Chương 1 giới thiệu câu hỏi nghiên cứu và giải thích lý do chọn đề tài. Trên cơ sở đó xác định mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu tổng thể và đóng góp của đề tài. Cuối cùng đã tiến hành chia bố cục cụ thể của khóa luận để thuận lợi nghiên cứu cho các chương tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Một số khái niệm nghiên cứu 2. Thế hệ Z Thế hệ Z, hay còn được biết đến là Gen Z (Z Generation) xuất hiện đầu tiên trong một bài báo vào tháng 09 năm 2000, chỉ những người sinh ra từ năm 1996 đến năm 2009 (Sladek & Grabinger, 2014), Gen Z lớn lên với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào thế kỷ XXI, điển hình là điện thoại di đông và mạng internet. Nhưng hơn cả công nghệ, con người thuộc thế hệ Z cũng chứng kiến những cuộc khủng hoảng khi họ chào đời: sự gia tăng của các vụ xả súng tại trường học, biến đổi khí hậu, khủng bố và khủng hoảng kinh tế. Những sự kiện này góp phần làm cho Gen Z trở nên cẩn trọng hơn, thực tế hơn, nhưng bên cạnh đó chúng cũng cung cấp cho thế hệ Z nguồn cảm hứng để thay đổi thế giới – và cách tiếp cận thực tế của họ đang cho phép họ làm điều đó (Sladek, Grabinger, 2014) Gen Z còn được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như Zoomers, iGeneration, Net Gen.
Thường thì các thành viên của Gen Z là con cái của thế hệ Gen Z hoặc Gen Y. Thế hệ Z chiếm khoảng 25% dân số toàn cầu, khoảng 2,6 tỷ người. Tại Việt Nam, Gen Z bao gồm khoảng 15 triệu người, chiếm 25% lực lượng lao động của cả nước. Epinion Global đã thực hiện một nghiên cứu về Gen Z tại Việt Nam vào năm 2015 với 710 mẫu trả lời khảo sát.
Họ nhận định rằng Gen Z thường tận hưởng thời gian ở nhà, có xu hướng không thể tách rời khỏi điện thoại di dộng, và Gen Z tương đối quan tâm đến các vấn đề xã hội. Theo nghiên cứu về tiêu dùng xanh của Nielsen Việt Nam, Gen Z – nhóm người tiêu dùng chính của rất nhiều nhãn hàng hiện nay, có xu hướng khắt khe hơn với việc mua sắm xanh. Họ là thế hệ tập trung vào phong cách sống xanh, tư ăn uống, sinh hoạt cho đến mua sắm, họ đều nghĩ đến phương án có thể bảo vệ môi trường. Khái niệm về sản phẩm xanh Hiện nay, việc mua sắm và sử dụng các sản phẩm được sản xuất từ các vật liệu thân thiện với môi trường hoặc đảm bảo an toàn cho sức khỏe đang trở thành một thói quen phổ biến hoặc xu hướng đối với đa số người dân ở nhiều quốc gia như Nhật Bản, Anh, và Mỹ.
Theo Shamdasani & cộng sự (1993), sản phẩm xanh được định nghĩa là sản phẩm không làm tổn hại đến môi trường sống hoặc nguồn tài nguyên thiên nhiên, hoàn toàn có thể tái chế; là sản phẩm có chất liệu hoặc cách thức bao gói thân thiện với môi trường, ít có ảnh hưởng đến môi trường. Nghiên cứu của Dangelico & Pontrandolfo, 2010 cho thấy sản phẩm xanh là sản phẩm ít chất độc hại giúp giảm thiểu ảnh hưởng không đáng có đến môi trường sống, nâng cao chất lượng không khí và giảm thiểu ô nhiễm chất lượng nguồn nước. Có 5 nhóm sản phẩm chính gồm nhu yếu phẩm hàng ngày (gồm trái cây hữu cơ, cà phê hữu cơ và bao bì nhựa thân thiện với môi trường), thực phẩm, thịt, cá, gia cầm (bao gồm gà rừng và vịt nuôi thả vườn), dệt may (làm từ sợi thiên nhiên thô), thiết bị điện, điện tử (bao gồm điều hoà tiết kiệm năng lượng, thiết bị tiết kiệm điện). Thị trường sản phẩm và dịch vụ liên quan đến môi trường, thường được biết đến với tên gọi “Công nghệ Môi trường”, được định nghĩa thông qua các công nghệ hướng tới việc hỗ trợ phát triển bền vững.
