CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 1. Công nghiệp và phát triển công nghiệp bền vững 1. Một số khái niệm cơ bản: * Khái niệm công nghiệp Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật.
Có nhiều quan điểm về công nghệ, có thể kể đến như: Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật.58] Theo Từ điển Tiếng Việt, công nghiệp (hoặc kỹ nghệ) là toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lượng và chuyển biến các nguyên liệu - gốc động vật, thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm.47] Hiểu theo nghĩa chung nhất, công nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất của xã hội, thông qua hoạt động khai thác, chế biến và sửa chữa, bảo dưỡng các sản phẩm công nghiệp, góp phần tạo ra và duy trì giá trị sử dụng các sản phẩm hàng hóa, đáp ứng yêu cầu của sản xuất và phục vụ đời sống con người. Nội hàm của khái niệm công nghiệp phản ảnh những nội dung sau: 10 Một là: Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất, tạo ra của cải và làm giàu cho xã hội. Nghĩa là, công nghiệp tạo ra giá trị và giá trị tăng thêm, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế.
Hai là: Công nghiệp là ngành kinh tế tạo ra giá trị và giá trị tăng thêm thông qua ba hoạt động cơ bản là: Khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến sản phẩm thô thành sản phẩm công nghiệp và sửa chữa sản phẩm công nghiệp. Ba là: Dưới góc độ là ngành kinh tế, công nghiệp sản xuất ra của cải vật chất, chính là tạo ra các sản phẩm hàng hóa, phục vụ phát triển các ngành kinh tế (nông nghiệp, dịch vụ) và phục vụ trực tiếp cho bản thân ngành công nghiệp. Phát triển các ngành công nghiệp là quá trình tạo ra ngày càng nhiều hàng hóa, phục vụ sản xuất, chế biến sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp. Bốn là: Dưới góc độ ngành kinh tế, công nghiệp sản xuất ra sản phẩm hàng hóa hay tạo ra của cải vật chất, phục vụ trực tiếp cho tiêu dùng cuối cùng của con người, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống thúc đẩy xã hội tiến lên văn minh, hiện đại.
Ở Việt Nam hiện nay ngành công nghiệp bao gồm các lĩnh vực: Khai thác khoáng sản, than, đá và dầu khí; chế biến, chế tạo (kể cả chế biến thực phẩm, gỗ); sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước. * Khái niệm phát triển công nghiệp Theo từ điển Tiếng Việt thì “Phát triển là mở mang rộng rãi, làm cho tốt hơn lên” [7, tr. Từ khái niệm công nghiệp và khái niệm phát triền có thể hiểu phát triển công nghiệp là quá trình làm cho ngành công nghiệp tăng trưởng về qui mô, thay đổi cơ cấu, nâng cao trình độ, chất lượng và đóng góp của công nghiệp vào phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình phát triển công nghiệp bắt nguồn từ sự phát triển của nền sản xuất xã hội và phân công lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội lần thứ hai đã tách công nghiệp ra khỏi nông nghiệp và trở thành một ngành sản xuất 11 độc lập, ban đầu là dưới hình thức sản xuất thủ công nhỏ. Cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, công nghiệp không ngừng phát triển, đi từ sản xuất nhỏ, thủ công thành một nền sản xuất hiện đại. Phát triển công nghiệp không chỉ bao hàm sự tăng lên về qui mô mà còn bao hàm sự thay đổi về chất của ngành công nghiệp theo hướng tiến bộ, từ thủ công sang tự động hóa, từ đơn giản lên tinh vi, từ trình độ thấp sang trình độ cao. Xét trong phạm vi một tỉnh, dưới góc độ quản lý kinh tế, phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh là tổng thể tất cả các hoạt động mà chính quyền tỉnh thực hiện nhằm nâng cao cả về lượng và chất ngành công nghiệp trên địa bàn.
* Khái niệm phát triển công nghiệp bền vững Đối với Việt Nam, nhiều người cho rằng phát triển công nghiệp bền vững đơn giản là khả năng tồn tại lâu dài của ngành công nghiệp. Tồn tại đồng nghĩa với duy trì được lợi ích doanh nghiệp và quốc gia. Tuy nhiên, làm thế nào để đạt được điều đó thì câu trả lời trở nên phức tạp và bắt đầu khác. Ở đây rõ ràng một sự phát triển cân đối hợp quy luật sẽ có những bảo đảm lâu dài hơn là sự phát triển thái quá chỉ nhằm đến mục tiêu trước mắt.
Xét về lý thuyết, các chuẩn mực hay thước đo cũng có thể thay đổi ứng với mỗi giai đoạn phát triển. Và không chỉ những vấn đề kinh tế - xã hội - môi trường, mà còn có cả những tác động đan xen của các khía cạnh chính trị và an ninh. Từ trong các phân tích chiến lược của Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp đã phác thảo ra 5 tiêu chí định hướng cho “Phát triển bền vững công nghiệp Việt Nam” (Chính sách công nghiệp theo định hướng phát triển bền vững - Dự án hỗ trợ và xây dựng Chương trình nghị sự 21 Quốc gia Việt Nam-2005- Bộ Kế hoạch và Đầu tư) như sau: Tiêu chí 1: Tăng trưởng bền vững. Tiêu chí 2: Tạo vị thế trong phân công quốc tế.
Tiêu chí 3: Tiêu dùng bền vững công nghiệp. Tiêu chí 4: Doanh nghiệp bền vững. 12 Tiêu chí 5: Chia sẻ cơ hội thực hiện công bằng xã hội, phù hợp thể chế chính trị và an ninh. Trong nội dung thứ nhất đề cập đến “Tăng trưởng bền vững” bao hàm cùng lúc các đảm bảo tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng.
Chất lượng tăng trưởng thể hiện ở 3 yếu tố chính: Giá trị gia tăng (VA), năng lực cạnh tranh và cơ cấu công nghiệp. Tiêu chí thứ 2 Tạo vị thế trong phân công quốc tế được đặt ra trong bối cảnh hội nhập và tự do hoá thương mại. Công nghiệp Việt Nam mặc dù nhỏ bé nhưng phải có chỗ đứng trong không gian chung, cân bằng được các quan hệ nhiều chiều trở thành một mắt xích trong mạng lưới phân công quốc tế. Tiêu chí thứ 3 đề cập đến tiêu dùng bền vững công nghiệp.
Nguyên tắc quan trọng nhất của phát triển bền vững là hài hoà giữa phát triển và bảo vệ môi trường. Trong công nghiệp, phát triển phải đi đôi với giảm thiểu ô nhiễm và phát thải, bởi tiêu dùng công nghiệp là nguyên nhân cơ bản tạo ra chất thải và các tác động tới môi trường và cả xã hội. Có 2 nội dung “tiêu dùng công nghiệp” quan trọng đó là: tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng sản phẩm công nghiệp. Tiêu chí thứ 4 cho rằng doanh nghiệp là cấu thành quan trọng nhất của công nghiệp, mỗi doanh nghiệp phải thực sự bền vững mới tạo ra nền công nghiệp bền vững.
Khái niệm doanh nghiệp bền vững phản ánh năng lực tự điều chỉnh và thích nghi trong môi trường luôn biến động (bền vững động), hàm chứ không chỉ các nội dung về kinh tế mà còn trách nhiệm xã hội đầy đủ (Corporate Social Responsibiliti - CSR) của doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội đầy đủ (CSR) chính là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường và xã hội, song lớn hơn xu hướng mới mong muốn tạo ra các sắc thái văn hoá doanh nghiệp. Các sắc thái mới chứa đựng các nội dung đầy đủ hơn không chỉ kinh tế, tạo ra giá trị riêng của doanh nghiệp và làm cho thương hiệu trở nên bền vững. Bền vững trước hết phải bắt nguồn từ trong ý thức, quyết định hành 13 động và ứng xử của mỗi doanh nghiệp và chính văn hoá doanh nghiệp tạo ra các giá trị gia tăng vô hình của doanh nghiệp trong nhiều trường hợp lớn hơn giá trị hữu hình mà doanh nghiệp tạo ra.
Đó chính là cách tiếp cận cạnh tranh mớitrong một thế giới hội nhập và theo các chuẩn mực giá trị mới. Tiêu chí thứ năm, cùng gắn với chia sẻ cơ hội thực hiện công bằng xã hội đối với các nhóm lợi ích, sao cho mọi người đều có quyền bình đẳng tiếp cận và chia sẻ các thành quả CNH. Trong tiêu chí này có thể thấy rằng lợi ích mà công nghiệp có được là sự hy sinh những lợi ích khác cả về môi trường và xã hội. Chính vì vậy, công nghiệp cần phải tạo ra cơ hội nhằm lập lại công bằng đối với các nhóm lợi ích.
Công nghiệp trước hết có thể góp phần xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách vùng miền, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị để tạo cơ hội giải quyết các bất bình đẳng giới. Xét đến cùng, phát triển bền vững chính là nhằm đến con người và đạt được mức độ công bằng hơn trong chia sẻ phúc lợi xã hội đối với con người. Công nghiệp trong các lựa chọn của mình phải hướng đến hay tạo ra các cơ hội để thực hiện công bằng xã hội đang đặt ra. Các vấn đề chính trị và an ninh được xem xét ở đây như là yếu tố không thể thiếu của bền vững công nghiệp.
Xuất phát từ nhận thức rằng những thành tựu phát triển đạt được hôm nay chính là nhờ sự ổn định chính trị và những giá trị lịch sử được thiết lập. Ở Việt Nam, nhờ đạt được sự chấp thuận về chính trị mà nền kinh tế mới hoà đồng được với thế giới và có chỗ đứng nhất đinh trên thị trường. Chính vì vậy, công nghiệp bên cạnh mục tiêu phát triển phải góp phần vào ổn định chính trị, duy trì sự đoàn kết và tự do tín ngưỡng, bảo tồn bản sắc văn hoá và các giá trị lịch sử. Đó là tiêu chí cần phải cân nhắc để đạt được độ bền vững trong cộng đồng và phù hợp với thể chế chính trị đặt ra.
Có thể hiểu theo cách tổng quát nhất: Phát triển công nghiệp bền vững là sự phát triển các ngành công nghiệp hiện tại mà không là trở ngại đến sự 14 phát triển các ngành công nghiệp trong tương lai.