Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Khảo cổ học (mã số: 62 22 03 17) của nghiên cứu sinh Kiều Đinh Sơn, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2024, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Tống Trung Tín và PGS.TS Đặng Hồng Sơn, tập trung khảo cứu đề tài: "Di tích đền miếu liên quan đến vương triều Trần ở Đông Triều (Quảng Ninh)".
Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu quần thể di tích nhà Trần tại Đông Triều. Đây là quần thể gồm bốn loại hình kiến trúc cơ bản: lăng tẩm, đền miếu, phủ đệ và chùa tháp. Trong khi loại hình chùa tháp và lăng tẩm đã được khảo sát tương đối có hệ thống, loại hình đền miếu và phủ đệ tại đây mới chỉ dừng lại ở các khảo cứu ban đầu. Các vấn đề cốt lõi như cấu trúc mặt bằng, hình thái kiến trúc, kỹ thuật và vật liệu xây dựng, tính chất công năng nguyên thủy và diễn trình biến đổi của di tích đền An Sinh và đền Thái đối với vương triều Trần vẫn còn nhiều khoảng trống học thuật cần được làm sáng tỏ.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung chính:
- Thứ nhất, tổng hợp và hệ thống hóa các nguồn tư liệu khảo cổ học, lịch sử và văn hóa về các di tích đền miếu liên quan đến vương triều Trần ở Đông Triều.
- Thứ hai, làm rõ cấu trúc và đặc điểm của hệ thống di tích đền miếu về quy chế mặt bằng, hình thái kiến trúc, kỹ thuật xây dựng và lịch sử hình thành, biến đổi.
- Thứ ba, làm rõ giá trị lịch sử, văn hóa và di sản của hệ thống di tích đền miếu, qua đó góp phần giải mã một số vấn đề trong lịch sử thời Trần.
Luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:
- Đền miếu liên quan đến vương triều Trần ở Đông Triều là những đền miếu nào; đặc điểm cấu trúc mặt bằng và vật liệu xây dựng; sự giống và khác nhau giữa các đền miếu này, cũng như sự giống và khác nhau giữa chúng với các loại hình di tích khác ở Đông Triều và Đại Việt thời Trần như thế nào?
- Diễn biến lịch đại của các đền miếu liên quan đến vương triều Trần ở Đông Triều từ sau thời Trần đến nay như thế nào; những thay đổi trong nội dung và hình thức quản lý, thờ tự của chúng ra sao?
- Tính chất của những đền miếu liên quan đến vương triều Trần ở Đông Triều là gì; mối quan hệ của chúng với nhà Trần như thế nào; tư liệu về đền miếu ở Đông Triều phản ánh điều gì về cấu trúc xã hội của vương triều Trần?
- Giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và di sản của di tích đền miếu liên quan đến vương triều Trần ở Đông Triều là những gì; phương thức bảo tồn và phát huy giá trị của chúng trong bối cảnh phát triển kinh tế văn hóa địa phương hiện nay nên như thế nào?
Đối tượng nghiên cứu chính là toàn bộ di tích, di vật thu được qua điều tra, khai quật khảo cổ học tại các di tích đền miếu liên quan đến vương triều Trần ở Đông Triều; cùng các nguồn tài liệu thư tịch, văn bia, tài liệu làng xã liên quan. Phạm vi không gian tập trung vào hai di tích đền An Sinh và đền Thái tại xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Phạm vi thời gian tập trung vào thời Trần (thế kỷ XIII - XIV), đồng thời khảo sát mở rộng giai đoạn Lê - Nguyễn để đối sánh diễn trình lịch đại. Luận án cũng sử dụng tư liệu khảo cổ học tại các trung tâm thời Trần khác như Thăng Long, Tức Mặc - Thiên Trường, Long Hưng để so sánh đối chiếu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả Kiều Đinh Sơn đã điểm lại các chặng đường nghiên cứu liên quan đến đối tượng đền miếu nhà Trần tại Đông Triều qua các thời kỳ:
- Nguồn khảo cứu sớm và bản đồ học: Công trình sớm nhất khảo cứu và đo vẽ mặt bằng đền An Sinh là sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ. Đầu thế kỷ XX, các học giả người Pháp đã khảo cứu và đo vẽ chi tiết mặt bằng đền An Sinh với ba khu vực: đền An Sinh, đền thờ công chúa Chiêm Thành và khu Văn chỉ. Đối với đền Thái, thời kỳ này hoàn toàn không có ghi chép hay bản vẽ nào.