Các công nghệ này nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro, cải thiện tính hiệu quả về mặt chi phí, nâng cao hiệu quả của các quy trình, và phát triển sản phẩm và quy trình thân thiện (hoặc ít ảnh hưởng xấu) đến môi trường. Tính bền vững môi trường trong kinh doanh là nghệ thuật thu lợi từ nhu cầu của khách hàng mà không gây tổn thương cho thế giới xung quanh chúng ta. Các thuật ngữ “Công nghệ Sạch” và “Công nghệ Xanh” thường được sử dụng thay thế cho Công nghệ Môi trường. Trong lĩnh vực tài chính, Công nghệ Sạch đại diện cho các mô hình kinh doanh liên quan đến công nghệ mới đem lại lợi ích cạnh tranh cho nhà đầu tư và người tiêu dùng trong khi cung cấp dịch vụ đáp ứng các thách thức toàn cầu (OSEC, 2009).
Nói chung, sản phẩm xanh được coi như một sản phẩm sinh thái hoặc thân thiện với môi trường. Sản phẩm xanh cũng được định nghĩa như “sản phẩm không gây ô nhiễm cho trái đất hoặc làm suy giảm tài nguyên tự nhiên, và có thể tái 8 chế hoặc bảo quản”. Đó là sản phẩm có nội dung hoặc bao bì có ít tác động độc hại đến môi trường hơn (Hosein & Cộng sự, 2013). Nói một cách khác, sản phẩm xanh là những sản phẩm tích hợp các chiến lược tái chế hoặc chứa nhiều nội dung tái chế, sử dụng bao bì giảm hoặc các vật liệu ít độc hại nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên (Chen & Chai, 2010).
Hành vi mua sắm xanh Các quốc gia trên thế giới ngày càng chú ý hơn đến việc thiết lập các chính sách mua sắm xanh nhằm thúc đẩy phát triển các mô hình sản xuất mới và thúc đẩy tiêu dùng bền vững (Pandurangarao & công sự, 2011). Những chính sách này không chỉ hỗ trợ phát triển nền kinh tế xanh mà còn giúp giảm lượng khí nhà kính thải ra môi trường. Thuật ngữ “mua sắm xanh” thường đề cập đến việc mua và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường, không đe dọa hệ sinh thái tự nhiên hoặc gây hại cho sức khỏe con người. Kotler (2005) tin rằng hành vi của người tiêu dùng đề cập đến hành động thực tế của cá nhân khi mua, lựa chọn và sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ.
