lời mở đầu cũng như nội dung chính mà Hiến chương Trái đất muôn đưa ra. Năm 2012, hội nghị Liên Hợp Quốc về PTBV (Rio +20) diễn ra tại Rio de Janerio, Brazil. Mục tiêu của hội nghị là đảm bảo cho các cam kết chính trị về PTBV đề ra, đánh giá những tiến bộ và hạn chế trong việc triển khai các nội dung của các Hội nghị thượng đỉnh trước về phát triển bền vững trước đây, đặc biệt Rio 1992, đồng thời xác định và tìm cách giải quyết cho những thách thức mới nổi trong thời gian gần đây. Hai nội dung chính của hội nghị là: Kinh tế xanh trong bối cảnh phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo và khuôn khổ thể chế cho sự phát triển bền vững.
Ở Việt Nam, một trong những học giả nổi tiếng về PTBV là Ngô Doãn Vịnh cũng đã đưa ra khái niệm về phát triển tới ngưỡng cho phép “ sự phát triển phải đảm bảo không phá hoại môi trường sống, đồng thời phải đem lại sự thỉnh vượng về kinh tế cho đại đa số nhân dân, giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội”. Tác giả Ngô Doãn Vịnh đặt ra phải thực sự có sự cân bằng, đảm bảo giữa phát triển kinh tế và các mặt xã hội, môi trường. Không vì phát triển kinh tế mà phá hoại môi trường, ảnh hưởng xấu đến xã hội, nhưng cũng phải lường trước được những hạn chế, khiếm khuyết của PTBV, phải vận dụng cái cốt lõi cơ bản của PTBV vào điều kiện thực tế Việt Nam cho phù hợp. 12 Việt Nam cũng là một thành viên tham gia chương trình Nghị sự 21, Chính phủ Việt Nam cũng đã có nhiều hoạt động cụ thể nhằm hướng tới phát triển bền vững như kí kết các cam kết về PTBV, đưa ra mục tiêu cụ thể, phương hướng hoạt động và phát triển của Việt Nam trong giai đoạn đến 2020 nhằm PTBV.
Đặc biệt, Việt Nam cũng đã đưa ra được một hệ thống chỉ tiêu nhằm đánh giá và giám sát PTBV ở Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 trong quyết định số 432/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (xem phụ lục 01) Như vậy, xuất phát điểm từ vấn đề môi trường, những hậu quả do sự phát triển kinh tế đem lại, thuật ngữ “phát triển bền vững” đã được hình thành. Cùng với sự nỗ lực của các chuyên gia, các tổ chức, các quốc gia thì thuật ngữ phát triển bền vững ngày nay đã được hoàn thiện bao gồm ba trụ cột chính là kinh tế, xã hội và môi trường. PTBV là cơ sở để vừa giúp cho sự phát triển hiện tại và vừa đảm bảo nguồn lực cho thế hệ tượng lai, là sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và các vấn đề về xã hội như nghèo đói, bất bình đẳng, mối quan hệ giữa con người với con người… cùng với các vấn đề về môi trường như rác thải, ô nhiễm. Không chỉ được hình thành, hoàn thiện, định nghĩa mà PTBV đã được phát triển thành một bản giao ước mang tính chất pháp lý, quy ước giữa các quốc gia nhằm đảm bảo các yếu tố như trên.
Hiện nay thuật ngữ “phát triển bền vững” là một trong những thuật ngữ được chú ý và sử dụng nhiêu nhất trên thế giới, không chỉ PTBV nói chung mà thuật ngữ này còn được vận dụng trong các ngành, lĩnh vực cụ thể. Mở rộng ra PTBV bao gồm ba cấu thành cơ bản: Phát triển bền vững về mặt kinh tế: sự phát triển phải dựa chủ yếu vào việc tăng năng suất và tiến bộ khoa học công nghệ mà giảm đi sự động viên của các yếu tố sản xuất. Nền kinh tế được xem là phát triển có hiệu suất khi độ gia tăng của nó nhiều hơn là tổng phần tăng đầu vào, tức các phần tăng của các yếu tố sản xuất. Phần nhiều hơn đó có được do áp dụng ngày càng nhiều các tiến bộ khoa học, công nghệ, tri thức quản lý kinh doanh, tư bản và tài nguyên dùng có hiệu suất hơn và trình độ lao động ngày càng cao hơn nhờ đẩy mạnh giáo dục và đào tạo.
Phát triển bền về mặt xã hội: Sự phát triển phải đảm bảo mức sống dân cư, mức sống của người dân ngày càng phải được nâng cao, tình trạng đói nghèo, bất 13 bình đẳng giầu nghèo phải là điều kiện tiên quyết cho việc phát triển bền vững. Phát triển không thể coi là bền vững khi kinh tế phát triển thịnh vượng nhưng nhiều người dân sống trong đói nghèo và bất bình đẳng. Phát triển phải đảm bảo sự công bằng giữa các thế hệ, sự phát triển của thế hệ ngày này phải đảm bảo nguồn lực để phát triển cho thế hệ mai sau. Phát triển những cái mới nhưng cũng phải bảo tồn, gìn giữ những giá trị văn hóa xã hội cũ.