- Giai đoạn cuối thế kỷ XX: Sau thời gian dài di tích bị hủy hoại và sử dụng vào mục đích khác, đến thập niên 1990, Nguyễn Du Chi khảo cứu và đưa ra nhận định rằng đền An Sinh được xây dựng vào năm 1381 làm nơi thờ phụng các vua Trần.
- Giai đoạn đầu thế kỷ XXI: Năm 2002, Hoàng Giáp sưu tầm, khảo sát và công bố các tư liệu văn bia tại đền An Sinh trên kỷ yếu Thông báo Hán Nôm học. Năm 2007, Nguyễn Văn Anh và Nguyễn Văn Sơn tiến hành điều tra khu vực Đồng Sinh phía trước đền An Sinh, công bố bộ sưu tập hiện vật vào năm 2009. Năm 2008, Ban Quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh điều tra và xuất bản công trình Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại Đông Triều (2010), tiếp tục củng cố quan điểm cho rằng điện An Sinh xây dựng năm 1381.
- Giai đoạn nghiên cứu khảo cổ học chuyên sâu từ năm 2014 đến nay: Năm 2017, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn phối hợp với Bảo tàng Quảng Ninh và thị xã Đông Triều khai quật 2.000m² tại đền An Sinh (Đặng Hồng Sơn và cộng sự công bố năm 2018). Năm 2018, trên cơ sở đối sánh tư liệu, Nguyễn Văn Anh và Kiều Đinh Sơn đề xuất giả thuyết điện An Sinh thời Trần vốn là phủ đệ của An Sinh vương Trần Liễu xây dựng từ đầu thế kỷ XIII, sau đó được triều đình sử dụng như một hành cung, đến thời Lê Trung hưng mới chuyển đổi công năng thành đền thờ các vua Trần. Năm 2022, đền An Sinh tiếp tục được khai quật lần thứ hai với diện tích 300m² ở khu vực Đồng Sinh và Văn chỉ.
- Nghiên cứu về đền Thái: Địa điểm đền Thái (Đồi Đình) bắt đầu được khảo sát từ năm 2008. Cuối năm 2008, Viện Khảo cổ học khai quật thám sát 5 hố (300m²). Giai đoạn 2009-2010, cuộc khai quật mở rộng với quy mô 5.000m² được tiến hành. Năm 2011, Hội thảo khoa học "Di tích Đền Thái trong hệ thống di tích lăng mộ, đền miếu nhà Trần tại Đông Triều" đã thống nhất nhận định đền Thái khởi dựng là Tổ Miếu của An Sinh vương Trần Liễu, sau được vương triều tiếp nhận thành Thái Miếu của nhà Trần tại Đông Triều.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: khắc phục tính đơn lẻ của các báo cáo khai quật; tiến hành hệ thống hóa và phân lập các tầng kiến trúc; chứng minh tính chất công năng chuyển đổi từ phủ đệ sang hành cung rồi thành đền thờ của đền An Sinh; xác lập vị trí của Thái Miếu trên Đồi Đình; và từ bằng chứng vật chất đền miếu để luận giải về cấu trúc quyền lực "phân tán" cùng vị thế của dòng họ An Sinh vương trong lịch sử nhà Trần.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án làm rõ hệ thống khái niệm và thuật ngữ công trình cổ:
- Cung (宮): Nhà ở và làm việc của vua chúa, nơi cai trị; hoặc quần thể công trình ngoài kinh thành dùng khi vua tuần du (hành cung).
- Điện (殿): Tòa nhà to cao, nơi diễn ra các nghi lễ, yến tiệc triều đình; hoặc tên gọi chung cho một quần thể công trình trang trọng. Luận án phân định: "điện An Sinh" chỉ công trình hoặc cụm công trình thời Trần phục vụ làm việc và nghi lễ tại phủ đệ của An Sinh vương; "đền An Sinh" chỉ quần thể công trình tín ngưỡng thờ phụng các vua Trần từ thời Lê Trung hưng đến nay.
- Cung điện (宮殿): Nhà cửa làm nơi ở và làm việc của vua chúa.
- Phủ đệ (府第): Nơi ở của vương tôn, hoàng tử, quan lại cao cấp, thường xây dựng tại thái ấp phân phong.
- Thái ấp (太邑): Vùng đất phong cấp cho quý tộc chư hầu.
- Đền (祠): Nơi thờ cúng thần thánh hoặc danh nhân lịch sử.
- Miếu (廟) và Thái miếu (太廟): Nơi thờ cúng quỷ thần, tổ tiên; trong đó Thái miếu là miếu thờ tổ tiên của hoàng gia, nhà vua.
Khung lý thuyết tiếp cận: Luận án áp dụng lý thuyết khảo cổ học nghi lễ và ba quan điểm bảo tồn di sản văn hóa:
- Quan điểm bảo tồn nguyên gốc: Giữ gìn nguyên trạng dấu vết gốc, không làm biến đổi giá trị ban đầu của di tích.
- Quan điểm bảo tồn thích ứng: Bảo tồn giá trị cốt lõi song tạo điều kiện để di sản thích ứng với đời sống xã hội đương đại.
- Quan điểm bảo tồn giá trị: Bảo tồn đồng thời cả hình thức vật thể và chức năng phi vật thể gắn với các bên liên quan.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu gồm:
- Phương pháp khảo cổ học hiện trường và khảo cổ học kiến trúc: Mở hố khai quật theo hệ thống lưới tọa độ chung, định vị vị trí và phương vị xuất lộ của kiến trúc, phân tích mối quan hệ giữa di tích và di vật trên hệ lưới.
- Phương pháp khảo cổ học trong phòng: Chỉnh lý, phân loại di vật; lập bảng thống kê định lượng; dập hoa văn; đo vẽ kỹ thuật; phân lập các lớp kiến trúc dựa trên bình đồ địa tầng và mặt bằng hiện trường.
- Kỹ thuật công nghệ: Sử dụng các phần mềm chuyên dụng như AutoCAD, Photoshop nhằm xử lý bản vẽ và chồng xếp các lớp bản đồ di tích qua các thời kỳ.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp nghiên cứu địa danh học, văn bản học Hán Nôm, lịch sử kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc cổ.
- Phương pháp sử học: Thu thập, đối sánh, phân tích và phê phán sử liệu thư tịch cổ.
Nguồn tư liệu thực tế bao gồm:
- Dữ liệu khảo cổ học: Kết quả các hố khai quật tại đền An Sinh năm 2017 (2.000m²), năm 2022 (300m²); các đợt khai quật đền Thái năm 2008 (300m²), 2009-2010 (5.000m²); cùng dữ liệu khảo sát vùng Đồng Sinh.
- Thư tịch cổ: Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Trần thị gia huấn (bản chép năm Thành Thái thứ 9 - 1907), Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí, Đồng Khánh dư địa chí, Đông Triều huyện chí, Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ.
- Tư liệu văn bia: 5 văn bia tại đền An Sinh gồm AS.BIA01 (Trùng tu bi ký, 1844, chứa nội dung Trần triều bi ký về ngày giỗ 5 vua và việc chúa Trịnh phong dân tạo lệ năm 1689); AS.BIA02 (Chửng lập hậu thần bi ký, 1767); AS.BIA03 (Hậu thần bi ký, 1842); AS.BIA04 (Bản phủ bi ký / Trùng tân Tư Phúc miếu bi ký, 1868); AS.BIA05 (chữ mờ); thác bản chuông đồng An Sinh từ chung; bia đình Đốc Trại năm 1927 tại đền Thái; bia chùa Ngọa Vân dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707); văn bia chùa Ngọc Thanh (chép lại trong Danh lam cổ tích).
- Tư liệu điều tra làng xã: 46 bản thần tích, thần sắc, hương ước của các làng xã Đông Triều do Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) sưu tầm năm 1938.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tư liệu
Chương 1 khái quát bối cảnh lịch sử thời Trần, địa bàn Đông Triều và hệ thống hóa toàn bộ các nguồn tư liệu liên quan đến đề tài.
Vương triều Trần tồn tại 175 năm (1225-1400) qua 12 đời vua. Tổ tiên nhà Trần ban đầu định cư tại An Sinh (Đông Triều), sống bằng nghề chài lưới, sau chuyển xuống Hải Ấp (Thái Bình, Nam Định). Văn bia thần đạo tại An Sinh và sách Trần thị gia huấn lưu tại đền Cố Trạch xác nhận họ Trần có ba quê: quê gốc (dương trạch) tại xã An Sinh, huyện Đông Triều; quê thứ hai (dương trạch) tại xã Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc; và quê thứ ba (âm phần) tại xã Thái Đường, huyện Hưng Nhân. Năm 1237, vua Trần Thái Tông cắt đất 5 xã Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang lập ấp thang mộc cho anh trai là Trần Liễu và phong tước An Sinh vương.
Đông Triều hiện nay có diện tích tự nhiên 396,58km², gồm 21 đơn vị hành chính. Ngày 09/12/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2383/QĐ-TTg xếp hạng Khu di tích lịch sử nhà Trần tại Đông Triều là Di tích Cấp quốc gia Đặc biệt, gồm 14 điểm di tích: 5 chùa quán (Quỳnh Lâm, Trung Tiết, Quán Ngọc Thanh, Ngọa Vân, Hồ Thiên); 2 đền miếu (đền An Sinh, đền Thái); và 7 lăng mộ (Thái lăng, Mục lăng, Ngải Sơn lăng, Phụ lăng, Tư Phúc lăng, Nguyên lăng, Hy lăng).
Hệ thống tư liệu thành văn phản ánh đền miếu thời Trần ở Đông Triều khá hiếm hoi trong chính sử. Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi hai sự kiện gián tiếp: sự kiện cấp đất thang mộc năm 1237 và sự kiện Thượng hoàng Trần Nghệ Tông giả vờ ngự về Yên Sinh năm 1388 để phế truất Trần Phế Đế. Sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ là nguồn duy nhất vẽ mặt bằng đền An Sinh hình chữ "Công" với 3 lớp nền: nền một dài 3 trượng 5 thước (14m), rộng 2 trượng 2 thước (8,8m); nền hai dài 2 trượng (8m); nền ba dài 3 trượng 5 thước (14m), rộng 2 trượng (8m).
Tư liệu văn bia thời Lê Trung hưng và thời Nguyễn ghi nhận việc duy trì thờ tự các vua Trần tại An Sinh. Sắc lệnh ngày 24 tháng 10 năm Chính Hòa thứ 10 (1689) của chúa Trịnh Căn chỉ dụ cho dân làng An Sinh làm dân "tạo lệ", được miễn trừ thuế khóa và sưu dịch để chuyên lo việc phụng thờ lăng miếu. Văn bia chùa Ngọc Thanh khẳng định An Sinh vương Trần Liễu táng tại lăng Đồng Sinh và được tôn thụy là "Khâm minh Thánh vũ Hiển đạo An Sinh hoàng đế".
