CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Bối cảnh nghiên cứu Hà Nội đang phải đối mặt với “cuộc chiến giao thông”. Đó là nhận định của các chuyên gia Nhật Bản làm việc tại Dự án phát triển nguồn nhân lực an toàn giao thông Hà Nội (TRAHUT). Theo số liệu của Công an TP Hà Nội, chi phí tăng thêm do tiêu hao nhiên liệu và lãng phí công lao động do ùn tắc giao thông ở nội thành Hà Nội khoảng 36.4 tỷ VNĐ/ngày (12.812 tỷ VNĐ/năm, tương đương khoảng 600 triệu USD/năm).
Tình trạng ùn tắc giao thông kéo dài tại Hà Nội chính là hậu quả của sự phát triển không đồng bộ giữa tăng trưởng kinh trưởng và cơ sở hạ tầng giao thông. Tăng trưởng kinh tế kéo theo tăng dân số cơ học. Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, mỗi năm dân số Hà Nội tăng trung bình 1 triệu người, mật độ dân số năm 2013 là 2087/km2, cao gấp 8 lần mức bình quân cả nước. Trong đó có sự chênh lệch khá lớn giữa mật độ dân số tại khu vực nội thành và ngoại thành.1: Quy mô dân số thành phố Hà Nội qua các năm Năm Mật độ dân số Dân số (Người/km) (Nghìn người) 2013 2087.948 6,233 (Nguồn: Niên giám thống kê- Tổng Cục Thống kê) Về cơ sở hạ tầng giao thông, diện tích đường Hà Nội là 2.263 km2, chỉ chiếm khoảng 6,8% diện tích đô thị, trong khi bình quân thế giới là 15-20%.
Mật độ phương tiện giao 2 thông theo đăng ký đã đến mức báo động: cứ 1km đường phải gánh đến 500 ôtô và 5500 xe máy. Theo Hội quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam (VUPDA), hiện nay diện tích lòng đường tại khu vực nội thành chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu và rất khó để mở rộng. Trong khi đó, số lượng xe máy tại Hà Nội không ngừng tăng nhanh, trung bình mỗi năm có thêm 1 triệu xe máy đăng kí.2: Số lượng xe máy tại Hà Nội qua các năm (Đơn vị: triệu chiếc) (Nguồn: Hệ thống giao thông công cộng ở Hà nội: tính cấp thiết và những rào cản, Hội quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam) Nhằm hạn chế phát triển lượng giao thông cá nhân, nhất là xe máy, thành phố Hà Nội có chủ trương phát triển hệ thống giao thông công cộng, trong đó xe buýt đóng vai trò chủ lực. Hiện nay, Hà Nội có 4 đơn vị khai thác dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt là Công ty xe buýt Hà nội, Công ty xe buýt 10-10, Công ty xe buýt Thăng Long, Công ty xe buýt Liên Ninh, trực thuộc Tổng Công ty vận tải Hà Nội Transerco.
Mạng lưới tuyến xe buýt được chú trọng điều chỉnh hợp lý hóa, không ngừng cải thiện điều kiện vận hành và mở rộng vùng phục vụ tới các trung tâm dân cư mới và các quận huyện ngoại thành. 3 Hiện tại hệ thống xe buýt Hà Nội đang cung ứng cho người dân 4 loại hình dịch vụ xe buýt chính: o Dịch vụ xe buýt thường (Regular bus service): Đây là loại hình dịch vụ cơ bản trong hệ thống, hành khách được trợ giá. Dịch vụ có tần suất phục vụ cao, thời gian cung ứng dài, dừng đỗ tại tất cả các trạm dừng dọc tuyến. o Dịch vụ xe buýt nhanh (Express bus service): Đây là loại hình dịch vụ mới, có hướng tuyến và cơ sở hạ tầng trùng với các tuyến xe buýt thường nhưng chỉ dừng đón/trả khách tại một số trạm dừng đỗ chính.
