Chương 1: Tổng quan tư liệu Chương 2: Di tích đền An Sinh và di tích đền Thái Chương 3: Đặc điểm và giá trị của các di tích đền miếu liên quan đến vương triều Trần ở Đông Triều. 11 CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN TƢ LIỆU 1. Vƣơng triều Trần và Đông Triều 1. Vương triều Trần Ngày mồng Một, tháng Mười Hai năm Ất Dậu, tại điện Thiên An, vua Lý Chiêu Hoàng trút bỏ áo ngự, mời phu quân là Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế, đánh dấu sự chuyển giao quyền lực một cách êm đẹp từ nhà Lý sang nhà Trần.
Từ vua khởi nghiệp Trần Cảnh đến vua Thiếu Đế, nhà Trần tồn tại 175 năm (1225-1400) với 12 đời vua. Trong thời gian tồn tại của mình, nhà Trần đã xây dựng Đại Việt trở thành một quốc gia văn hiến, nhiều võ công oanh liệt, có vị trí trong khu vực thời bấy giờ. Mặc dù vào cuối thời Trần, giống như nhiều triều đại khác nhà Trần rơi vào tình trạng khủng hoảng và suy yếu, các vấn đề xã hội nảy sinh không được giải quyết thấu đáo dẫn đến suy vong. Nhưng, đặt trong bối cảnh phát triển của khu vực, nhà Trần được đánh giá là một trong những triều đại có võ công, văn trị bậc nhất trong lịch sử Việt Nam.
Thời Trần cũng là thời kỳ tinh thần dân tộc thăng hoa, văn hóa, tư tưởng và trí tuệ đạt tới tầm cao của khu vực. Tư liệu lịch sử cho phép khẳng định, nhà Trần vốn ở vùng An Sinh (nay là Đông Triều, Quảng Ninh), sống bằng nghề chài lưới. Về sau, di cư xuống khai phá vùng hạ lưu sông Hồng ở đất Hải Ấp (nay thuộc Thái Bình và Nam Định), dần trở lên giàu mạnh và có thế lực trong vùng. Tình hình hỗn loạn cuối thời Lý là tiền đề cho những người có tài trong dòng họ Trần như Trần Tự Khánh, Trần Thừa, Trần Thủ Độ tham gia triều chính.
Họ đã khôn khéo xây dựng chỗ đứng vững chắc, tiến đến áp đảo vương triều Lý đang khủng hoảng, tiếp nhận ngôi báu của nhà Lý, xóa bỏ tình trạng hỗn loạn, cát cứ, để thống nhất và phục hưng quốc gia. Ngay sau khi tiếp nhận ngôi báu, nhà Trần bắt tay vào xây dựng, tổ chức lại bộ máy quản lý đất nước từ trung ương đến địa phương. Chú trọng 12 phát triển kinh tế, bồi dưỡng và phát triển các giá trị văn hóa, tư tưởng. Nhà Trần lấy Phật giáo làm nền tảng tạo dựng xã hội khoan hòa, an lạc; Nho giáo là khuôn phép cho trật tự xã hội và thực hiện chính sách phát triển hài hòa giữa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo.
Nhận rõ vai trò “làm cán cân cho hậu thế, làm khuôn phép cho tương lai” của Nho Giáo, năm 1253 nhà Trần cho trùng tu Quốc Tử Giám, mở mang Quốc Học viện làm nơi đào tạo và tổ chức khoa thi Thái học sinh để tuyển chọn nhân tài. Về mặt tổ chức và quản lý nhà nước, nhà Trần luôn gắn quyền lợi của dòng tộc với quyền lợi của quốc gia, dân tộc. Nhà Trần coi xã tắc là của tổ tông, vì vậy mọi người trong dòng tộc đều có trách nhiệm vun đắp và hưởng thụ quyền lợi từ quốc gia. Do vậy, các chức vụ cao trong bộ máy nhà nước đều do quý tộc nhà Trần nắm giữ, phía dưới là hệ thống quan lại được tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến địa phương.
Năm 1242, nhà Trần điều chỉnh hành chính, từ 24 lộ thời Lý chia lại thành 12 lộ, dưới lộ là huyện, hương và xã. Ở trung ương nhiều cơ quan và chức quan mới được thành lập, trong đó có cơ quan tư pháp như Thẩm Hình viện, cơ quan văn hóa như Hàn Lâm viện, Quốc Sử viện… Nhà Trần tăng cường củng cố và phát triển kinh tế nông nghiệp; thực hiện chính sách điền trang, thái ấp; tích cực khuyến khích khẩn hoang; chú trọng làm thủy lợi với việc đặt các chức chánh phó Hà Đê sứ. Những chính sách trọng nông này đã góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp Đại Việt có bước phát triển vượt bậc. Bên cạnh kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp (buôn bán) cũng được thúc đẩy và mở rộng, thương cảng Vân Đồn tiếp tục là nơi thuyền bè các nước trong khu vực thường xuyên đến trao đổi buôn bán.
Nhà Trần củng cố và xây dựng quân đội gồm ba thứ quân: quân Túc vệ là quân chủ lực của nhà nước; quân các lộ được tuyển từ dân đinh địa phương là quân cơ động có nhiệm vụ bảo vệ và canh phòng trong phạm vi các lộ; 13 quân của các vương hầu quý tộc nhà Trần và dân binh do các làng xã lập ra để canh phòng và bảo vệ trong phạm vi làng xã. Quân đội triều Trần được xây dựng với triết lý “quân đội cần tinh nhuệ, không cần nhiều”. Vì vậy, quân đội chính quy thường xuyên được luyện tập, các tướng lĩnh học tập tại Giảng Võ đường, học tập binh pháp một cách sáng tạo. Nhà Trần đặc biệt coi trọng quan hệ giữa người chỉ huy và quân lính, coi như quan hệ “cha con”.
Những đội quân với lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm như vậy đã ba lần đánh thắng quân xâm lược Mông - Nguyên, đội quân hung hãn nhất thế giới thời bấy giờ, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, xác lập vị thế của Đại Việt trong khu vực. Từ các chính sách nhằm chăm lo đời sống nhân dân, phát triển kinh tế, củng cố an ninh, xây dựng và phát triển nhà nước quân chủ thân dân với tư tưởng khoan hòa của Phật giáo là nền tảng, nhà Trần đã sớm phục hồi xây dựng và phát triển nhà nước Đại Việt. Nhờ đó, Đại Việt dưới thời Trần trở thành một trong những đỉnh cao của văn minh Đại Việt, đủ sức chống chọi với đội quân hung hãn nhất thời bấy giờ, duy trì hòa bình và độc lập dân tộc. Cuối thời Trần, nhất là từ nửa cuối thời kỳ trị vì của vua Trần Dụ Tông (1341-1369), vua quan sao nhãng việc cai trị triều chính, các đại thần thay phiên nhau lũng đoạn việc nước, các giá trị văn hóa suy đồi dẫn đến khủng hoảng trầm trọng.
Năm 1400, vua Thiếu Đế buộc phải nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly, nhà Trần chính thức chấm dứt vai trò lịch sử của mình. Khái quát về Đông Triều và khu di tích nhà Trần tại Đông Triều Đông Triều là thị xã cửa ngõ phía tây của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích tự nhiên 396,58km2 gồm 21 đơn vị hành chính (10 phường và 11 xã), dân số trên 170.000 người gồm 11 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm 97,4%. Đông Triều cách thành phố Hạ Long khoảng 70km và thành phố Uông Bí 25km về phía Tây, cách thủ đô Hà Nội 90km về phía Đông. Phía Bắc giáp huyện Sơn Động và huyện Lục Nam của tỉnh Bắc Giang; phía Tây 14 giáp thành phố Chí Linh của tỉnh Hải Dương; phía Nam giáp thị xã Kinh Môn của tỉnh Hải Dương; phía Đông Nam giáp huyện Thủy Nguyên của thành phố Hải Phòng và phía Đông giáp thành phố Uông Bí.
Đông Triều là thị xã có địa hình đồi núi trung du xen lẫn đồng bằng. Phía Bắc và Tây Bắc là vùng đồi núi thuộc cánh cung Đông Triều, phía Nam là vùng đồng bằng ven sông. Vùng đồi núi phía Bắc gồm các xã An Sinh, Bình Khê, Tràng Lương. Ở giữa là vùng đồi núi thấp xen kẽ kéo dài từ các phường/xã Hồng Thái Đông qua phía Bắc là Mạo Khê, Kim Sơn và Tràng An.