Sự bền vững của phát triển được thể hiện khía cạnh xã hội ở quá trình gia tăng phúc lợi cho các thế hệ con người bằng cách gia tăng tài sản, bao gồm tài sản vật chất, tài sản tài chính, tài sản con người, tài sản môi trường (nước sạch, không khí sạch, bãi cá, rừng cây, đất đai.) và tài sản xã hội (sự tin cậy lẫn nhau, khả năng liên kết, sự đảm bảo an ninh cho người và tài sản. Phát triển bền vững về mặt môi trường: Sự phát triển phải đảm bảo không gây ô nhiễm, tổn hại đến môi trường sống, các nguồn tài nguyên thiên nhiên phải được khai thác một cách hợp lý, kết hợp khai thác và tái tạo lại những nguồn tài nguyên có thể tái tạo được. Tôn trọng và bảo tồn các giá trị môi trường như nước sạch, rừng, đa dạng sinh học. Giảm thiểu các tác động xấu do phát triển đem lại như khí thải nhà kính, hiện tượng sa mạc hóa, sự thay đổi khi hậu, sự nóng lên của Trái đất do sự khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên của con người.
Ba trụ cột cơ bản này cũng được thể hiện qua mô hình sau: Hình 1.1: Ba trụ cột của phát triển bền vững 14 1.2 Khái quát về phát triển thương mại bền vững. Theo nghĩa rộng, Thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường. Thương mại đồng nghĩa với kinh doanh được hiểu như là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thị trường. Theo luật thương mại năm 2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Theo quy định của Tổ chức thương mại thế giới thì thương mại bao hàm: Thương mại hàng hóa; thương mại dịch vụ; đầu tư; sở hữu trí tuệ. Theo nghĩa hẹp, Thương mại là quá trình mua bán hàng hóa dịch vụ trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa. Nếu hoạt dộng mua bán hàng hóa, dịch vụ có một bên là người nước ngoài thì người ta gọi đó là thương mại quốc tế. Với cách tiếp cận này, thì các hành vi thương mại bao gồm: mua bán hàng hóa; đại diện cho thương nhân; môi giới thương mại; ủy thác mua bán hàng hóa; đại lý mua bán hàng hóa; gia công thương mại; đấu giá hàng hóa; đấu thầu hàng hóa; dịch vụ giám định hàng hóa; khuyến mại; quảng cáo thương mại; trưng bầy giới thiệu hàng hóa; hội trợ triển lãm thương mại; dịch vụ phát triển kinh doanh… Trên thực tế, thương mại có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Nếu theo phạm vi hoạt động, thương mại có thể được chia thành nội thương và ngoại thương, thương mại khu vực, thương mại thành thị, thương mại nông thôn… Nếu nhìn theo góc độ đặc điểm và tính chất của sản phẩm trong quá trình tái sản xuất xã hội thì thương mại bao gồm: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ. thương mại tư liệu sản xuất, thương mại tiêu dùng… Với góc độ của quá trình lưu thông thì có thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ, hay theo kỹ thuật giao dịch có thương mại truyền thống và thương mại điện tử. Trong luận văn, tác giả nghiên cứu hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển thương mại bền vững dựa trên định nghĩa theo nghĩa hẹp của thương mại và phân loại thương mại theo phạm vi hoạt động, tức là thương mại gồm hai hoạt động chính là nội thương và ngoại thương (xuất và nhập khẩu). Các tiêu chí đánh 15 giá phát triển thương mại bền vững là các tiêu chí đánh giá nội và ngoại thương phát triển bền vững.
Trong Thương mại, nhiều người coi việc tồn tại lâu dài và lợi ích của doanh nghiệp, sự tăng trưởng là thước đo đánh giá. Tuy nhiên, phát triển thương mại bền vững (PTTMBV) mới là thước đo, cách tiếp cận mới toàn diện hơn để đánh giá, soi rọi các chiến lược thương mại đang được áp dụng dưới nhiều góc độ mà trước đây chưa được nhìn nhận đến. PTTMBV giúp bổ sung hoàn thiện các chính sách, chiến lược phát triển, đảm bảo sự cân bằng giữa yếu tố tăng trưởng, phát triển với các lợi ích về xã hội và môi trường. PTTMBV là sự phát triển có tổ chức hợp lý, hiệu quả cao trong một khoảng thời gian dài chứ không phải một vài năm hay một giai đoạn và phải đủ sức tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Các chiến lược phát triển thương mại hiện nay, nếu được soi qua các góc độ của PTBV có thể phải thay đổi, bổ sung, hoàn thiện và điều chỉnh cho phù hợp. Tổ chức phát triển Thương mại của Liên hợp quốc (UNCTAD – United Nation Confeence on trade and Development) đã có nhiều nỗ lực trong nhiều năm nhằm đưa ra và giải thích khái niệm PTTMBV nhằm giúp định hướng cho hoạt động đưa ra chính sách phát triển Thương mại cho các quốc gia. Trong đó vấn đề cốt lõi nhất của phát triển Thương mại bền vững là: “Tăng cường kinh tế, đáp ứng nhu cầu con người và bảo vệ môi trường”. Tuy nhiên cùng với sự gia tăng dân số, nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng tăng, điều nay đòi hỏi ngày càng phải sản xuất ra nhiều sản phẩm và khai thác ngày càng nhiều tài nguyên thiên nhiên và tác động ngày càng xấu với môi trường, làm thế nào để hài hòa các yếu tố này là điều mấu chốt của PTBV.
Quan niệm PTTMBV được UNCTAD áp dụng như là: “Những mô hình thương mại hóa hướng vào các lợi ích về kinh tế và xã hội của thể hệ hiện tại và các thế hệ sau mà không làm tổn hại tới quá trình sinh thái nền”.