Hiện tại đang cung ứng trên 6 tuyến. Dịch vụ này có tần suất phục vụ thấp, thời gian cung ứng chủ yếu vào các khung giờ cao điểm trong ngày. o Dịch vụ xe buýt chuyên trách (Commuter bus service): Đây là loại hình dịch vụ đã cung ứng từ lâu nhưng thường không thống kê, đặc biệt là các xe buýt đưa đón học sinh tại cá trường phổ thông hoặc các chuyến xe buýt đặt hàng. Dịch vụ này được xác định cụ thể hành trình, thường từ 2-4 chuyến/ngày/tuyến, thời gian cung ứng dịch vụ chủ yếu theo giờ đi làm và về nhà của đối tượng phục vụ.
o Dịch vụ xe buýt vùng (Regional bus): Đây là các tuyến xe buýt kết nối nội thành tới các trung tâm hành chính/ dân cư của các huyện ngoại thành (thuộc địa bàn Hà Tây cũ hoặc những tuyến xe buýt nối nội thành với trung tâm của các địa phương lân cận (còn gọi là xe buýt kế cận). Dịch vụ này cũng tương đối giống hình thức dịch vụ buýt thông thường nhưng có tần suất phục vụ thấp hơn (20-30 phút/chuyến/hướng), độ ổn định cung ứng thấp (dừng đỗ theo nhu cầu của khách), thời gian phục vụ ngắn. Các tuyến xe buýt được bố trí chủ yếu để vận chuyển hành khách đi lại trong nội thành, hành khách ngoài thành vào và ngược lại theo các hướng của Quốc lộ 1A, Quốc lộ 32, Quốc lộ 5, Quốc lộ 6, tiếp chuyển hành khách từ các bến xe liên tỉnh như: bến xe Phía Nam, Gia Lâm, Long Biên, Kim Mã, Hà Đông, các nhà ga như: ga Hà Nội, Gia Lâm, Văn Điển, Giáp Bát, Hà Đông. 4 Hầu hết các tuyến xe buýt đều có thời gian hoạt động từ 5h sáng đến 22h30, khoảng thời gian chờ từ 5-10-15-20-30 phút.
Tần xuất các chuyến xe buýt là từ 5 đến 20 phút, tần suất cao nhất là trong giờ cao điểm. Trung bình thời gian cho mỗi tuyến xe buýt trên toàn mạng là 35-40 phút. Giá vé xe buýt Hà Nội được thành phố trợ giá, kèm các mức giá ưu đãi dành cho học sinh, sinh viên, công nhân tại các khu công nghiệp. Với nhiều nỗ lực cải thiện chất lượng dịch vụ, xe buýt Hà Nội mở rộng mạng lưới làn tuyến phủ hầu khắp các khu vực trong thành phố.
Sau 14 năm hoạt động, số tuyến xe tăng gần gấp 3 lần, số lượng xe buýt tăng gần 6 lần, sản lượng VTHKCC tăng hơn 30 lần, xe buýt chứng tỏ được vai trỏ chủ đạo trong hệ thống giao thông công cộng của Hà Nội.3: Số liệu tăng trưởng của dịch vụ xe buýt Hà Nội qua các năm Năm Số lượng xe buýt Số tuyến Sản lượng khách/năm (triệu) 2001 237 30 15 2002 412 35 48 2003 700 40 174 2004 778 42 216 2005 800 57 300 2006 865 58 321 2007 926 60 348 2008 1.395 86 460 (Nguồn: Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện SXKD, Transerco (2013)) 5 VTHKCC bằng xe buýt tuy có những bước phát triển ấn tượng nhưng Sở GTVT cũng thừa nhận vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chất lượng dịch vụ còn nhiều yếu kém. Hạ tầng dành cho xe buýt lại thiếu và yếu, nhiều khu vực người dân khó tiếp cận với xe buýt và có khu vực còn trắng về xe buýt. Theo điều tra khảo sát của Transerco, 38% khách đi xe buýt hiện nay phải đi bộ trên 500m để đến điểm dừng xe buýt. Hệ thống hành trình hiện nay chỉ áp dụng một loại hình chạy suốt.
Hình thức chạy xe như vậy thuận lợi cho công tác tổ chức và điều độ xe nhưng chất lượng phục vụ và hiệu quả chưa cao vì chưa tính đến nhu cầu thực sự của khách hàng. Tình trạng quá tải: Năm 2001, bình quân 1 xe buýt chỉ vận chuyển 119 hành khách/ngày, năm 2005 là 1095 hành khách, hiện tại là 1.152 hành khách, đã chạm ngưỡng tối đa. Hệ số sử dụng sức chứa đạt bình quân toàn mạng là 80%. Giờ cao điểm hệ số sử dụng sức chứa của xe buýt càng cao hơn (bình quân là 140%), đặc biệt ở các tuyến trục hành lang lên gần 200%.
Nhiều xe buýt đã phải chờ gấp đôi công suất thiết kế vào giờ cao điểm, có xe phải nhồi đến hơn 200 khách trong khi công suất thiết kế là 90 chỗ. Tình trạng trễ giờ, bỏ bến thường xuyên chảy ra gây bức xúc cho khách hàng. Kết quả thống kê qua hệ thống GPS của Transerco cho thấy, do ảnh hưởng của ùn tắc giao thông nên thời gian chạy xe của các tuyến, đặc biệt là vào giờ cao điểm có những lượt xe bị muộn tới 30-40 phút. Chất lượng phương tiện kém: Chất lượng phương tiện là điều khách hàng không hài lòng khi đi xe buýt, nhiều xe buýt cũ vẫn còn được sử dụng, không gian chật chội,nóng bức và mất vệ sinh.
Tình trạng mất an ninh trên xe buýt: móc túi, trộm cắp hoành hành trên xe buýt từ lâu nhưng chưa có biện pháp giải quyết triệt để. Vấn nạn này khiến người dân Hà Nội, đặc biệt là học sinh sinh viên luôn nơm nớp lo sợ mỗi khi lên xe buýt. 6 Theo báo cáo của Transerco, mặc dù có nhiều nỗ lực phát triển xe buýt trong những năm qua, nhưng đến thời điểm này, xe buýt Hà Nội mới chỉ đáp ứng được 10% nhu cầu đi lại của người dân. Tính cấp thiết của đề tài Giao thông công cộng được xem là giải pháp then chốt để giải quyết bài toán ùn tắc giao thông tại các thành phố đông dân trên thế giới.
Tại các nước phát triển, quy hoạch hệ thống giao thông công cộng được tích hợp nhiều loại phương tiện như tàu điện trên cao, tàu điện ngầm, xe buýt. Tại Hà Nội, với điều kiện giao thông, kinh tế xã hội hiện nay, xe buýt vẫn được định hướng là phương tiện giao thông công cộng chủ chốt của thủ đô. Quy hoạch phát triển giao thông giai đoạn 2010-2020 của thành phố Hà Nội đề ra định hướng ưu tiên phát triển hệ thống giao thông công cộng, theo đó, Hà Nội sẽ là một đô thị có hệ thống giao thông công cộng hiện đại, chứ không phải là đô thị dành cho xe gắn máy. Quyết định số 90/2008/QĐ-TTg về quy hoạch phát triển giao thông vận tải thủ đô Hà Nội đến năm 2020 cũng đã chỉ ra giải pháp quan trọng cho giao thông Hà Nội là phát triển một hệ thống VTHKCC (với mục tiêu nâng tỷ phần vận tải đảm nhận của VTHKCC tại thời điểm năm 2020 lên khoảng 35%, 45% tổng nhu cầu đi lại của toàn thành phố).
Kết quả là, quy hoạch giao thông vận tải đô thị trong những năm qua đã tập trung vào việc nâng cấp mạng lưới giao thông đường bộ và phát triển một hệ thống VTHKCC đúng như mục tiêu dài hạn. Tuy nhiên, ở Hà Nội, các dự án giao thông công cộng mới chỉ tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng chứ chưa dựa vào phân tích nhu cầu của người sử dụng. Theo khảo sát của các trang tin điện tử hiện nay, người dân đánh giá hệ thống xe buýt hiện tại có chất lượng dịch vụ thấp, thời gian di chuyển dài, không thân thiện với người sử dụng. Như vậy, bên cạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng, vấn đề quyết định đến sự thành công của hệ thống xe buýt công cộng tại Hà Nội là phải hiểu và đáp ứng được nhu cầu thực sự của người dân.