chương 1, chương này giới thiệu về các khái niệm, định nghĩa về hàng giả, trình bày các lý thuyết về hành vi người tiêu dùng, các nghiên cứu trước đây về thái độ và hành vi mua hàng giả của người tiêu dùng của các tác giả trong và ngoài nước. Đồng thời, tại chương này cũng xây dựng các giả thuyết và đưa ra mô hình đề xuất của nghiên cứu. Hàng giả Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hàng giả là một vấn đề rất nghiêm trọng và ngày càng gia tăng tại hầu hết tại các nước. Điều này đã gây thiệt hại cho nền kinh tế của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng.
Cụ thể, theo số liệu của tổ chức Liên minh chống hàng giả quốc tế (ICC), việc tiêu dùng hàng giả đã gây thiệt hại 200 tỷ USD cho toàn cầu vào năm 1996 và đến năm 2004, giá trị hàng giả lưu thông trên toàn cầu ước tính khoảng 500 tỷ USD, chiếm khoảng 7% các giao dịch toàn cầu. Năm 2010, giá trị của hàng giả đã đạt đến 1.000 tỷ USD (Sahin và Atilgan, 2011) và đến năm 2015, theo số liệu của tổ chức Liên minh chống hàng giả quốc tế (ICC), giá trị của hàng giả toàn cầu đạt đến 1. Theo Chaudhry và Walsh (1996), hàng giả là những sản phẩm mang nhãn hiệu giống hệt hoặc không thể phân biệt với thương hiệu đã được đăng ký và sản phẩm đó sẽ vi phạm quyền của chủ sở hữu thương hiệu. Như vậy, hàng giả là hàng hóa sao chép hoặc bắt chước các sản phẩm chính hãng đã được cấp bằng sáng chế và đăng ký nhãn hiệu mà không có sự cho phép của các nhà sản xuất chính hãng, thông thường các sản phẩm này trông tương tự hoặc giống hệt các sản phảm chính hãng về thiết kế và nhãn hiệu (Nordin, 2009; Harun và ctg, 2012).
Mặc dù thực tế rằng bán và sản xuất hàng giả được coi là tội phạm ở một số nước, ví dụ, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh (Hopkins et al, 2003). Nghiên cứu của Penz và STO ttinger (2003) cũng đã kêu gọi điều tra về hành vi 7 của người tiêu dùng đối với hàng giả. Và từ kết quả của nghiên cứu của Bian và Veloutsoyu (2007) cũng đã chỉ ra đã cho rằng nhu cầu tiêu dùng hàng giả là một trong những nguyên nhân hàng đầu của sự tồn tại và sự bùng nổ trong sự phát triển của hiện tượng hàng giả. Đồng thời, theo Yoo và Lee (2009); Harun và ctg (2012), sản phẩm của các thương hiệu cao cấp thường bị làm giả và hàng giả xuất hiện nhiều ở các sản phẩm như quần áo, đồng hồ, giày dép, trang sức; các thương hiệu càng nổi tiếng thì số lượng hàng giả các thương hiệu này thường xuất hiện càng nhiều trên thị trường.
Hàng giả thường xuất hiện trong 2 hình thức khác nhau là: hàng giả mang tính chất lừa đảo và không mang tính chất lừa đảo (Grossman và Shapiro, 1988a). Với hình thức mang tính chất lừa đảo, người tiêu dùng không biết là họ đang mua phải một sản phẩm giả chứ không phải sản phẩm gốc hay chính hãng. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu này chỉ tập trung vào việc mua hàng giả không mang tính chất lừa đảo nghĩa là người tiêu dùng hoàn toàn biết về nó và có hành vi tiêu dùng có chủ đích. Tại Việt Nam, cùng với mỗi giai đoạn phát triển của kinh tế - xã hội, hàng giả được quy định tại các văn bản pháp luật như sau: Theo thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày 27/04/2000 của Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, Bộ Công An, Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, hàng hoá có một trong các dấu hiệu sau đây được coi là hàng giả: hàng giả chất lượng hoặc công dụng; giả về nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá; giả về nhãn hàng hoá Theo Thông tư số 44/2011/TT-BTC ngày 01/04/2011, khái niệm hàng giả bao gồm được bổ sung so với thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA- BKHCNMT thêm trường hợp: giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ và giả mạo các loại đề can, tem chất lượng, tem chống giả, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hoá có nội dung giả mạo.
Thái độ của người tiêu dùng 8 Thái độ là khuynh hướng thiên về học hỏi để hành xử trong một tình huống theo một cách thuận lợi hay không thuận lợi đối với một đối tượng nhất định (Schiffman và Kanuk, 1997). Trong khi Bagozzi và ctg (2002) định nghĩa rằng thái độ là sự đánh giá, là một xu hướng tâm lý được thể hiện bằng đánh giá ủng hộ hay không ủng hộ một chủ thể cụ thể nào đó. Thái độ có tương quan cao với hành vi của một người là dự báo hợp lý của hành vi (Ajzen và Fishbein, 1975). Thái độ có thể đi từ tích cực đến tiêu cực.
