Tổng quan luận án

Sỏi đường mật là bệnh lý ngoại khoa phổ biến tại Việt Nam với tỷ lệ mắc chiếm khoảng 3,32% đến 6,11% dân số. Khác với các nước Âu - Mỹ nơi sỏi túi mật chiếm ưu thế và sỏi ống mật chủ phần lớn là thứ phát do sỏi từ túi mật rơi xuống, tại Việt Nam và các nước nhiệt đới, sỏi đường mật nguyên phát chiếm tỷ lệ cao. Đặc biệt, sỏi đường mật trong gan chiếm từ 18% đến 55%, gây ra nhiều khó khăn trong chẩn đoán, điều trị cũng như nguy cơ tái phát cao. Cho đến nay, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của sỏi đường mật vẫn chưa được xác định đầy đủ, dẫn đến việc chưa có biện pháp điều trị triệt để nhằm loại bỏ hoàn toàn căn nguyên gây bệnh.

Mục tiêu điều trị sỏi đường mật tập trung vào việc lấy sạch sỏi, phục hồi lưu thông đường dẫn mật, hạn chế sót sỏi, dự phòng tái phát và xử trí các biến chứng. Để thực hiện hiệu quả, việc chẩn đoán chính xác vị trí, số lượng sỏi và hình thái bất thường của cây đường mật đóng vai trò quyết định. Trong các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, chụp cộng hưởng từ (CHT) đường mật là phương pháp không xâm lấn, không dùng thuốc cản quang và có khả năng dựng hình cây đường mật không gian ba chiều. Tuy nhiên, các nghiên cứu đánh giá có hệ thống về đặc điểm hình ảnh và giá trị chẩn đoán của CHT đối với sỏi đường mật chính tại Việt Nam vẫn còn hạn chế.

Bên cạnh đó, việc ứng dụng phẫu thuật nội soi (PTNS) kết hợp với nội soi đường mật (NSĐM) để lấy sỏi đã phát triển mạnh mẽ. Mặc dù vậy, kỹ thuật này tồn tại một số hạn chế kỹ thuật:

  • Khó khăn trong điều khiển ống nội soi mềm qua khoảng trống từ thành bụng vào ống mật chủ khi ổ bụng đang bơm hơi.
  • Áp lực dòng nước tưới rửa làm giãn đường mật bị suy giảm do dịch mật và nước thoát ra ngoài qua lỗ mở ống mật chủ.
  • Nguy cơ rơi sỏi và tràn dịch rửa vào khoang phúc mạc buộc phẫu thuật viên phải hút liên tục, làm kéo dài thời gian can thiệp, tăng nguy cơ nhiễm khuẩn ổ bụng và hình thành áp xe tồn dư sau mổ.

Để khắc phục những nhược điểm trên, giải pháp sử dụng ống nối mật - da đã được nghiên cứu và ứng dụng nhằm tạo đường dẫn kín phục vụ nội soi tán sỏi. Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Lê Văn Lợi với đề tài "Nghiên cứu giá trị của cộng hưởng từ, phẫu thuật nội soi và nội soi tán sỏi qua ống nối mật - da điều trị sỏi đường mật chính" được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu sau:

  1. Nghiên cứu giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán sỏi đường mật chính.
  2. Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi và nội soi tán sỏi qua ống nối mật - da trong điều trị sỏi đường mật chính.
  • Chuyên ngành: Ngoại tiêu hoá (Mã số: 62720125).
  • Cơ sở đào tạo: Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108 (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108).
  • Người hướng dẫn khoa học: PGS. Triệu Triều Dương, TS. Lê Nguyên Khôi.
  • Năm hoàn thành: 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu về giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán sỏi đường mật

Trên thế giới, chụp cộng hưởng từ mật tụy đã được xác định là công cụ chẩn đoán không xâm lấn có độ chính xác cao trong đánh giá sỏi đường mật:

  • Chan và cộng sự (1996) báo cáo độ nhạy của CHT đạt 95%, độ đặc hiệu 85%, giá trị dự báo dương tính (PPV) 82%, giá trị dự báo âm tính (NPV) 96%.
  • Soto J.A. và cộng sự (2000) ghi nhận độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 96%, PPV 96%, NPV 100%.
  • Verghese và cộng sự (2000) công bố độ nhạy 91% và độ đặc hiệu 90%.
  • Laokpessi A. và cộng sự (2001) nhận định CHT có giá trị tương đương nội soi mật tụy ngược dòng (NSMTND), độ đặc hiệu cao hơn chụp đường mật trong mổ, dù còn hạn chế với sỏi nhỏ dưới 3 mm hoặc kèm viêm đường mật cấp.
  • Aubé C. và cộng sự (2005) so sánh CHT với siêu âm nội soi trên 47 bệnh nhân theo dõi sỏi ống mật chủ, kết luận hai phương pháp có độ chính xác tương đương nhưng CHT ưu việt hơn nhờ tính chất không xâm lấn.
  • Kondo và cộng sự (2005) khuyến nghị CHT là lựa chọn hàng đầu so với cắt lớp vi tính (CLVT) và siêu âm nội soi do không gây nhiễm xạ và không xâm lấn.
  • Kim Y.K. và cộng sự (2006) báo cáo độ nhạy đạt 97,8% và độ đặc hiệu dao động từ 90% đến 100%.
  • Diego Ledro-Cano (2007) tiến hành phân tích gộp (meta-analysis) và chỉ ra không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa CHT và siêu âm nội soi khi lấy chuẩn là NSMTND hoặc chụp đường mật trong mổ.
  • Lee S.L. và cộng sự (2017) nghiên cứu trên 78 bệnh nhân, chỉ ra độ nhạy của CHT trong phát hiện sỏi đường mật chính có viêm đường mật đạt 93,3% so với 66,7% của CLVT ($p < 0,008$), độ chính xác tổng thể trong phát hiện sỏi túi mật là 85,9% so với 74% của CLVT ($p < 0,041$).

Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng khẳng định vị trí của CHT trong chẩn đoán sỏi mật:

  • Nguyễn Hữu Thịnh (2006) khảo sát 52 bệnh nhân sỏi trong gan, ghi nhận độ nhạy 92,5%, độ đặc hiệu 89,7%; 75% trường hợp chẩn đoán sai liên quan đến tiền sử can thiệp đường mật ($p < 0,01$).
  • Phùng Tấn Cường (2006) nghiên cứu 72 bệnh nhân sỏi trong gan, đạt độ nhạy 97%, độ đặc hiệu 90,9%.
  • Nguyễn Việt Thành (2009) đánh giá 98 bệnh nhân, ghi nhận độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 86,3%, độ chính xác 96,9%, PPV 96,2%, NPV 100%.
  • Phạm Hồng Liên (2011) nghiên cứu trên 56 bệnh nhân sỏi đường mật chính ngoài gan, đạt độ nhạy 98%, độ đặc hiệu 83,3%, độ chính xác 96,4%, PPV 98%, NPV 83,3%.
  • Trần Mạnh Hùng (2012) báo cáo độ nhạy và PPV của CHT đạt 100%, xác định chính xác số lượng sỏi so với phẫu thuật đạt 100%.
  • Trần Doanh Hiệu và cộng sự (2016) nghiên cứu trên 26 bệnh nhân sỏi ống mật chủ, ghi nhận độ nhạy 96,2%, độ đặc hiệu 80%, độ chính xác 93,5%, PPV 96,2%, NPV 80%.

Các hướng nghiên cứu về phẫu thuật nội soi điều trị sỏi đường mật chính

Trên thế giới, kỹ thuật PTNS lấy sỏi đường mật chính được Stoker áp dụng từ năm 1990:

  • Li M.K.W. và cộng sự (2006) thực hiện trên 174 bệnh nhân: thành công 92%, chuyển mổ mở 7%, biến chứng 20%, sót sỏi 8%, tử vong 0,6%, thời gian mổ trung bình 129 phút.
  • Berthou và cộng sự (2007) nghiên cứu 505 bệnh nhân: thành công 96,2%, biến chứng 6,6%, tử vong 1,1% (chủ yếu liên quan đến bệnh nhân ASA-IV hoặc suy gan trên nền xơ gan).
  • Paganini và cộng sự (2007) báo cáo 334 bệnh nhân: thành công 95,6%, biến chứng 7,7%, sót sỏi 3,1%.
  • Stromberg và cộng sự (2008) lấy sỏi qua ống cổ túi mật trên 115 bệnh nhân, tỷ lệ thành công đạt 85%.
  • Grubnik và cộng sự (2012) so sánh ngẫu nhiên giữa PTNS và mổ mở, cho thấy tỷ lệ sạch sỏi và biến chứng tương đương nhưng PTNS có thời gian nằm viện ngắn hơn (4,2 ngày so với 12,6 ngày) và ít mất máu hơn.
  • Ye X. và cộng sự (2013) nghiên cứu 201 trường hợp: thành công 96,5%, biến chứng 21,4%, sót sỏi 3,98%, không có tử vong.
  • Lee và cộng sự (2014) khảo sát 157 bệnh nhân: thành công 96,8%, biến chứng 7,2%, sót sỏi 1,3% (hoặc 13% theo bảng tổng hợp).
  • Hua và cộng sự (2016) trên 500 ca: thành công 99%, rò mật 3,4%, tử vong 0,4%.

Tại Việt Nam, kỹ thuật PTNS đường mật được triển khai từ năm 1992 (cắt túi mật tại Bệnh viện Chợ Rẫy) và phát triển sang mở ống mật chủ lấy sỏi:

  • Nguyễn Hoàng Bắc (2007) nghiên cứu 172 bệnh nhân: thành công 97,7%, chuyển mổ mở 2,3%, tai biến 1,2%, biến chứng 6,4%, sạch sỏi sau cùng đạt 93,5%.
  • Nguyễn Khắc Đức (2010) thực hiện trên 148 bệnh nhân: thành công 86,49%, tai biến 2,75%, biến chứng 3,91% (có 2 ca áp xe dư phải mổ mở), tỷ lệ nội soi đường mật trong mổ chỉ đạt 11,72%.
  • Trần Mạnh Hùng (2012) áp dụng mở ống mật chủ không dẫn lưu cho 105 trường hợp: thành công 99%, biến chứng 7,6%.
  • Võ Đại Dũng (2015) nghiên cứu 43 bệnh nhân sỏi trong gan áp dụng ống nối mật - da: thành công 100%, biến chứng 4,7%, sạch sỏi ngay sau mổ đạt 30,23%, lấy được phần lớn sỏi (> 80%) đạt 48,84%, thời gian mổ trung bình 270 phút.
  • Sử Quốc Khởi (2019) nghiên cứu 103 bệnh nhân: thành công 97,1%, tai biến 3,9%, sạch sỏi thì đầu 83%, còn sỏi 17%, tái phát 10%.
  • Vũ Đức Thụ (2019) báo cáo 111 bệnh nhân: thành công 96,04%, biến chứng 11,21%.