Vùng đồng bằng phía Nam là khu vực giáp với sông Kinh Thầy và sông Đá Bạc. Đông Triều là một vùng đất cổ, Thời Bắc thuộc, Đông Triều thuộc Giao Châu; thời Ngô - Đinh - Tiền Lê thuộc lộ Nam Sách Giang; đầu thời Trần có tên gọi là An Sinh, thuộc phủ Tân Hưng, lộ/trấn Hải Dương. Đến triều vua Trần Dụ Tông (1341-1369) mới đổi An Sinh thành châu Đông Triều. Đầu thời Lê sơ, đổi châu thành huyện Đông Triều, thuộc phủ Kinh Môn, lộ/trấn Hải Dương.
Đến cuối thế kỷ XIX, huyện Đông Triều có phạm vi rộng lớn, bao gồm cả một phần huyện Kinh Môn và tổng Bí Giàng (nay thuộc Uông Bí) và tổng Tứ Trang (nay thuộc huyện Sơn Động, Bắc Giang). Năm 1889, thực dân Pháp thành lập tỉnh Lục Nam trên cơ sở ba huyện Lục Ngạn (Bắc Ninh), Chí Linh và Đông Triều (Hải Dương). Sau năm 1890- 1891, Toàn quyền Đông Dương cho lập đạo Quan binh Phả Lại, ngày 24/8/1891 cắt Đông Triều vào khu Quân sự Phả Lại. Ngày 10/10/1895, Đông Triều lại được chuyển về trực thuộc tỉnh Hải Dương [Trịnh Như Tấu, 1937, tr12-53].
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến ngày 09/7/1947, Đông Triều thuộc tỉnh Quảng Hồng. Ngày 28/01/1959, Đông Triều sáp nhập trở lại tỉnh Hải Dương. Từ ngày 27/10/1961, Đông Triều lại nhập vào khu Hồng Quảng. Ngày 30/10/1963, Hồng Quảng hợp nhất với Hải Ninh thành tỉnh Quảng Ninh, 15 Đông Triều thuộc về tỉnh Quảng Ninh.
Ngày 11/3/2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 891/NQ-UBTVQH13 về việc thành lập thị xã Đông Triều trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Đông Triều. Chuyển hai thị trấn Đông Triều, Mạo Khê và bốn xã Đức Chính, Hưng Đạo, Kim Sơn, Xuân Sơn thành 6 phường có tên tương ứng. Sau khi thành lập, thị xã Đông Triều có 39.721,55 ha diện tích tự nhiên và 173.141 người với 21 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 6 phường và 15 xã. Ngày 11/9/2019, chuyển bốn xã Hoàng Quế, Hồng Phong, Tràng An, Yên Thọ thành bốn phường có tên tương ứng.
Cấu trúc này của thị xã Đông Triều ổn định cho đến ngày nay. Đông Triều là quê gốc của vương triều Trần, nơi tổ tiên nhà Trần cư ngụ trước khi dời xuống vùng hạ lưu sông Hồng thuộc Thái Bình và Nam Định ngày nay. Tại vùng đất mới, dòng họ Trần làm nghề đánh cá, khai hoang, lập ấp rồi phát tích đế vương tại đó. Bia thần đạo ở An Sinh chép rằng: “Tiên tổ nhà Trần vốn là người Yên Sinh, huyện Đông Triều, sau dời đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường”.
Sách Trần thị gia huấn, hiện còn lưu giữ tại đền Cố Trạch (Tức Mặc - Nam Định) cũng đã khẳng định nhà Trần đến Yên Tử đầu tiên, về sau mới chuyển đến vùng Nam Định và Thái Bình. Do đó, họ Trần có ba quê, quê gốc ở xã An Sinh, huyện Đông Triều, sau mới chuyển đến xã Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc và xã Thái Đường, huyện Hưng Nhân. Năm 1237, vua đầu triều là Trần Thái Tông đem đất năm xã Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang cấp cho anh trưởng của mình là Trần Liễu làm đất thang mộc và phong Trần Liễu làm An Sinh vương.