự kháng thể kháng RNP, aCL, Scl-70 và kháng thể kháng nhân (ANA) được ghi nhận với tần suất khác biệt giữa các nhóm.
- Biến đổi hình thái tim phải trên siêu âm: Ở bệnh nhân có tăng áp động mạch phổi, thất phải có hiện tượng tái cấu trúc phì đại và giãn buồng tim: đường kính đáy (RVD1), đường kính giữa (RVD2), chiều dài (RVD3) và đường kính đường ra thất phải (RVOT) đều gia tăng đáng kể so với nhóm chứng; bề dày thành tự do thất phải gia tăng phản ánh tình trạng phì đại do quá tải áp lực; diện tích nhĩ phải (RA area) mở rộng trên 18 cm²; vách liên thất bị đẩy phẳng về phía thất trái làm thay đổi hình dạng thất trái thành hình chữ D (D-shape) trên trục ngắn, chỉ số lệch tâm thất trái D1/D2 gia tăng (> 1,1). Trong khi đó, phân suất tống máu thất trái (LVEF) nhìn chung vẫn được bảo tồn ở phần lớn bệnh nhân.
- Suy giảm chức năng thất phải:
- Chức năng tâm thu: Các chỉ số co bóp cơ tim theo trục dọc sụt giảm rõ rệt ở nhóm có PAH: TAPSE giảm sâu (< 16 mm), vận tốc sóng S'/TDI giảm (< 10 cm/s), phân suất thay đổi diện tích FAC giảm (< 35%), sức căng toàn bộ thất phải thì tâm thu theo trục dọc (RV-GLS / GS) suy giảm.
- Chức năng tâm trương: Nhóm có PAH xuất hiện rối loạn chức năng tâm trương với tỷ lệ bất thường phổ dòng qua van ba lá (tỷ lệ E/A đảo ngược hoặc tiến triển sang dạng đổ đầy hạn chế), tăng vận tốc sóng và áp lực đổ đầy E/E' (> 6), kéo dài thời gian thư giãn đồng thể tích IVRT.
- Chức năng toàn bộ: Chỉ số Tei (RIMP) thất phải tăng cao có ý nghĩa ở nhóm có tăng áp động mạch phổi trên cả phương pháp đo Doppler xung và Doppler mô.
- Mối tương quan và giá trị dự báo: Luận án chứng minh mối tương quan thuận giữa mức độ suy giảm các chỉ số tâm thu thất phải (TAPSE, S'/TDI, FAC, tỷ lệ TAPSE/sPAP) với khoảng cách đi bộ 6 phút (6MWD), và tương quan nghịch với nồng độ NT-proBNP huyết thanh cũng như phân độ khó thở NYHA. Phân tích hồi quy logistic đa biến xác định các yếu tố nguy cơ độc lập dự báo tăng áp động mạch phổi ở bệnh nhân LPBĐHT và XCBHT. Phân tích đường cong ROC khẳng định nồng độ NT-proBNP có diện tích dưới đường cong (AUC) cao, mang giá trị tốt trong chẩn đoán phát hiện tăng áp động mạch phổi ở nhóm bệnh nhân tự miễn.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung biện luận các kết quả nghiên cứu trong sự đối chiếu với các công trình khoa học trong và ngoài nước. Tác giả luận giải cơ chế dẫn đến sự khác biệt về hình thái và chức năng thất phải giữa nhóm lupus ban đỏ hệ thống và xơ cứng bì hệ thống: ở bệnh nhân xơ cứng bì, rối loạn chức năng thất phải thường xuất hiện sớm và nặng nề hơn do sự cộng hưởng của tổn thương xơ hóa mô kẽ cơ tim nguyên phát kết hợp với tăng hậu gánh tiểu động mạch phổi; trong khi ở lupus ban đỏ hệ thống, cơ chế viêm mạch và vi huyết khối qua trung gian miễn dịch chiếm ưu thế.
Bàn luận phân tích sâu tính ứng dụng của các thông số siêu âm: TAPSE tuy là phương pháp đơn giản, lặp lại tốt nhưng chỉ phản ánh chức năng sợi cơ trục dọc; việc phối hợp thêm FAC và sóng S'/TDI giúp đánh giá toàn diện hơn sự co bóp cơ tim. Sự biến dạng của vách liên thất (chỉ số lệch tâm EI) và chỉ số Tei là các dấu ấn nhạy giúp nhận diện sớm rối loạn chức năng tim phải ngay cả khi triệu chứng lâm sàng chưa rầm rộ. Bàn luận cũng khẳng định vai trò đồng hành của chỉ dấu sinh học NT-proBNP trong việc phản ánh mức độ căng thành thất phải, hỗ trợ đắc lực cho siêu âm Doppler tim trong sàng lọc định kỳ bệnh nhân tự miễn có nguy cơ cao.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án mang lại các đóng góp cụ thể về mặt lý luận khoa học và thực tiễn lâm sàng:
Đóng góp về mặt lý thuyết và khoa học:
- Cung cấp bức tranh dữ liệu lâm sàng, huyết động và siêu âm tim toàn diện, có hệ thống về hình thái và chức năng thất phải ở hai nhóm bệnh nhân tự miễn thường gặp nhất (lupus ban đỏ hệ thống và xơ cứng bì hệ thống) tại Việt Nam.
