Luận án tiến sĩ nghiên cứu độc tính và tác dụng tăng cường chức năng sinh dục đực của viên nang trường xuân cb trên động vật thực nghiệm

Luận án tiến sĩ nghiên cứu độc tính và tác dụng tăng cường chức năng sinh dục đực của viên nang trường xuân cb trên động vật thực nghiệm.

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Dược lý- Độc chất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

204
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Rối loạn chức năng sinh sản, sinh dục nam

1.1.1. Suy sinh dục nam giới

1.1.1.1. Khái niệm và phân loại

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Động vật nghiên cứu

2.3. Thuốc, hóa chất, máy móc, thiết bị và dụng cụ phục vụ nghiên cứu

2.3.1. Thuốc và hóa chất

2.3.2. Máy móc, thiết bị và dụng cụ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp chuẩn bị chế phẩm

2.4.2. Đánh giá độc tính của viên nang TXCB

2.4.3. Đánh giá tác dụng tăng cường chức năng sinh dục đực của viên nang TXCB

2.4.4. Xử lý số liệu

2.4.5. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả đánh giá độc tính của viên nang TXCB

3.1.1. Độc tính cấp và liều LD50

3.1.2. Độc tính bán trường diễn

3.2. Kết quả đánh giá tác dụng của viên nang TXCB trên chức năng sinh dục đực

3.2.1. Hoạt tính androgen của viên nang TXCB trên chuột cống đực non thiến

3.2.2. Tác dụng trên chức năng cương dương

3.2.3. Tác dụng trên mô hình thỏ gây suy giảm sinh sản bằng fluconazol

3.3. Về đánh giá độc tính của viên nang TXCB

3.3.1. Độc tính cấp

3.3.2. Độc tính bán trường diễn

3.4. Về tác dụng của viên nang TXCB trên chức năng sinh dục đực

3.4.1. Hoạt tính androgen

3.4.2. Tác dụng trên khả năng cương dương

3.4.3. Nghiên cứu trên khả năng sinh sản

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặt Vấn Đề

Suy giảm chức năng sinh dục ở nam giới đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng với tỷ lệ mắc ngày càng tăng. Theo nghiên cứu, khoảng 20-30% nam giới trưởng thành gặp ít nhất một rối loạn chức năng sinh sản, sinh dục. Nguyên nhân chủ yếu đến từ lối sống không lành mạnh và chế độ ăn uống thiếu kiểm soát, dẫn đến các bệnh lý như tim mạch và đái tháo đường. Việc điều trị hiện tại chủ yếu dựa vào liệu pháp hormon thay thế, tuy nhiên, phương pháp này chỉ hiệu quả trong một số trường hợp và có thể gây ra tai biến khi sử dụng lâu dài. Do đó, việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm điều trị an toàn và hiệu quả là rất cần thiết. Viên nang Trường Xuân CB, được bào chế từ các dược liệu quý, hứa hẹn sẽ là một giải pháp tiềm năng cho vấn đề này.

II. Tổng Quan Tài Liệu

Rối loạn chức năng sinh sản, sinh dục nam có thể được phân loại thành nhiều dạng, trong đó suy sinh dục nam (MH) là một trong những dạng phổ biến. MH có thể do nhiều nguyên nhân, bao gồm tuổi tác, di truyền, và các yếu tố môi trường. Sự sản xuất testosterone (TES) giảm dần theo tuổi tác, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản và chất lượng cuộc sống của nam giới. Các triệu chứng của MH bao gồm giảm ham muốn tình dục, rối loạn cương dương, và các vấn đề về tâm lý. Việc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng để cải thiện tình trạng này.

2.1. Rối Loạn Chức Năng Sinh Sản

Rối loạn chức năng sinh sản ở nam giới có thể dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Các triệu chứng như giảm ham muốn tình dục và khả năng cương dương không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn tác động đến tâm lý và chất lượng cuộc sống. Việc hiểu rõ về các nguyên nhân và triệu chứng của rối loạn này là cần thiết để có phương pháp điều trị hiệu quả.

2.2. Tác Dụng Của Viên Nang Trường Xuân CB

Viên nang Trường Xuân CB được bào chế từ các dược liệu có tác dụng tích cực đến chức năng sinh dục nam. Nghiên cứu cho thấy rằng các thành phần trong viên nang có khả năng tăng cường sản xuất testosterone và cải thiện khả năng cương dương. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu lâm sàng để xác định hiệu quả và độ an toàn của sản phẩm này trên người.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên động vật thực nghiệm nhằm đánh giá độc tính và tác dụng của viên nang Trường Xuân CB. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn, cũng như các thử nghiệm để xác định tác dụng tăng cường chức năng sinh dục. Kết quả từ các thử nghiệm này sẽ cung cấp thông tin quan trọng về tính an toàn và hiệu quả của sản phẩm trước khi đưa vào sử dụng trên người.

3.1. Đối Tượng Nghiên Cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm các loài động vật thực nghiệm như chuột và thỏ. Việc lựa chọn động vật phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Các động vật này sẽ được theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình nghiên cứu để đánh giá các chỉ số sinh lý và sinh hóa.

3.2. Phương Pháp Đánh Giá

Phương pháp đánh giá độc tính bao gồm các thử nghiệm để xác định liều tối đa an toàn và các tác dụng phụ có thể xảy ra. Đồng thời, các thử nghiệm về chức năng sinh dục sẽ được thực hiện để đánh giá tác dụng của viên nang Trường Xuân CB trên khả năng cương dương và sản xuất tinh trùng. Kết quả từ các thử nghiệm này sẽ giúp xác định tính an toàn và hiệu quả của sản phẩm.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy viên nang Trường Xuân CB có tác dụng tích cực trong việc cải thiện chức năng sinh dục đực. Các chỉ số như nồng độ testosterone, khả năng cương dương và chất lượng tinh trùng đều được cải thiện đáng kể sau khi sử dụng sản phẩm. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng viên nang này có độ an toàn cao, không gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng. Những kết quả này mở ra triển vọng cho việc phát triển sản phẩm này trong điều trị các rối loạn sinh dục nam.

4.1. Đánh Giá Độc Tính

Kết quả đánh giá độc tính cho thấy viên nang Trường Xuân CB có độ an toàn cao. Không có dấu hiệu độc tính cấp tính hay bán trường diễn được ghi nhận trong quá trình nghiên cứu. Điều này cho thấy sản phẩm có thể được sử dụng an toàn trong điều trị mà không gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng.

4.2. Tác Dụng Tăng Cường Chức Năng Sinh Dục

Viên nang Trường Xuân CB đã chứng minh khả năng tăng cường chức năng sinh dục đực thông qua việc cải thiện nồng độ testosterone và khả năng cương dương. Các thử nghiệm trên động vật cho thấy sự gia tăng đáng kể về chất lượng tinh trùng và khả năng sinh sản. Những kết quả này khẳng định giá trị của sản phẩm trong việc điều trị các rối loạn sinh dục nam.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Rối loạn chức năng sinh sản, sinh dục nam 1. Suy sinh dục nam giới 1.

Khái niệm và phân loại - Suy sinh dục nam (male hypogonadism- MH) là một rối loạn liên quan đến giảm hoạt động chức năng của tinh hoàn, giảm sản xuất nội tiết tố androgen, inhibin B và/hoặc suy giảm sản xuất tinh trùng [5]. - MH có thể có 4 dạng là [6]: MH nguyên phát do suy tinh hoàn; MH thứ phát do rối loạn chức năng dưới đồi- tuyến yên; suy sinh dục nam khởi phát muộn (Late onset hypogonadism), bao gồm: do tuổi, béo phì, do bệnh mắc kèm khác. và MH do mất nhạy cảm với receptor của androgen. - Theo YHCT đến tuổi 40, thận khí bắt đầu suy; đến gần tuổi 50, dương khí bắt đầu suy làm da khô, nhăn nheo, tóc bạc (TES sụt giảm, xuất hiện các triệu chứng mãn dục nam- Thiên quý suy).

Mãn dục nam nặng (Thiên quý kiệt) là khi những triệu chứng của mãn dục nam xuất hiện rõ rệt và nặng [7]. Sinh lý quá trình bài tiết testosteron và nguyên nhân suy giảm Sự sản xuất TES và điều hòa sản xuất TES được thể hiện trong hình 1.1: Kisspeptin Vùng dưới đồi TES Tuyến yên TES Tế bào Leydig Tế bào Sertoli Tinh hoàn Ống sinh tinh Tinh trùng Hình 1. Sản xuất TES và điều hòa sản xuất TES * Nguồn: theo Peter Y. Liu và cs (2019) [8] luan an 4 Sự sản xuất TES và hormon tăng trưởng đạt đến đỉnh điểm ở tuổi vị thành niên và sau đó bắt đầu giảm.

Bình thường nồng độ TES trong máu từ 200- 400 ng/dL [9]. TES trong máu lưu hành ở 3 dạng: TES tự do (chiếm 2- 3%), TES liên kết với albumin (53- 55%) và TES liên kết với SHBG (sex hormone binding globulin) (43- 45%); TES có tác dụng là dạng tự do và gắn với albumin [10]. Đàn ông tuổi càng cao thì hàm lượng androgen ngày càng suy giảm. Sự suy giảm TES bắt đầu xảy ra từ 30 tuổi và hàng năm có sự suy giảm đáng kể về nồng độ TES [11].

Điều này càng rõ ràng hơn khi bước vào độ tuổi từ 45- 50 [12], hàng năm sự sản xuất TES giảm từ 0,8- 1,3% và từ 30- 50% ở độ tuổi 50- 70 [11]. TES (ng/dL) Tuổi Hình 1. Nồng độ TES tổng, SHBG và TES tự do (FT) ở nam giới theo tuổi * Nguồn: theo Comhaire F. Khoảng 30% nam giới 60- 70 tuổi và 70% nam giới 70- 80 tuổi có nồng độ TES hoạt động hoặc nồng độ TES tự do thấp [13].

Có sự suy giảm sớm hơn và mạnh hơn nồng độ của TES tự do so với tổng TES, đó là do kết quả của việc tăng khả năng liên kết của TES trong huyết thanh. Sự tăng nồng độ của SHBG có liên quan đến sự thay đổi của tỷ lệ estrogen/androgen [12]. luan an 5 Có thể tổng hợp nguyên nhân gây suy giảm TES như sau: - Tuổi tác: TES được sinh sản từ tinh hoàn (> 95%) và tuyến thượng thận (khoảng 4%). Tuổi càng cao, các tổ chức trong cơ thể đều bị suy thoái trong đó có tinh hoàn và tuyến thượng thận [11].

- Nguyên nhân ở tinh hoàn như: giảm số lượng và chức năng của tế bào Leydig; tăng xơ hóa và các thay đổi thoái hóa khác ở tinh hoàn; giảm tưới máu tinh hoàn gây thiếu oxi ở các mô; thay đổi trong tổng hợp steroid do tình trạng thiếu oxi ở các mô gây giảm tổng hợp DHEA [11]. - Do mất sự cân bằng điều chỉnh nội tiết tố: Ở người cao tuổi, có sự suy thoái, giảm số lượng tế bào Leydig cho nên dù LH có tăng hơn bình thường để kích thích sản xuất TES nhưng lượng TES vẫn suy giảm. Một số nguyên nhân khác: Do di truyền; do chế độ ăn uống sinh hoạt; do thuốc, hóa chất: Dùng quá nhiều các loại corticoid hoặc các thuốc đối kháng với nội tiết tố nam [14]. Triệu chứng của suy sinh dục nam Sự suy giảm nồng độ androgen là ngấm ngầm và từ từ, hơn nữa không phải nam giới cao tuổi nào cũng suy giảm nồng độ hormon đến mức biểu hiện thành các triệu chứng lâm sàng.

Hình ảnh lâm sàng của MH được đặc trưng bởi sự giảm ham muốn tình dục và khả năng cương dương, giảm hoạt động trí tuệ, mệt mỏi, trầm cảm, thay đổi da, giảm lông trên cơ thể, giảm mật độ xương dẫn đến hội chứng loãng xương, tăng mỡ nội tạng và béo phì. Có thể được chia 3 nhóm triệu chứng: triệu chứng tâm lý, triệu chứng về thực thể và sự thỏa mãn về tình dục [12]. - Các triệu chứng tâm lý bao gồm: tâm trạng chán nản, hay cáu gắt, lo lắng và căng thẳng thần kinh [11]. - Các triệu chứng về thực thể bao gồm đổ mồ hôi (có thể xảy ra theo đợt), có thể cùng với bốc hỏa; tăng nhu cầu ngủ, rối loạn giấc ngủ; suy nhược cơ thể và suy giảm sức khỏe.

Suy giảm trí nhớ và khả năng tập trung… [12]. Giảm khối lượng cơ, giảm trương lực cơ; giảm mật độ khoáng trong xương; biến dạng luan an 6 da, lông, tóc, móng; suy giảm hệ thống tạo máu [11]. Tăng khối lượng mỡ (nhất là béo bụng), mỡ cơ thể và mỡ nội tạng tăng lên, gây nguy cơ mắc bệnh tim mạch; khả năng kháng insulin cao hơn; mất dần khối lượng xương dẫn đến loãng xương và tăng nguy cơ gãy xương. Sau đó thường làm nguyên nhân gây tử vong ở nam nhiều hơn nữ [12].

- Các triệu chứng tình dục bao gồm rối loạn cương dương do giảm sự cương cứng, giảm cảm giác cực khoái, giảm số lượng và chất lượng tinh trùng và giảm ham muốn tình dục. Ngoài ra, sự cương cứng về đêm và sáng sớm xảy ra ít hơn và dương vật ít cương cứng hơn [12]. Một số bệnh chuyển hóa, chẳng hạn như đái tháo đường (ĐTĐ), có thể dẫn đến các triệu chứng gần giống với MH. Do đó, bệnh nhân ĐTĐ nên được điều trị thích hợp, vì việc theo dõi và điều trị ĐTĐ đúng cách có thể dễ dàng đảo ngược một số triệu chứng được cho là do MH [15].

Chẩn đoán Dựa vào các triệu chứng lâm sàng: Cần có 1 triệu chứng về sinh dục sinh sản và 2 triệu chứng toàn thân là đủ để định hướng chẩn đoán về MH [11]. Có thể dựa vào bệnh sử, đánh giá theo thang điểm dựa theo các bộ câu hỏi [16]. Tuy nhiên cần phải loại trừ các bệnh toàn thân khác thường xảy ra ở người cao tuổi như ĐTĐ… Cận lâm sàng: Định lượng các hormon trong máu: LH, FSH, prolactin, estradiol và TES. Trong đó định lượng TES vào buổi sáng là quan trọng nhất [11].

Một số loại TES có thể được đánh giá là tổng hàm lượng TES, hàm lượng TES tự do. Ngoài ra một số xét nghiệm khác cũng có thể hữu ích như: SHBG, đo mật độ xương, các chỉ số lipid máu…[12]. Nồng độ TES tự do < 70 ng/L được chẩn đoán là MH [17]. Với những triệu chứng của y học hiện đại nêu trên, nhiều bệnh lý của YHCT sau đều thuộc về hội chứng mãn dục nam: Thận âm hư; thận dương hư; luan an 7 thận âm dương lưỡng hư; tâm hỏa động; tâm thận bất giao; can hỏa vượng; can khí uất kết; tỳ dương hư; tỳ thận dương hư; tỳ hư thấp trệ… [7].

Điều trị Nguyên tắc cơ bản của điều trị là bổ sung, phục hồi hàm lượng TES trong máu. Tuy nhiên việc dùng TES cần thận trọng trên những bệnh nhân MH kèm theo đang có bệnh tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt, ung thư tuyến tiền liệt [11]. Việc sử dụng TES dùng đường uống điều trị MH ít được lựa chọn bởi nó bị chuyển hóa gần như hoàn toàn qua gan lần đầu và có sự chênh lệch đáng kể giữa nồng độ TES đạt được và nồng độ dihydrotestosteron trong huyết tương. Hơn thế nữa, để dùng đường uống cần dùng liều khá cao là 40- 80 mg/lần x 2- 3 lần/ngày [18].

Phổ biến, tiêm bắp TES liều 200 mg 2- 3 tuần/lần, có thể sử dụng dihydrotestosteron với đường dùng qua da. Miếng dán da bìu có thể duy trì nồng độ TES ở mức bình thường trong 4- 8 giờ, sau đó sẽ giảm dần [18]. Ngoài ra, để có hiệu quả điều trị cao cần kết hợp điều trị các triệu chứng về tâm lý, thực thể và tình dục. Về rối loạn chức năng tình dục, điều trị bằng thuốc ức chế phosphodiesterase (PDE).

Tuy các thuốc này thường cải thiện chất lượng cương cứng, nhưng thường không đảo ngược được sự suy giảm vì ham muốn không được phục hồi và các yếu tố tâm lý vẫn còn tồn tại. Theo YHCT, phương pháp điều trị không dùng thuốc là: Thay đổi lối sống; tâm lý trị liệu theo YHCT; thực dưỡng trị liệu; châm cứu; xoa bóp, bấm huyệt; tập luyện (dưỡng sinh, yoga, khí công…) [7]. Phương pháp dùng thuốc là: sử dụng một số dược liệu: lộc nhung, tắc kè, hải mã, tinh hoàn của động vật, dâm dương hoắc, ba kích thiên, đỗ trọng, nhục thung dung, cẩu tích, bá bệnh, phá cố chỉ… [7]. Rối loạn cương dương 1.

Khái niệm Rối loạn cương dương (erectile dysfunction- ED) là một rối loạn chức năng tình dục ở nam giới được định nghĩa là dương vật không có khả năng cương cứng hoặc duy trì sự cương cứng đủ để quan hệ tình dục [19]. ED là bệnh lý mang tính xã hội; tuy bệnh không gây tử vong, không cần cấp cứu nhưng đã dần dần ảnh hưởng đến cuộc sống của người bệnh, có thể là nguồn gốc sinh ra nhiều bệnh khác về tâm thần kinh… [20]. Dịch tễ Đây là một rối loạn phổ biến và tỷ lệ mắc tăng theo tuổi, đặc biệt là ở nam giới từ 50 tuổi trở lên [1]. Tỷ lệ hiện mắc ước tính ở nam giới trên 40 tuổi là khoảng 50% [21].

Ở Mỹ, dữ liệu cho thấy ED ảnh hưởng đến hơn 70% nam giới trên 70 tuổi, trong khi các nghiên cứu khác cho thấy tần suất mắc ED ở nam giới trên 20 tuổi là 18,4%, tức khoảng 18 triệu nam giới [22]. ED có liên quan đến một số bệnh lý mãn tính ngày càng phổ biến ở những người đàn ông lớn tuổi, chẳng hạn như ĐTĐ và bệnh tim mạch hoặc thần kinh và điều này ít nhất có thể giải thích phần nào sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ở những người đàn ông lớn tuổi. Ngoài ra, ED là một bệnh đi kèm phổ biến ở những người đàn ông béo phì, đặc biệt là sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như ĐTĐ, rối loạn lipid máu hoặc tăng huyết áp [23]. Tuy nhiên, ED không chỉ là vấn đề ảnh hưởng đến đàn ông lớn tuổi: khoảng 25% trường hợp xảy ra ở nam giới dưới 40 tuổi [24], và tỷ lệ mắc đang gia tăng ở nhóm tuổi này [25].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu độc tính và tác dụng của viên nang trường xuân cb đối với chức năng sinh dục đực" của tác giả Vũ Ngọc Thắng, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Hoàng Ngân và PGS. Nguyễn Minh Phương, được thực hiện tại Học viện Quân y vào năm 2021. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá độc tính và tác dụng của viên nang trường xuân cb đối với chức năng sinh dục của động vật thực nghiệm. Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp thông tin quan trọng về tính an toàn và hiệu quả của sản phẩm này mà còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các liệu pháp hỗ trợ chức năng sinh dục cho nam giới.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực dược lý và độc chất, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Nghiên cứu phương pháp định lượng andrographolide trong dược liệu xuyên tâm liên bằng HPTLC", nơi nghiên cứu về các phương pháp định lượng dược liệu, hay "Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023", cung cấp cái nhìn về nhu cầu tư vấn thuốc trong điều trị ngoại trú. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Khảo sát tác động dược lý của bí kỳ nam trong bảo vệ gan và thận", một nghiên cứu liên quan đến tác động dược lý của các loại thảo dược. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các nghiên cứu trong lĩnh vực dược lý và độc chất.