Khoảng trống nghiên cứu của luận án

Mặc dù PTNS kết hợp NSĐM đã trở thành phương pháp phổ biến, việc thực hiện lấy sỏi trong gan và sỏi phức tạp qua nội soi ổ bụng còn gặp trở ngại do thao tác dẫn ống soi, giảm áp lực tưới rửa và biến chứng tràn dịch/rơi sỏi vào ổ bụng gây áp xe dư. Nghiên cứu của Võ Đại Dũng bước đầu ứng dụng ống nối mật - da nhưng cỡ mẫu còn nhỏ và chưa được nghiên cứu một cách toàn diện. Do đó, luận án của Lê Văn Lợi tập trung nghiên cứu đồng bộ giá trị chẩn đoán của CHT và đánh giá hiệu quả lâm sàng của kỹ thuật PTNS kết hợp tán sỏi qua ống nối mật - da.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và giải phẫu ứng dụng

  • Phân chia thùy gan: Dựa theo danh pháp Tôn Thất Tùng, kết hợp phân chia nửa gan của Couinaud và phân thùy của các tác giả Anh - Mỹ:
    • Gan được chia thành gan phải và gan trái qua khe chính (khe dọc giữa).
    • Nửa gan phải chia thành phân thùy trước (hạ phân thùy 5, 8) và phân thùy sau (hạ phân thùy 6, 7) qua khe bên phải.
    • Nửa gan trái chia thành phân thùy bên (hạ phân thùy 2, 3) và phân thùy giữa (hạ phân thùy 4) qua khe rốn.
    • Phân thùy lưng (thùy đuôi - hạ phân thùy 1).
  • Giải phẫu và biến đổi đường mật:
    • Đường mật trong gan: Các vi quản mật hợp thành ống Hering, ống quanh tiểu thùy, ống gian tiểu thùy, ống hạ phân thùy, hợp thành ống gan phải (OGP) và ống gan trái (OGT). Ống phân thùy sau thường tạo thành quai hay móc Hjortsjo vòng qua tĩnh mạch cửa phải trước khi đổ vào ống phân thùy trước (chiếm 85% theo Tôn Thất Tùng).
    • Phân loại biến đổi đường mật rốn gan theo Tôn Thất Tùng (6 dạng) và theo Couinaud (các dạng A, B, C, D, E, F; biến đổi ống gan phải gặp trên 43% theo Couinaud và trên 55% theo Tôn Thất Tùng; hội lưu ba ống gan chiếm 12-13%).
    • Đường mật ngoài gan: Ống gan chung dài 3-5 cm, đường kính khoảng 4 mm; ống mật chủ dài khoảng 6 cm, đường kính khoảng 6 mm (chia làm 4 đoạn: trên tá tràng, sau tá tràng, sau tụy, trong thành tá tràng). 75% trường hợp ống mật chủ và ống tụy chính đổ chung vào bóng Vater.
  • Phân loại hẹp đường mật:
    • Phân loại theo Nakayama F. (1982): $S_x$ (không xác định), $S_0$ (không hẹp), $S_1$ (hẹp nhẹ, đường kính > 2 mm), $S_2$ (hẹp nặng, đường kính < 2 mm).
    • Phân loại theo Lee S.K. (2001) dựa trên ống soi mềm 5,2 mm: Không hẹp (ống soi qua dễ dàng), hẹp nhẹ (ống soi qua được sau khi nong), hẹp vừa (gài được ống soi nhưng không qua được dù đã nong), hẹp nặng (chỗ hẹp nhỏ hơn đường kính ống soi).
  • Tiêu chuẩn viêm đường mật Tokyo Guidelines (2018):
    • Độ III (nặng): Có suy ít nhất một cơ quan (tim mạch, thần kinh, hô hấp $PaO_2/FiO_2 < 300$, thận creatinine > 2,0 mg/dl, gan INR > 1,56, rối loạn đông máu tiểu cầu < 100 G/L).
    • Độ II (vừa): Có 2 trong số các dấu hiệu (bạch cầu > 12 G/L hoặc < 4 G/L, sốt > 39°C, tuổi $\ge 75$, Bilirubin toàn phần $\ge 5\text{ mg/dl}$, Albumin máu $< 24,5\text{ g/l}$).
    • Độ I (nhẹ): Không có tiêu chuẩn của độ II và độ III.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng mô tả, tiến cứu kết hợp hồi cứu, có theo dõi dọc.
  • Trang thiết bị và phương tiện kỹ thuật:
    • Dàn máy phẫu thuật nội soi ổ bụng.
    • Dàn máy nội soi đường mật và ống soi mềm Video CHF – V (hãng Olympus).
    • Máy tán sỏi điện thủy lực Lithontron EL27 – Compact kèm điện cực tán sỏi thủy lực.
    • Rọ lấy sỏi không đầu tip (tiêu chuẩn nong và kéo sỏi).
    • Bộ ống nối mật - da tự tạo/chuyên dụng (tạo đường nối kín trực tiếp từ lỗ mở ống mật chủ ra ngoài thành bụng).
    • Máy chụp cộng hưởng từ (CHT) chuyên dụng khảo sát đường mật.
  • Quy trình kỹ thuật:
    1. Đặt trocar trên thành bụng, thăm dò ổ bụng qua nội soi.
    2. Bộc lộ ống mật chủ, mở dọc thành trước ống mật chủ.
    3. Đặt một đầu ống nối mật - da vào lòng ống mật chủ, cố định tạm thời; đầu còn lại đưa ra ngoài qua thành bụng.
    4. Đưa ống soi đường mật mềm qua lòng ống nối mật - da vào thăm dò hệ thống đường mật trong và ngoài gan.
    5. Tiến hành tán sỏi bằng máy điện thủy lực dưới dòng nước áp lực duy trì trong lòng ống dẫn kín, gắp sỏi bằng rọ lấy sỏi không đầu tip hoặc bơm rửa đẩy sỏi ra ngoài qua ống nối.
    6. Kiểm tra sạch sỏi, xử trí chít hẹp đường mật (nong bằng sỏi/bóng), đặt dẫn lưu Kehr hoặc khâu kín ống mật chủ và đặt dẫn lưu dưới gan.
  • Chỉ tiêu nghiên cứu:
    • Giá trị chẩn đoán của CHT: Độ nhạy (Se), độ đặc hiệu (Sp), giá trị dự báo dương tính (PPV), giá trị dự báo âm tính (NPV), độ chính xác (Acc) so với phát hiện trong phẫu thuật.
    • Đặc điểm sỏi và đường mật: Vị trí sỏi (ĐMCNG, ĐMTGP, ĐMTGT), số lượng, kích thước sỏi, đường kính đường mật, tình trạng chít hẹp.
    • Chỉ tiêu phẫu thuật và hậu phẫu: Số lượng trocar, mức độ dính, thời gian mổ, thời gian nội soi lấy sỏi, tai biến trong mổ, thời gian đau, thời gian trung tiện, thời gian rút dẫn lưu, ngày nằm viện, biến chứng sớm (rò mật, chảy máu, nhiễm trùng), tỷ lệ sạch sỏi thì đầu và tỷ lệ tái phát khi tái khám.
  • Xử lý số liệu: Sử dụng các thuật toán thống kê y học chuyên ngành, so sánh tỷ lệ bằng kiểm định chuẩn ($p < 0,05$). Đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc về đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này trình bày toàn diện cơ sở lý luận, giải phẫu, các phương pháp chẩn đoán hình ảnh và các phương pháp điều trị ngoại khoa sỏi đường mật:

  • Giải phẫu gan và đường mật: Phân tích chi tiết hệ thống phân chia gan theo Tôn Thất Tùng (2 nửa gan, 5 phân thùy, 8 hạ phân thùy) và Couinaud; giải phẫu đường mật trong gan phải, gan trái và đường mật chính ngoài gan; mô tả 6 dạng biến đổi giải phẫu rốn gan của Tôn Thất Tùng và các biến đổi đường mật theo Couinaud (dạng A đến F).
  • Các phương pháp hình ảnh chẩn đoán:
    • Siêu âm: Phương tiện sàng lọc đầu tay. Theo Nguyễn Việt Thành, siêu âm chẩn đoán sỏi ống mật chủ đạt Se 53,3%, Sp 89,8%, Acc 71,1%; sỏi trong gan đạt Se 82,3%, Sp 83,3%, Acc 82,8%. Nhược điểm là phụ thuộc khí đường tiêu hóa và thành bụng dày.
    • Siêu âm nội soi: Đánh giá tốt tổn thương vùng bóng Vater và đoạn thấp ống mật chủ nhưng mang tính xâm lấn.
    • X-quang đường mật: Bao gồm chụp qua da, chụp ngược dòng qua nội soi, chụp trong mổ và chụp sau mổ qua ống Kehr.
    • Cắt lớp vi tính (CLVT): Khả năng phát hiện phụ thuộc kích thước và độ cản quang của sỏi (sỏi $\le 5\text{ mm}$ phát hiện 67%, $\ge 5\text{ mm}$ phát hiện 96% theo Kim C.W.). Theo Nguyễn Việt Thành, CLVT chẩn đoán sỏi ống mật chủ có Se 73,3%, Sp 98,1%, Acc 85,5%; sỏi trong gan có Se 86,2%, Sp 91%, Acc 88,5%. Hạn chế lớn là khó nhận diện sỏi có mật độ canxi thấp.
    • Chụp cộng hưởng từ đường mật (CHT): Tái hiện cây đường mật 3 chiều, không xâm lấn, không cần thuốc cản quang, đánh giá chính xác vị trí, kích thước, số lượng sỏi và mức độ hẹp đường mật.
  • Điều trị sỏi đường mật:
    • Phân loại và xử trí viêm đường mật cấp tính theo Hướng dẫn Tokyo 2018 (Độ I, II, III).
    • Các kỹ thuật can thiệp ít xâm lấn: Nội soi mật tụy ngược dòng (cắt cơ Oddi, nong bóng, đặt stent, dẫn lưu mũi - mật); Dẫn lưu và lấy sỏi qua da (XGQD); Nội soi lấy sỏi qua đường hầm Kehr (khởi xướng bởi Yamakawa 1974); Phẫu thuật nối mật - ruột đặt đầu ruột dưới da (Fang K. và Chou T.C. 1977); Nối mật - da bằng quai ruột biệt lập (Lê Nguyên Khôi 2015); Nối mật - da bằng túi mật (Tian F.Z. 1994-2003, Võ Văn Hùng 2014).
    • Phẫu thuật kinh điển: Mở ống mật chủ dẫn lưu Kehr, nối mật - ruột (nối OMC - tá tràng theo phẫu thuật Sasse, Floercken, Rodney-Smith; nối OMC - hỗng tràng quai Roux-en-Y), cắt gan theo chỉ định.
    • Phẫu thuật nội soi lấy sỏi: Lịch sử từ Mouret (1987), Stoker (1990) đến các nghiên cứu hiện đại; phân tích chi tiết ưu điểm và trở ngại kỹ thuật khi kết hợp NSĐM trong PTNS.

Bảng tổng hợp 1: Giá trị của CHT chẩn đoán sỏi đường mật chính theo các tác giả trên thế giới

Tác giả Năm công bố Độ nhạy - Se (%) Độ đặc hiệu - Sp (%) PPV (%) NPV (%)
Chan [51] 1996 95,0 85,0 82,0 96,0
Soto J.A. [50] 2000 100,0 96,0 96,0 100,0
Verghese [49] 2000 91,0 90,0 - -
Laokpessi A. [43] 2001 93,0 100,0 - -
Kim Y.K. [48] 2006 97,8 90,0 - 100,0 - -
Lee S.L. [47] 2017 93,3 100,0 - -

Bảng tổng hợp 2: Giá trị của CHT chẩn đoán sỏi đường mật theo các tác giả Việt Nam

Tác giả Năm công bố Độ nhạy - Se (%) Độ đặc hiệu - Sp (%) PPV (%) NPV (%)
Nguyễn Hữu Thịnh [52] 2006 92,5 89,7 - -
Phùng Tấn Cường [53] 2006 97,0 90,9 - -
Nguyễn Việt Thành [23] 2009 100,0 86,3 96,2 100,0
Phạm Hồng Liên [8] 2011 98,0 83,3 98,0 83,3
Trần Doanh Hiệu [55] 2016 96,2 80,0 96,2 80,0

Bảng tổng hợp 3: Kết quả PTNS điều trị sỏi đường mật chính của các tác giả trên thế giới

Tác giả Năm Số BN Thành công (%) Biến chứng (%) Sót sỏi (%) Tử vong (%)
Li M.K.W. [59] 2006 174 92,0 20,0 8,0 0,6
Berthou [60] 2007 505 96,2 6,6 - 1,1
Paganini [61] 2007 334 95,6 7,7 3,1 -
Stromberg [62] 2008 115 85,0 - - -
Grubnik [64] 2012 138 - 6,5 5,8 -
Ye X. [58] 2013 201 96,5 21,4 3,98 0,0
Lee [57] 2014 157 96,8 7,2 13,0 -
Hua [66] 2016 500 99,0 3,4 - 0,4

Bảng tổng hợp 4: Kết quả PTNS điều trị sỏi đường mật chính của các tác giả Việt Nam

Tác giả Số BN Chỉ định Phương pháp Tỷ lệ NSĐM (%) Thành công (%) Biến chứng (%)
Nguyễn Hoàng Bắc (2007) 172 Trong, ngoài gan; Mổ lần đầu, tái phát Mở OMC / OTM 98,21 97,70 6,40
Nguyễn Khắc Đức (2010) 148 Trong, ngoài gan; Mổ lần đầu, tái phát Mở OMC 11,72 86,49 3,90
Trần Mạnh Hùng (2012) 105 Ngoài gan; Mổ lần đầu Mở OMC - 99,00 7,60
Võ Đại Dũng (2015) 43 Trong gan; Mổ lần đầu, tái phát Mở OMC (ống nối mật-da) 100,00 100,00 4,70
Sử Quốc Khởi (2019) 103 Trong, ngoài gan; Mổ lần đầu, tái phát Mở OMC 100,00 97,10 3,90
Vũ Đức Thụ (2019) 111 Trong, ngoài gan; Mổ lần đầu, tái phát Mở OMC 100,00 96,04 11,21

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy chuẩn thực nghiệm lâm sàng:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán sỏi đường mật chính, có chỉ định phẫu thuật và chụp CHT trước mổ tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
    • Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân có sỏi đường mật chính (ngoài gan, trong gan hoặc phối hợp), có đầy đủ hồ sơ bệnh án, hình ảnh CHT trước mổ, được thực hiện PTNS kết hợp NSĐM tán sỏi qua ống nối mật - da.
    • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có chống chỉ định của phẫu thuật nội soi (bệnh lý tim mạch hô hấp nặng, rối loạn đông máu nặng không kiểm soát), bệnh nhân có can thiệp ngoại khoa khác không theo quy trình nghiên cứu, hồ sơ thiếu dữ liệu hình ảnh hoặc lâm sàng.
  • Phương tiện và thiết bị:
    • Dàn máy PTNS tiêu chuẩn.
    • Hệ thống máy nội soi đường mật kỹ thuật số Video CHF – V của hãng Olympus.
    • Máy tán sỏi điện thủy lực Lithontron EL27 – Compact với hệ thống dây dẫn và điện cực tán sỏi thủy lực.
    • Dụng cụ chuyên biệt: Rọ lấy sỏi không đầu tip, bộ ống nối mật - da.
  • Quy trình kỹ thuật:
    • Thiết lập tư thế bệnh nhân và kíp phẫu thuật; bố trí vị trí các cổng đặt trocar trên thành bụng.
    • Bộc lộ vùng rốn gan, mở ống mật chủ, đặt và định vị đầu trong của ống nối mật - da vào ống mật chủ, đầu ngoài đưa ra khỏi thành bụng qua lỗ trocar.
    • Thiết lập hệ thống nội soi kín: Đưa ống soi đường mật qua lòng ống nối mật - da, bơm rửa dưới áp lực kiểm soát, định vị đầu tán sỏi điện thủy lực sát bề mặt sỏi để phá vỡ sỏi thành các mảnh nhỏ, phối hợp rọ lấy sỏi và nong đường mật qua ống nối.
  • Các chỉ tiêu nghiên cứu và thống kê:
    • Các chỉ tiêu đánh giá CHT: Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm, độ chính xác trong định vị sỏi ĐMCNG, ĐMTGP, ĐMTGT, số lượng sỏi và đánh giá đường mật.
    • Các chỉ tiêu phẫu thuật và lâm sàng: Mức độ dính trong mổ, số trocar sử dụng, phương pháp lấy sỏi, vị trí và mức độ chít hẹp đường mật, thời gian phẫu thuật, thời gian nội soi lấy sỏi, các biến chứng sớm (chảy máu, rò mật, nhiễm khuẩn), thời gian đau sau mổ, thời gian trung tiện, thời gian nằm viện, tỷ lệ sạch sỏi thì đầu và tỷ lệ sót sỏi khi tái khám.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Nội dung Chương 3 phản ánh các dữ liệu thu thập được từ mẫu nghiên cứu theo cấu trúc các mục:

  • Đặc điểm chung, lâm sàng và cận lâm sàng:
    • Phân bố tuổi theo nhóm và phân bố giới tính.
    • Tần suất các triệu chứng lâm sàng điển hình (đau hạ sườn phải, sốt, vàng da - tam chứng Charcot).
    • Tiền sử can thiệp ngoại khoa đường mật (mổ mở, mở OMC lấy sỏi, cắt túi mật, cắt dạ dày...).
    • Bệnh lý toàn thân kết hợp.
    • Đặc điểm hình thái sỏi và đường kính đường mật đo đạc trên CHT và siêu âm.
  • Giá trị của cộng hưởng từ chẩn đoán sỏi đường mật chính:
    • Chẩn đoán vị trí sỏi: Độ chính xác, độ nhạy, độ đặc hiệu của CHT đối với sỏi đường mật chính ngoài gan (ĐMCNG), sỏi đường mật trong gan phải (ĐMTGP) và sỏi đường mật trong gan trái (ĐMTGT) khi đối chiếu với kết quả phẫu thuật và nội soi trong mổ.
    • Chẩn đoán số lượng sỏi: Khả năng xác định sỏi đơn độc hay nhiều sỏi trên CHT so với siêu âm và thực tế phẫu thuật.
    • Đánh giá hình thái đường mật: Khả năng phát hiện các tổn thương bất thường giải phẫu cây đường mật, tình trạng giãn đường mật và mức độ chít hẹp đường mật kèm theo.
  • Kết quả phẫu thuật nội soi và tán sỏi qua ống nối mật - da:
    • Kết quả trong mổ: Đánh giá mức độ dính khoang bụng, số lượng trocar sử dụng, các phương pháp gắp và tán sỏi kết hợp, thời gian thực hiện phẫu thuật toàn bộ và thời gian nội soi lấy sỏi qua ống nối mật - da, vị trí sỏi không lấy được và mức độ hẹp đường mật trong mổ.
    • Kết quả sớm sau mổ: Đánh giá thời gian đau sau mổ, thời gian phục hồi lưu thông ruột (trung tiện), thời gian lưu và rút dẫn lưu dưới gan, thời gian nằm viện trung bình, các tai biến trong mổ và tỷ lệ biến chứng sớm (rò mật, nhiễm trùng vết mổ, áp xe tồn dư).
    • Kết quả tái khám: Đánh giá tỷ lệ sạch sỏi qua kiểm tra siêu âm và nội soi sau mổ; phân tích mối liên quan giữa tỷ lệ sạch sỏi với các yếu tố: vị trí sỏi, số lượng sỏi, tình trạng hẹp đường mật và tiền sử phẫu thuật trước đó.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 phân tích, lý giải các kết quả đạt được trong mối tương quan với y văn trong nước và quốc tế:

  • Bàn luận về đặc điểm lâm sàng và dịch tễ: Phân tích cơ cấu lứa tuổi, giới tính, các triệu chứng lâm sàng và các bệnh lý kết hợp; so sánh tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật mật nhiều lần - một yếu tố gây khó khăn cho PTNS do dính ổ bụng.
  • Bàn luận về giá trị của chụp cộng hưởng từ:
    • So sánh độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán của CHT với siêu âm và CLVT trong chẩn đoán vị trí (ĐMCNG, ĐMTGP, ĐMTGT) và số lượng sỏi.
    • Khẳng định tính ưu việt của CHT trong việc khắc phục điểm yếu của siêu âm đối với sỏi nhiều viên hoặc sỏi đoạn thấp OMC bị hơi ống tiêu hóa che lấp, và khắc phục điểm yếu của CLVT đối với sỏi không cản quang/ít canxi.
    • Đánh giá khả năng dựng hình không gian 3 chiều của CHT giúp phẫu thuật viên lập kế hoạch mổ chính xác, hạn chế sót sỏi và giảm nhu cầu chụp đường mật trong mổ.
  • Bàn luận về kết quả phẫu thuật nội soi tán sỏi qua ống nối mật - da:
    • Phân tích ưu thế của ống nối mật - da: Tạo thành một khoang kín liên tục từ OMC ra ngoài thành bụng, giúp giữ vững áp lực nước tưới rửa làm giãn đường mật trong gan, hỗ trợ ống soi mềm tiếp cận các nhánh phân thùy sâu và hạ phân thùy.
    • Đánh giá việc giảm thiểu tối đa tình trạng nước rửa và sỏi vụn rơi vào ổ bụng, từ đó hạn chế áp xe tồn dư và viêm phúc mạc sau mổ - vốn là những biến chứng nặng thường gặp trong PTNS đường mật thông thường.
    • So sánh thời gian phẫu thuật, tỷ lệ tai biến, biến chứng, thời gian nằm viện và tỷ lệ sạch sỏi với các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước (Nguyễn Hoàng Bắc, Nguyễn Khắc Đức, Trần Mạnh Hùng, Võ Đại Dũng, Sử Quốc Khởi, Vũ Đức Thụ) và quốc tế (Li M.K.W., Berthou, Paganini, Grubnik, Ye X., Lee, Hua).
    • Phân tích các yếu tố nguy cơ dẫn đến thất bại hoặc sót sỏi như: hẹp đường mật nặng ($S_2$), sỏi nằm sâu ở các nhánh hạ phân thùy có góc gập lớn, hoặc đường mật xơ chai do mổ lại nhiều lần.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt chẩn đoán hình ảnh:

    • Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện về giá trị của chụp cộng hưởng từ trong chẩn đoán sỏi đường mật chính tại Việt Nam, chứng minh độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính và độ chính xác cao ở cả đường mật ngoài gan và trong gan.
    • CHT được khẳng định là phương pháp tối ưu trước mổ giúp xác định chính xác số lượng, vị trí sỏi và các biến đổi giải phẫu cũng như vị trí chít hẹp đường mật, hỗ trợ định hướng can thiệp phẫu thuật nội soi an toàn mà không cần chụp đường mật trong mổ thường quy.
  2. Đóng góp về mặt kỹ thuật điều trị ngoại khoa:

    • Hoàn thiện và chuẩn hóa quy trình phẫu thuật nội soi kết hợp nội soi tán sỏi điện thủy lực qua ống nối mật - da trong điều trị sỏi đường mật chính.
    • Ứng dụng ống nối mật - da giải quyết triệt để các hạn chế kỹ thuật của PTNS đường mật kinh điển:
      • Giúp thao tác điều khiển ống soi đường mật mềm dễ dàng, không bị cản trở bởi khoảng trống giữa thành bụng và ống mật chủ.
      • Duy trì áp lực dòng nước tưới rửa ổn định trong lòng đường mật, giúp giãn nở đường mật tốt để đưa ống soi và điện cực tán sỏi lên sâu các nhánh trong gan.
      • Ngăn ngừa tình trạng rò rỉ dịch mật, nước rửa và rơi sỏi vụn vào khoang phúc mạc, giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn ổ bụng và áp xe tồn dư sau mổ.
      • Tăng tỷ lệ làm sạch sỏi ngay trong mổ và rút ngắn thời gian hậu phẫu cho người bệnh.
  3. Kiến nghị thực tiễn:

    • Khuyến nghị áp dụng chụp CHT đường mật thường quy trước mổ cho các trường hợp nghi ngờ sỏi đường mật chính phức tạp.
    • Đề xuất triển khai kỹ thuật nội soi tán sỏi qua ống nối mật - da tại các trung tâm ngoại khoa tiêu hóa có trang bị phẫu thuật nội soi và nội soi đường mật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Chụp cộng hưởng từ đòi hỏi trang thiết bị máy móc hiện đại, kỹ thuật viên có chuyên môn cao và chi phí thực hiện còn cao so với mặt bằng chung các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác.
    • CHT vẫn có thể gặp khó khăn trong một số trường hợp sỏi kích thước quá nhỏ (dưới 3 mm) kẹt sát cơ vòng Oddi hoặc trên các bệnh nhân có tiền sử can thiệp phẫu thuật đường mật phức tạp gây biến dạng giải phẫu và xơ dính.
    • Nghiên cứu thực hiện tại một trung tâm phẫu thuật chuyên sâu tuyến cuối (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108), do đó việc phổ cập kỹ thuật tán sỏi qua ống nối mật - da đòi hỏi phẫu thuật viên phải có kỹ năng thành thạo về cả phẫu thuật nội soi ổ bụng lẫn nội soi đường mật ống mềm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu theo dõi dọc dài hạn trên nhóm bệnh nhân sau mổ để đánh giá chính xác tỷ lệ tái phát sỏi và các yếu tố nguy cơ tái phát sau 3 đến 5 năm.
    • Nghiên cứu mở rộng ứng dụng ống nối mật - da kết hợp các nguồn năng lượng tán sỏi khác (như laser tán sỏi) hoặc ứng dụng trên các đối tượng sỏi đường mật trong mổ cấp cứu.

Giá trị tham khảo

  • Đối với phẫu thuật viên ngoại tiêu hóa - gan mật: Tài liệu cung cấp bản hướng dẫn kỹ thuật chi tiết về cách thiết lập hệ thống ống nối mật - da, kỹ thuật thao tác ống soi mềm và đầu tán điện thủy lực trong lòng đường mật qua phẫu thuật nội soi, giúp nâng cao tỷ lệ lấy sạch sỏi và an toàn phẫu thuật.
  • Đối với bác sĩ chẩn đoán hình ảnh: Cung cấp dữ liệu đối chiếu khách quan giữa hình ảnh cộng hưởng từ với tổn thương thực tế trong mổ, nâng cao năng lực đọc và phân tích hình ảnh sỏi đường mật, biến đổi giải phẫu và tổn thương hẹp đường mật.
  • Đối với học viên sau đại học (Bác sĩ nội trú, Cao học, Nghiên cứu sinh): Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng kết hợp chẩn đoán hình ảnh và ngoại khoa, hệ thống hóa đầy đủ giải phẫu gan mật ứng dụng và tổng quan y văn chuyên sâu về sỏi mật tại Việt Nam và trên thế giới.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao chụp cộng hưởng từ (CHT) lại được đánh giá ưu việt hơn siêu âm và cắt lớp vi tính (CLVT) trong chẩn đoán sỏi đường mật chính?
CHT là phương pháp không xâm lấn, không dùng thuốc cản quang tĩnh mạch và không gây nhiễm xạ. CHT có khả năng dựng hình cây đường mật 3 chiều, đánh giá chính xác vị trí, kích thước, số lượng sỏi và mức độ chít hẹp đường mật. CHT khắc phục được nhược điểm của siêu âm (bị che lấp bởi khí ống tiêu hóa, thành bụng dày) và nhược điểm của CLVT (khó phát hiện sỏi có hàm lượng canxi thấp hoặc sỏi không cản quang).

2. Ống nối mật - da giải quyết được những khó khăn kỹ thuật nào trong phẫu thuật nội soi kết hợp nội soi đường mật?
Ống nối mật - da tạo thành một đường dẫn kín trực tiếp từ ống mật chủ ra ngoài thành bụng, giúp: (1) Dễ dàng luồn và điều khiển ống soi đường mật mềm vào cây đường mật mà không bị chệch hướng trong khoang bụng đang bơm hơi; (2) Duy trì áp lực nước tưới rửa ổn định làm căng giãn đường mật trong gan để tiếp cận sỏi; (3) Ngăn ngừa hoàn toàn dịch mật, nước rửa và sỏi vụn tràn vào ổ phúc mạc, tránh biến chứng nhiễm trùng và áp xe tồn dư sau mổ.

3. Phân loại hẹp đường mật trong gan theo Nakayama và Lee S.K. được xác định dựa trên những tiêu chí nào?

  • Theo Nakayama F. (1982): $S_x$ (không xác định), $S_0$ (không hẹp), $S_1$ (hẹp nhẹ, đường kính > 2 mm), $S_2$ (hẹp nặng, đường kính < 2 mm).
  • Theo Lee S.K. (2001) dựa trên ống soi mềm 5,2 mm: Không hẹp (ống soi qua dễ dàng), hẹp nhẹ (qua được sau khi nong), hẹp vừa (gài được ống soi nhưng không qua được dù đã nong), hẹp nặng (chỗ hẹp nhỏ hơn đường kính ống soi).

4. Dàn máy và trang thiết bị chính được sử dụng để tán và lấy sỏi trong nghiên cứu này là gì?
Nghiên cứu sử dụng hệ thống máy nội soi đường mật kỹ thuật số Video CHF – V của hãng Olympus, máy tán sỏi điện thủy lực Lithontron EL27 – Compact kèm điện cực tán sỏi thủy lực, rọ lấy sỏi không đầu tip và bộ ống nối mật - da chuyên biệt đặt vào lòng ống mật chủ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Lê Văn Lợi đã giải quyết đồng bộ hai vấn đề quan trọng trong chẩn đoán và điều trị sỏi đường mật chính: khẳng định giá trị chẩn đoán chính xác cao của chụp cộng hưởng từ trước mổ và chứng minh hiệu quả lâm sàng của phẫu thuật nội soi kết hợp nội soi tán sỏi qua ống nối mật - da. Việc ứng dụng ống nối mật - da là giải pháp kỹ thuật hiệu quả giúp khắc phục các hạn chế cơ bản của phẫu thuật nội soi đường mật truyền thống, duy trì áp lực tưới rửa và hạn chế tối đa nguy cơ áp xe tồn dư do rơi sỏi hay tràn dịch vào khoang bụng. Công trình có giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp một quy trình can thiệp ít xâm lấn an toàn cho chuyên ngành Ngoại tiêu hóa tại Việt Nam.