- Làm sáng tỏ các đặc điểm tái cấu trúc hình thái tim phải (giãn buồng thất phải RVD1, RVD2, RVD3, giãn đường ra RVOT, phì đại thành tự do thất phải, giãn nhĩ phải và biến dạng vách liên thất hình chữ D) đi kèm sự suy giảm chức năng tâm thu (giảm TAPSE, FAC, sóng S'/TDI, sức căng GS), rối loạn chức năng tâm trương (tăng E/E') và tăng chỉ số Tei tim phải do quá tải áp lực phổi mạn tính.
- Xác lập mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa các biến số hình thái, chức năng thất phải trên siêu âm với khả năng gắng sức của bệnh nhân (nghiệm pháp đi bộ 6 phút 6MWD), mức độ khó thở chức năng (NYHA) và nồng độ peptide lợi niệu NT-proBNP huyết thanh.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp lâm sàng:
- Khẳng định tính khả thi, độ tin cậy và giá trị ứng dụng cao của quy trình siêu âm Doppler tim toàn diện (kết hợp siêu âm 2D, Doppler xung, Doppler liên tục và Doppler mô TDI) như một công cụ sàng lọc không xâm lấn, an toàn và chi phí thấp để phát hiện sớm tổn thương tim phải ở bệnh nhân tự miễn.
- Thiết lập giá trị chẩn đoán của xét nghiệm định lượng NT-proBNP huyết thanh thông qua điểm cắt trên đường cong ROC, hỗ trợ phát hiện sớm tăng áp động mạch phổi ở người bệnh LPBĐHT và XCBHT.
- Đề xuất kiến nghị lâm sàng: cần đưa siêu âm tim Doppler khảo sát chuyên sâu tim phải và định lượng NT-proBNP thành quy trình thăm dò định kỳ thường quy cho toàn bộ bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống và xơ cứng bì hệ thống, nhằm phát hiện sớm biến chứng tăng áp động mạch phổi và suy tim phải ngay từ giai đoạn chưa có biểu hiện lâm sàng rõ rệt, từ đó tối ưu hóa chiến lược can thiệp điều trị nội khoa kịp thời.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án được thực hiện theo thiết kế mô tả cắt ngang tại thời điểm nghiên cứu nên chưa theo dõi dọc được tiến trình thay đổi liên tục của hình thái và chức năng thất phải theo thời gian cũng như đáp ứng của các chỉ số siêu âm sau các phác đồ điều trị ức chế miễn dịch hoặc thuốc hạ áp lực động mạch phổi đặc hiệu. Kỹ thuật siêu âm tim qua thành ngực còn phụ thuộc vào cửa sổ siêu âm của người bệnh, một số trường hợp bệnh nhân xơ cứng bì có biến dạng lồng ngực, dày cứng da vùng ngực hoặc tổn thương phổi kẽ nặng có thể làm giảm chất lượng hình ảnh thu nhận. Ngoài ra, việc xác định áp lực động mạch phổi trong nghiên cứu dựa chủ yếu trên phương pháp siêu âm Doppler gián tiếp mà chưa thể đối chiếu song song với thông tim phải xâm lấn trên toàn bộ mẫu nghiên cứu do điều kiện lâm sàng thực tế.
Hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm: triển khai các nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc thuần tập (cohort) để đánh giá sự phục hồi hoặc tái cấu trúc ngược của thất phải sau điều trị đích; ứng dụng sâu hơn các kỹ thuật siêu âm tim ba chiều (3D), bốn chiều (4D) và siêu âm đánh dấu mô cơ tim (speckle tracking echocardiography) trên cỡ mẫu lớn hơn để chuẩn hóa các giá trị tham chiếu sức căng cơ tim chuyên biệt cho người bệnh tự miễn tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho các bác sĩ chuyên khoa Nội Tim mạch, Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Da liễu, Chẩn đoán hình ảnh cũng như các học viên sau đại học (bác sĩ nội trú, cao học, nghiên cứu sinh).
Nội dung luận án cung cấp hướng dẫn thực hành chi tiết về các mặt cắt siêu âm tim chuyên biệt cho buồng tim phải, quy trình tính toán các chỉ số huyết động không xâm lấn (PASP, PADP, PAPm, PVR, RAP) và các ngưỡng cắt bệnh lý quan trọng (TAPSE < 16 mm, S'/TDI < 10 cm/s, FAC < 35%, chỉ số Tei, chỉ số lệch tâm EI). Đồng thời, tài liệu là nguồn dữ liệu đối chiếu hữu ích cho các nhà nghiên cứu lâm sàng quan tâm đến sự tương tác tim - phổi và ảnh hưởng của bệnh lý hệ thống lên huyết động học tuần hoàn.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chuẩn huyết động để xác định tăng áp động mạch phổi (PAH) theo ESC/ERS 2015 trong luận án là gì?
Tăng áp động mạch phổi (PAH - Nhóm 1) được định nghĩa là tình trạng tăng áp phổi tiền mao mạch, thỏa mãn đồng thời: áp lực động mạch phổi trung bình (mPAP) ≥ 25 mmHg khi nghỉ ngơi, áp lực mao mạch phổi bít (PAWP) ≤ 15 mmHg và sức cản mạch phổi (PVR) > 3 đơn vị Wood, sau khi đã loại trừ các nguyên nhân tăng áp phổi do bệnh tim trái, bệnh phổi m