Một cách nghĩ khác là hành vi của người tiêu dùng là kết quả của hành động, thái độ và suy nghĩ của họ về quá trình mua sắm. Quá trình mua sắm bắt đầu ngay khi người tiêu dùng có nhu cầu cho đến khi họ hoàn thành việc mua sản phẩm, còn gọi là quá trình ra quyết định mua sản phẩm. Việc đánh giá và xem xét các vấn đề môi trường cùng với các tiêu chí về giá cả cũng như hiệu quả sử dụng khi quyết định mua sắm nhằm giảm thiểu tác động đến sức khỏe và môi trường. Nếu cân nhắc sử dụng các sản phẩm này, (Lan, 2007) đánh giá rằng nó có thể giảm thiếu tác động xấu với môi trường, bảo vệ các nguồn tài nguyên và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Thực trạng về mua sắm sản phẩm xanh Hiện nay, việc mua sắm và sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ các vật liệu thân thiện với môi trường hoặc đảm bảo an toàn cho sức khỏe đang trở thành một thói quen phổ biến hoặc xu hướng đối với đa số người dân ở nhiều quốc gia như Nhật Bản, Anh, và Mỹ. Nhằm thúc đẩy thay đổi mô hình sản xuất, phân phối và tiêu dùng bền vững, nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra những chính sách thúc đẩy mua sắm xanh. Tại Việt Nam, “mua sắm xanh” còn là một khái niệm tương đối mới lạ, chỉ xuất 9 hiện ở các đô thị lớn, nơi có trình độ dân trí cao và thuận lợi khi tiếp cận với nhiều loại hàng hoá. HCM được coi là một trong các trọng điểm kinh tế của đất nước, mật độ dân số cao, mức sống cao, tập trung đủ các tầng lớp tri thức đến người lao động.
Mua sắm xanh là một trong những yếu tố then chốt trong Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia 2021-2030 và Tầm nhìn 2050 của Việt Nam (Trần Thụy Ngọc, 2023). Với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và mức sống của người dân được cải thiện, nhu cầu trải nghiệm các sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, an toàn, có lợi cho sức khỏe con người ngày càng tăng. Vì vậy, các giải pháp thúc đẩy sản xuất xanh, mua sắm xanh đang nhận được nhiều sự quan tâm hơn. Chiến lược phát triển kinh tế và xã hội tổng thể của Việt Nam từ 2011 đến 2020 xác định sự cần thiết phải thúc đẩy chuyển đổi tiêu dùng xanh để bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường.
Trong “Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia 2021-2030” và Tầm nhìn 2050, mua sắm và tiêu dùng xanh được xác định là một trong những nội dung trọng tâm cần được đẩy mạnh. Nhiều nơi trên cả nước đã xây dựng chủ trương, chính sách, kế hoạch hành động về mua sắm xanh, bước đầu đạt kết quả tốt và thu hút đông đảo người dân tham gia. Đặc biệt, sau đại dịch Covid-19, nhiều người tiêu dùng cho biết họ ưa chuộng việc mua thực phẩm hữu cơ, thực phẩm hữu cơ theo phương pháp sinh học, và thực phẩm không biến đổi gen, vì chúng được sản xuất thông qua phương pháp canh tác truyền thống và không gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Dù giá thành của những sản phẩm này có tăng lên nhưng người dùng vẫn chấp nhận vì ý thức được vấn đề sức khỏe và tác động lên hệ sinh thái.
Trong Khảo sát thói quen Tiêu dùng tháng 12 năm 2021, PwC đã khảo sát 9.370 người trả lời sống ở 26 khu vực và quốc gia, trong đó có Việt Nam, kết quả cho thấy người tiêu dùng ngày nay quan tâm nhiều hơn đến môi trường. Hơn 47% người tham gia cho biết họ ưu tiên các sản phẩm có khả năng phân hủy sinh học. Trước đó, kết quả khảo sát được công ty Nielsen Việt Nam công bố tại hội thảo “Chiến lược thương hiệu liên quan đến phát triển xanh” do Cục Xúc tiến Thương mại – Bộ Công Thương tổ chức năm 2017 cho thấy người tiêu dùng Việt Nam ngày càng quan tâm đến vấn 10 đề “xanh”, “sạch”. Sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho những thương hiệu có cam kết, chứng nhận “xanh”, “sạch”.
Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang triển khai các chương trình nhằm tăng trưởng mua sắm xanh, hoạt động nỗ lực giảm rác thải nhựa, hạn chế sử dụng túi nilon, cụ thể là Co.op mart Việt Nam, Liên hiệp Hợp tác sã Thương mại TP. HCM, Siêu thị BigC.