Thái độ được hình thành bởi nhiều tác động. Nhiều thái độ khác nhau của con người được hình thành từ những kinh nghiệm đầu tiên cũng như từ sự tác động của những người xung quanh. Điều này có nghĩa rằng nếu một người thái độ đối với các sản phẩm hàng giả là ủng hộ thì rất có thể người sẽ xem xét việc mua một sản phẩm giả mạo, nhưng nếu thái độ của một cá nhân đối với sản phẩm hàng giả là không ủng hộ thì rất có thể người đó sẽ không xem xét việc mua một sản phẩm là sản phẩm giả mạo. Thái độ là một yếu tố để dự đoán ý định và hành vi của người tiêu dùng (Ajzen và Fishbein, 1975; Ajzen, 1991.
Theo nghiên cứu của (Phau và Teah, 2009), thái độ đối với hàng giả được coi là một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi mua hàng giả. Hành vi tiêu dùng sản phẩm hàng giả thương hiệu cao cấp: Theo Peter D.Bennett (1988), hành vi của người tiêu dùng là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ. Theo Philip Kotler (2007), hành vi khách hàng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ. Theo Trần Minh Đạo (2009), hành vi của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng liên quan đến việc mua sắm và tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ: như tìm kiếm, lựa chọn, mua sắm và tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu cá nhân.
9 Cũng có thể coi hành vi của người tiêu dùng là những quyết định của người tiêu dùng liên quan đến việc sử dụng nguồn lực của mình (tài chính, thời gian, công sức, kinh nghiệm) để mua sắm và sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi mua hàng giả thương hiệu cao cấp của người tiêu dùng là toàn bộ những hành động của người tiêu dùng liên quan đến các sản phẩm hàng giả thương hiệu cao cấp như tìm kiếm, lựa chọn, mua sắm và tiêu dùng sản phẩm hàng giả thương hiệu cao cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người tiêu dùng.Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng Các lý thuyết hành vi hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1975), lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) và lý thuyết hành vi của người tiêu dùng theo Kotler là nền tảng cho các tác giả khác nhau phát triển và xây dựng mô hình nghiên cứu và thái độ và hành vi của người tiêu dùng. Đồng thời, đối với nghiên cứu này, sẽ sử dụng lý thuyết về hành vi người tiêu dùng của Kotler (2001), lý thuyết hành vi hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1975) và lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) để tìm hiểu, xác định và nghiên cứu các yếu tố sẽ được đưa ra để nghiên cứu thái độ và việc tiêu dùng hàng giả thương hiệu cao cấp của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh. Việc phân tích các lý thuyết về hành vi người tiêu dùng như: lý thuyết hành động hợp lý, lý thuyết hành vi dự định để giải thích hành vi mua hàng giả của người tiêu dùng.
Hành vi mua hàng giả của người tiêu dùng được xác định bởi hành vi mua hàng giả và chịu ảnh hưởng bởi thái độ đối với hành vi, và theo Ajzen (1991), thái độ được xem là một biến dự báo cho hành vi. Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng của Kotler (2001) Các nhóm yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng được tập hợp thành 4 nhóm yếu tố: những yếu tố văn hóa, những yếu tố mang tính chất xã hội, những yếu tố mang tính chất cá nhân, những yếu tố mang tính chất tâm lý (Phillip Kotler, 2001) 10 Hình 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng Nhóm yếu tố tâm lý Nhóm yếu tố xã hội: - Động cơ - Tri giác - Các nhóm chuẩn mực - Niềm tin và thái độ - Gia đình Người mua Nhóm yếu tố cá nhân: - Tuổi tác và giai đoạn đầu của chu trình đời sống gia Nhóm yếu tố văn hóa: đình - Nền văn hóa - Tình trạng kinh tế - Nhánh văn hóa - Cá tính và nhận thức - Giai tầng xã hội - Lối sống, nhân cách và quan niệm của bản thân Nguồn: Kotler (2001) Kotler (2001) đã đưa mô hình về hành vi người tiêu dùng và tác giả trình bày, giải thích quá trình ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng và các yếu tố tác động đến quá trình này. Tác giả cho rằng các khía cạnh của Marketing bao gồm: sản phẩm, giá, phân phối, chiêu thị và các yếu tố khác từ bên ngoài như kinh tế, chính trị, công nghệ, văn hóa sẽ ảnh hưởng đến quy trình ra quyết định mua hàng thông qua các tâm lý cũng như đặc điểm của người tiêu dùng. Ngoài ra, việc mua sắm của người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng bởi nhóm nhân tố nội tại (nhân tố tâm lý và nhân tố cá nhân), nhân tố bên ngoài (nhân tố văn hóa và nhân tố xã hội).
Tóm lại, theo lý thuyết này hành vi mua hàng người tiêu dùng sẽ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố : văn hóa, xã hội, cá nhân, tâm lý. Do vậy, ứng dụng của thuyết này trong nghiên cứu là nghiên cứu tác động của yếu tố bởi nhóm nhân tố nội tại (nhân tố tâm lý và nhân tố cá nhân), nhân tố bên ngoài (nhân tố xã hội) đến lựa chọn hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng.