Luận văn BSNT Bùi Thị Tâm: Nghiên cứu độc tính và tác dụng của viên nang TLHV

Chuyên khảo y tế phân tích Nghiên cứu độc tính cấp bán trường diễn và tác dụng dược lý của viên nang tlhv điều trị tăng sản, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn bác sĩ

2022

140
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TÍNH AN TOÀN CỦA THUỐC

1.1.1. Xác định độc tính cấp

1.1.2. Xác định độc tính bán trường diễn

1.2. MỘT SỐ MÔ HÌNH GÂY TĂNG SẢN LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM

1.2.1. Mô hình in vitro

1.2.2. Mô hình in vivo

1.3. TĂNG SẢN LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI

1.3.1. Giải phẫu và sinh lý tuyến tiền liệt

1.3.2. Bệnh nguyên, bệnh sinh của tăng sản lành tính tuyến tiền liệt

1.3.3. Điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt

1.4. TĂNG SẢN LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN

1.4.1. Bệnh nguyên, bệnh cơ và điều trị

1.5. Y HỌC CỔ TRUYỀN NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ TĂNG SẢN LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT

1.5.1. Pháp bổ thận đạo trọc, hành khí hóa ứ

1.5.2. Pháp thanh nhiệt lợi thấp nhuyễn kiên tán kết

1.5.3. Pháp thanh tam tiêu, khí hóa bàng quang

1.5.4. Nghiên cứu vị thuốc

1.6. THUỐC NGHIÊN CỨU VIÊN NANG “TLHV”

1.6.1. Một số nét về các vị thuốc trong viên nang “TLHV”

1.6.2. Phân tích bài thuốc theo quân thần tá sứ

1.7. THUỐC ĐỐI CHỨNG TRONG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

1.8. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.8.1. CHẤT LIỆU NGHIÊN CỨU

1.8.1.1. Công thức viên nang “TLHV”

1.8.2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH

1.8.2.1. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu độc tính cấp
1.8.2.2. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu độc tính bán trường diễn

1.8.3. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG LÀM GIẢM TRỌNG LƯỢNG TUYẾN TIỀN LIỆT TRÊN MÔ HÌNH

1.8.3.1. Đối tượng nghiên cứu
1.8.3.2. Phương pháp nghiên cứu
1.8.3.3. Chỉ tiêu và phương pháp đánh giá kết quả

1.9. PHƯƠNG TIỆN MÁY MÓC VÀ HÓA CHẤT NGHIÊN CỨU

1.9.1. Thuốc và hóa chất dùng trong nghiên cứu

1.9.2. Máy móc và dụng cụ phục vụ nghiên cứu

1.10. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

1.11. XỬ LÝ SỐ LIỆU

1.12. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.12.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH CẤP CỦA VIÊN NANG “TLHV”

1.12.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH BÁN TRƯỜNG DIỄN CỦA VIÊN NANG “TLHV”

1.12.2.1. Ảnh hưởng của viên nang “TLHV” lên tình trạng chung và sự thay đổi thể trọng của chuột cống trắng
1.12.2.2. Ảnh hưởng của viên nang “TLHV” đối với một số chỉ tiêu huyết học của chuột cống trắng
1.12.2.3. Ảnh hưởng của viên nang “TLHV” lên chỉ số AST, ALT của chuột cống trắng
1.12.2.4. Ảnh hưởng của viên nang “TLHV” lên albumin, bilirubin của chuột cống trắng
1.12.2.5. Ảnh hưởng của viên nang “TLHV” lên cholesterol của chuột cống trắng
1.12.2.6. Ảnh hưởng viên nang “TLHV” lên creatinine của chuột cống trắng
1.12.2.7. Kết quả mô bệnh học tạng của chuột thí nghiệm

1.12.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA VIÊN NANG “TLHV” TRÊN MÔ HÌNH GÂY TĂNG SẢN LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT TRÊN THỰC NGHIỆM

1.12.3.1. Ảnh hưởng của viên nang “TLHV” lên cân nặng của chuột cống trắng
1.12.3.2. Ảnh hưởng của viên nang “TLHV” trọng lượng tuyệt đối tuyến tiền liệt của chuột cống trắng

1.13. BÀN LUẬN VỀ KẾT QUẢ ĐỘC TÍNH CẤP, ĐỘC TÍNH BÁN TRƯỜNG DIỄN CỦA VIÊN NANG “TLHV”

1.13.1. Bàn về độc tính cấp của viên nang “TLHV” trên động vật thực nghiệm

1.13.2. Về độc tính bán trường diễn của viên nang “TLHV” trên động vật thực nghiệm

1.14. BÀN LUẬN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TĂNG SẢN LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT CỦA VIÊN NANG “TLHV” TRÊN MÔ HÌNH

1.14.1. Về mô hình thực nghiệm

1.14.2. Thuốc đối chứng trên thực nghiệm

1.14.3. Về hiệu quả ức chế TSLTTTL của viên nang “TLHV” trên thực nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC I: TIÊU CHUẨN CƠ SỞ

PHỤ LỤC II: QUY TRÌNH SẢN XUẤT VIÊN NANG TLHV

PHỤ LỤC III: ĐẶC ĐIỂM CÁC VỊ THUỐC TRONG THÀNH PHẦN VIÊN NANG “TLHV”

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu độc tính cấp và tác dụng dược lý

Nghiên cứu độc tính cấp và tác dụng dược lý của viên nang TLHV điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt là một chủ đề quan trọng trong y học cổ truyền. Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (BPH) là một bệnh lý phổ biến ở nam giới, đặc biệt là những người trên 50 tuổi. Việc tìm hiểu độc tính và hiệu quả của viên nang TLHV không chỉ giúp đảm bảo an toàn cho người sử dụng mà còn mở ra hướng đi mới trong điều trị bệnh này.

1.1. Định nghĩa và tầm quan trọng của độc tính cấp

Độc tính cấp là mức độ độc hại của một chất sau khi sử dụng trong thời gian ngắn. Việc xác định độc tính cấp giúp đánh giá an toàn của viên nang TLHV trước khi đưa vào sử dụng rộng rãi. Nghiên cứu này cung cấp thông tin quan trọng cho các bác sĩ và nhà nghiên cứu trong việc điều trị BPH.

1.2. Tác dụng dược lý của viên nang TLHV

Viên nang TLHV được nghiên cứu với mục tiêu điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt. Các thành phần trong viên nang có khả năng làm giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Nghiên cứu này sẽ phân tích các tác dụng dược lý cụ thể của viên nang TLHV.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt

Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt gây ra nhiều vấn đề cho người bệnh, từ triệu chứng tiểu tiện khó khăn đến ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc lựa chọn phương pháp phù hợp và an toàn cho bệnh nhân.

2.1. Các triệu chứng và ảnh hưởng của BPH

BPH gây ra nhiều triệu chứng khó chịu như tiểu nhiều lần, tiểu đêm, và tiểu không tự chủ. Những triệu chứng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn tác động đến tâm lý và chất lượng cuộc sống của người bệnh.

2.2. Thách thức trong điều trị BPH hiện nay

Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị như phẫu thuật và thuốc, nhưng vẫn còn nhiều bệnh nhân không thể tiếp cận hoặc không phù hợp với các phương pháp này. Việc tìm kiếm các giải pháp an toàn và hiệu quả hơn là một thách thức lớn trong y học hiện đại.

III. Phương pháp nghiên cứu độc tính cấp và bán trường diễn

Nghiên cứu độc tính cấp và bán trường diễn là bước quan trọng trong việc đánh giá an toàn của viên nang TLHV. Các phương pháp này giúp xác định liều lượng an toàn và hiệu quả cho người sử dụng.

3.1. Phương pháp xác định độc tính cấp

Độc tính cấp được xác định thông qua các thử nghiệm trên động vật thực nghiệm. Mục tiêu là xác định liều gây chết 50% (LD50) và theo dõi các triệu chứng bất thường sau khi sử dụng viên nang TLHV.

3.2. Phương pháp nghiên cứu độc tính bán trường diễn

Nghiên cứu độc tính bán trường diễn nhằm đánh giá tác động của viên nang TLHV khi sử dụng trong thời gian dài. Các chỉ tiêu sinh hóa và huyết học sẽ được theo dõi để đảm bảo an toàn cho người bệnh.

IV. Kết quả nghiên cứu độc tính cấp của viên nang TLHV

Kết quả nghiên cứu độc tính cấp cho thấy viên nang TLHV có mức độ an toàn cao khi sử dụng trong liều lượng quy định. Các triệu chứng bất thường được ghi nhận là không đáng kể, cho thấy viên nang này có tiềm năng trong điều trị BPH.

4.1. Tình trạng chung của động vật thí nghiệm

Trong quá trình nghiên cứu, tình trạng chung của động vật thí nghiệm được theo dõi chặt chẽ. Không có dấu hiệu bất thường nào được ghi nhận, cho thấy viên nang TLHV an toàn khi sử dụng.

4.2. Kết quả mô bệnh học sau nghiên cứu

Kết quả mô bệnh học cho thấy không có tổn thương nghiêm trọng nào ở các cơ quan nội tạng của động vật thí nghiệm. Điều này khẳng định tính an toàn của viên nang TLHV trong điều trị BPH.

V. Tác dụng dược lý của viên nang TLHV trên mô hình thực nghiệm

Nghiên cứu tác dụng dược lý của viên nang TLHV cho thấy viên nang này có khả năng làm giảm phì đại tuyến tiền liệt hiệu quả. Các chỉ số sinh lý và sinh hóa được cải thiện rõ rệt sau khi sử dụng viên nang.

5.1. Ảnh hưởng đến trọng lượng tuyến tiền liệt

Kết quả cho thấy viên nang TLHV có tác dụng làm giảm trọng lượng tuyến tiền liệt ở chuột cống trắng. Điều này cho thấy viên nang có khả năng ức chế sự phát triển của BPH.

5.2. Các chỉ số sinh hóa liên quan

Các chỉ số sinh hóa như AST, ALT, và cholesterol cũng được cải thiện sau khi sử dụng viên nang TLHV. Điều này cho thấy viên nang không chỉ an toàn mà còn có tác dụng tích cực đến sức khỏe tổng thể của động vật thí nghiệm.

VI. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu độc tính cấp và tác dụng dược lý của viên nang TLHV đã cung cấp những thông tin quý giá về tính an toàn và hiệu quả của sản phẩm này trong điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt. Các kết quả đạt được mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các sản phẩm y học cổ truyền.

6.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy viên nang TLHV an toàn và có tác dụng tích cực trong điều trị BPH. Điều này khẳng định tiềm năng của y học cổ truyền trong việc điều trị các bệnh lý phổ biến.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để xác định rõ hơn về cơ chế tác dụng của viên nang TLHV và mở rộng ứng dụng của sản phẩm này trong điều trị các bệnh lý khác.

23/07/2025
Nghiên cứu độc tính cấp bán trường diễn và tác dụng dược lý của viên nang tlhv điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt trên thực nghiệm luận văn bác sỹ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TÍNH AN TOÀN CỦA THUỐC 1. Xác định độc tính cấp 1. Một vài định nghĩa hiện đang sử dụng Độc tính (toxicity) của thuốc là tính chất được biểu hiện bằng tác dụng không mong muốn, có hại cho cơ thể.

Độc tính của thuốc có thể nhẹ như thay đổi hành vi, thay đổi vận động, buồn nôn, mẩn ngứa, có thể rất nặng, thậm chí gây chết. Độc tính cấp (acute toxicity) của thuốc là độc tính xảy ra sau khi dùng thuốc một lần hoặc vài ba lần trong ngày. Nghiên cứu độc tính cấp của thuốc trên động vật thí nghiệm, mục đích chính là xác định liều chết trung bình (mean lethal dose) tức là liều làm chết 50% số động vật thí nghiệm trong những điều kiện nhất định và được ký hiệu là LD50 (lethal dose 50%) [12, 18]. Mục tiêu Thử độc tính cấp nhằm cung cấp thông tin cho việc xếp loại mức độ độc của thuốc, điều trị ngộ độc cấp, thiết lập mức liều cho những thử nghiệm độc tính tiếp theo [2, 4].

Động vật thực nghiệm và đường dùng Động vật nghiên cứu: thử ít nhất trên 2 loài động vật có vú, trong đó có một loài không gặm nhấm. Tùy điều kiện, có thể chấp nhận thử độc tính cấp trên một loài động vật. Loài gặm nhấm thường sử dụng là chuột nhắt, chuột cống, loài không gặm nhấm có thể dùng là chó hoặc khỉ. Trong nghiên cứu của chúng tôi sử dụng động vật thực nghiệm là chuột nhắt [12].

Đường dùng theo đường dự kiến dùng cho người (đường uống, tiêm, hô hấp). Một số mô hình Mô hình liều cố định: Thử với một số liều cố định, dùng 5 động vật cho mỗi nhóm, thử lần lượt từng mức liều một. Liều khởi đầu là một liều cố định đã gợi ý, tùy theo kết quả đáp ứng của liều khởi đầu mà tiến hành thử tiếp những mức liều cao hơn hoặc thấp hơn. Thử nghiệm tiếp tục cho đến khi xác định được một mức liều gây độc tính rõ ràng, hoặc liều gây chết không quá 1 con, hoặc liều cao nhất không gây ảnh hưởng gì [49, 68].

Mô hình phân loại độc: Thử theo quy trình bậc thang, mỗi bước dùng 3 con cùng giới. Tùy theo động vật có chết hay không ở một bước thử mà xác định cho bước thử tiếp theo, như không cần thử thêm nữa, hoặc thử thêm 3 con nữa với cùng mức liều đó hoặc thử thêm trên 3 con nữa ở mức liều cao hơn hoặc thấp hơn [45]. Mô hình thử Tăng - Giảm: Thử lần lượt các liều định trước, mỗi liều ở một thời điểm, cách nhau tối thiểu là 48 giờ. Động vật đầu tiên uống ở mức liều thấp hơn gần nhất với liều ước tính LD50 [45].

Nếu động vật đó sống thì liều cho con tiếp theo sẽ tăng 3,2 lần so với liều vừa thử trước đó, còn nếu bị chết thì giảm liều xuống 3,2 lần. Quan sát cẩn thận tình trạng từng động vật để quyết định cho thử liều tiếp [59]. Mô hình theo Litchfield - Wilcoxon: Động vật thường dùng là chuột nhắt trắng, cả 2 giống. Cho từng lô chuột uống thuốc thử với các liều khác nhau từ liều cao nhất không gây chết tới liều thấp nhất gây chết 100% chuột.

Chuột được nhịn ăn 12 giờ trước khi uống thuốc, vẫn uống nước đầy đủ [69]. Đây là mô hình được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu trong và ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã sử dụng mô hình này [78]. Chỉ tiêu theo dõi Tình trạng chung của chuột gồm hoạt động tự nhiên, tư thế, màu sắc (mũi, tai, đuôi), lông, phân, nước tiểu… 5 Tỷ lệ chuột chết trong vòng 72 giờ; khi có chuột chết, mổ để quan sát đại thể các cơ quan phủ tạng.

Nếu cần, làm thêm vi thể để xác định nguyên nhân [55]. Xác định độc tính bán trường diễn 1. Mục tiêu Thử độc tính bán trường diễn chỉ tiến hành sau khi đã có thông tin về độc tính cấp trên một loài nào đó và mẫu thử được dự định dùng dài ngày trên người. Nghiên cứu độc tính bán trường diễn để xác định được mức liều tối đa không gây ra những thay đổi đáng kể tới một số chỉ tiêu của sự sống, mức liều tối đa có thể gây ra những thay đổi đáng kể một số chỉ tiêu cho sự sống khi dùng nhiều lần (nếu có), những độc tính có thể quan sát được trên động vật và khả năng phục hồi nếu có thể [46].

Động vật thí nghiệm và đường dùng Động vật nghiên cứu: Thử ít nhất trên 2 loài động vật có vú, trong đó có một loài không gặm nhấm. Tùy điều kiện, có thể chấp nhận thử độc tính bán trường diễn trên một loài động vật. Loài gặm nhấm thường sử dụng là chuột nhắt, chuột cống. Loài không gặm nhấm có thể dùng là chó hoặc khỉ.

Trong nghiên cứu của chúng tôi sử dụng động vật thực nghiệm là chuột cống. Dùng theo đường dự kiến dùng cho người. Mức liều thử Thử nghiệm nên được thực hiện với 3 mức liều. Liều thấp là liều không gây ảnh hưởng độc nào trên động vật thí nghiệm, liều trung bình là mức liều có thể không gây những độc tính quan sát được hoặc gây ảnh hưởng không đáng kể, liều cao là mức liều dự kiến sẽ quan sát được biểu hiện ngộ độc trên động vật thí nghiệm.

Thử nghiệm nên được tiến hành song song với một nhóm chứng [46, 58]. Thời gian thử nghiệm Thời gian thử thuốc trên động vật được tính dựa theo thời gian dự kiến dùng trên người, được tính bằng 3 – 4 lần thời gian dự kiến dùng trên người [60]. Có thể áp dụng các mô hình thời gian thử trên động vật như sau với 3 mức thời gian cố định là 14 ngày, 28 ngày và 90 ngày. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng mức thời gian là 28 ngày [76].

Chỉ tiêu theo dõi Theo dõi hàng ngày tình trạng của động vật thí nghiệm. Xác định các chỉ tiêu đánh giá như trọng lượng, các chỉ số sinh hóa, huyết học. Tiến hành mổ để quan sát đại thể các tổ chức, so sánh với nhóm chứng, nếu cần thiết có thể quan sát vi thể. Theo dõi khả năng phục hồi cần bổ sung số động vật thí nghiệm muốn giữ lại để theo dõi sau khi hết thời gian dùng thuốc [22, 46].

MỘT SỐ MÔ HÌNH GÂY TĂNG SẢN LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM 1. Mô hình in vitro Nuôi cấy tế bào biểu mô tuyến tiền liệt bình thường trong các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát triển và biệt hóa của chúng. Các tế bào biểu mô nuôi cấy có thể là những tế bào lấy từ các mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân, do tăng sản lành tính tuyến tiền liệt hoặc do bệnh lý khác như ung thư tuyến tiền liệt. Các dòng tế bào tuyến tiền liệt bình thường có thể được lấy từ tuyến tiền liệt của chuột.

Mô hình in vivo 1. Mô hình ghép dị loài (xenograft models) Tế bào tuyến tiền liệt người được cấy ghép lên chuột đã loại bỏ tuyến ức, có ưu điểm là đánh giá trực tiếp trên tế bào tuyến tiền liệt của người, tuy nhiên kỹ thuật khó, đòi hỏi đầu tư cơ sở vật chất lớn, chi phí nghiên cứu cao. Mô hình sử dụng chuột nhắt biến đổi gen Chuột nhắt biến đổi gen được sử dụng rộng rãi cho nhiều mô hình nghiên cứu về cơ chế bệnh sinh cũng như hiệu quả của các phương pháp điều trị. Tuy nhiên việc sử dụng chuột biến đổi gen hiện vẫn chưa phổ biến tại các cơ sở nghiên cứu trong nước, chi phí nghiên cứu cao do nguồn động vật phải nhập từ nước ngoài, cần điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc riêng biệt.

Mô hình gây tăng sản lành tính tuyến tiền liệt bằng hormone, hoá chất Scolnik và cộng sự (1994) gây tăng sản lành tính tuyến tiền liệt bằng citral [63]. Lee và cộng sự (1998) phát triển mô hình gây tắc nghẽn đường niệu bằng cách kích thích sự phát triển tuyến tiền liệt của chuột theo con đường hormone - thần kinh. Trong mô hình này, sự phát triển tuyến tiền liệt của chuột được gây ra bằng cách kết hợp Dihydrotestosteron liều 1,25mg/kg/ngày và prazosin (chất đối kháng alpha-1 adrenoreceptor) liều 30µg/kg/ngày tiêm dưới da trong 14 ngày [44]. Ngoài các mô hình động vật gặm nhấm, chó đã được sử dụng để nghiên cứu về bệnh tăng sản lành tính tuyến tiền liệt ở người.

Bệnh TSLTTTL ở người và chó có nhiều đặc điểm chung. Ở cả hai loài, sự phát triển của TSLTTTL xảy ra tự phát với tuổi cao và có thể được ngăn ngừa bằng cách thiến sớm/chuẩn bị trước. Tăng sản biểu mô tuyến tiền liệt ở cả người và chó đều nhạy cảm với androgen. Walsh và Wilson (1976) đã phát triển mô hình gây TSLTTTL ở chó bị thiến bằng cách cho dùng trong thời gian dài 5α-androstane-3α, 17β-diol (3α- diol) 75mg/tuần, kết hợp với 17β-estradiol 0,75mg/tuần [72].

Jian-Hui Wu và cộng sự (2011) [52] báo cáo sử dụng bisphenol A đường uống liều thấp (10µg/kg) làm tăng mức độ phì đại tuyến tiền liệt trên chuột cống trắng đực uống gây tăng sản lành tính tuyến tiền liệt bằng testosteron 8 (1mg/kg) tiêm dưới da chuột cống đực trong 4 tuần. Dựa trên kết quả này, một số tác giả trong nước đã sử dụng mô hình gây phì đại tuyến tiền liệt trên chuột cống trắng đực bằng cách kết hợp testosteron (1mg/kg) tiêm dưới da và bisphenol A đường uống liều thấp (10µg/kg) trong 4 tuần. Trong các công bố gần đây trên các tạp chí quốc tế uy tín, phần lớn các tác giả sử dụng mô hình gây TSLTTTL bằng sử dụng testosterone propionate trên chuột cống trắng, có thể thiến [77] hoặc không thiến [64] để đánh giá tác dụng của thuốc làm giảm kích thước tuyến tiền liệt. Trên mô hình thiến chuột, testosterone propionate được tiêm liều 0,5mg/kg/ngày trong 28 ngày liên tục để gây mô hình tăng sản tuyến tiền liệt đánh giá tác dụng làm giảm sự phì đại tuyến tiền liệt của chế phẩm [77].

Với liều tiêm testosterone propionate 25mg/kg/ngày liên tục trong 28 ngày sau cắt bỏ tinh hoàn 2 bên của chuột 1 tuần, sự phì đại nhiều của tuyến tiền liệt đã gây chèn ép làm cho các triệu chứng tắc nghẽn đường niệu dưới thể hiện rõ rệt [54]. Trên mô hình không thiến, testosterone propionate được tiêm liều 3mg/kg/ngày trong 28 ngày liên tục, đã gây được mô hình rõ rệt và phù hợp để đánh giá tác dụng làm giảm sự phì đại tuyến tiền liệt của chế phẩm [64]. Đặc biệt mô hình được mô tả bởi In Sik Shin được tiến hành trên chuột cống đực chủng Wistar, là chủng chuột đang được sử dụng phổ biến ở nước ta. Chính vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng mô hình này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