Khảo cứu 46 hồ sơ làng xã do EFEO sưu tầm năm 1938 cho thấy có 7 làng thờ cúng các vị vua triều Trần hoặc lấy ngày kỵ của vua làm trọng lễ:
| TT |
Tên làng xã cũ |
Vị trí hành chính hiện nay |
Đối tượng phụng thờ theo tài liệu |
| 1 |
Làng An Sinh, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều |
Xã An Sinh, thị xã Đông Triều |
8 vua Trần (Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông, Dụ Tông, Nghệ Tông, Duệ Tông) và An Sinh vương Trần Liễu |
| 2 |
Làng Đốc Trại, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều |
Xã An Sinh, thị xã Đông Triều |
8 vua Trần (như làng An Sinh) và An Sinh vương Trần Liễu |
| 3 |
Làng Bình Lục, tổng Đạm Thủy, huyện Đông Triều |
Xã Hưng Đạo, thị xã Đông Triều |
Các vua Trần |
| 4 |
Làng Đoàn Xá, tổng Đạm Thủy, huyện Đông Triều |
Xã Hưng Đạo, thị xã Đông Triều |
Các vua Trần |
| 5 |
Làng Tràng Bảng, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều |
Phường Tràng An, thị xã Đông Triều |
4 vua Trần (Anh Tông, Minh Tông, Dụ Tông, Nghệ Tông) và An Sinh vương Trần Liễu |
| 6 |
Làng Triều Khê, tổng Đạm Thủy, huyện Đông Triều |
Phường Hưng Đạo, thị xã Đông Triều |
1 vua Trần (Anh Tông) và An Sinh vương Trần Liễu |
| 7 |
Làng Đạm Thủy, tổng Đạm Thủy, huyện Đông Triều |
Xã Thủy An, thị xã Đông Triều |
3 vua Trần (Minh Tông, Nghệ Tông, Thuận Tông) |
Hương ước các làng phản ánh tục "kết chạ" giữa 4 làng (Triều Khê, Đoàn Xá, Đạm Thủy, Tràng Bảng) với làng An Sinh. Hàng năm vào ngày hội và ngày kỵ, các làng dâng lễ mặn, làng An Sinh dâng lễ chay; sau tế lễ thực hiện nghi thức đổi lễ, khẳng định vai trò chủ lễ của đền An Sinh.
Chương 2: Di tích đền An Sinh và di tích đền Thái
Chương 2 trình bày chi tiết kết quả khai quật khảo cổ học tại đền An Sinh, cánh đồng Sinh và đền Thái, từ đó xác lập công năng kiến trúc.
Tại khu vực đền An Sinh, khai quật đã làm xuất lộ 26 công trình thời Trần, gồm: 17 mặt bằng kiến trúc (KT), 8 khoảng sân (Sn), 1 móng tường bao (Tb) và 2 cống nước (Cg), trải qua 2 giai đoạn xây dựng.
Giai đoạn kiến trúc thứ nhất: Bao gồm 14 công trình kiến trúc và 6 khoảng sân lộ thiên.
- Các kiến trúc chính chạy dài theo hướng Đông - Tây:
- Kiến trúc KT01: Diện tích 767,2m² (dài 56m, rộng 13,7m). Mặt bằng 11 gian, 12 hàng cột, mỗi hàng 4 cột. Khoảng bước gian giữa và các gian bên rộng 5,3m; hai gian đầu hồi rộng 4,5m. Khoảng cách hai cột cái trong một hàng là 5,2m; khoảng cách cột cái đến cột quân là 2,8m. Dấu vết hiện trường còn 34 móng trụ và 5 chân tảng đá. Móng trụ hình vuông kích thước trung bình 1,2-1,3m x 1,1-1,2m, sâu 1m, xử lý đầm xen kẽ nhiều lớp sét đồi và đá dăm.
- Kiến trúc KT02: Nằm song song với KT01 qua sân Sn01. Diện tích 716,8m² (dài 56m, rộng 12,8m). Cấu trúc 11 gian, 12 hàng cột, mỗi hàng 4 cột. Bước gian giữa 5,3m, hai gian chái 4,5m. Khoảng cách hai cột cái là 3,6m; cột quân phía Bắc cách cột cái 2,7m; cột quân phía Nam cách cột cái 4,3m. Còn lại 32 móng trụ và 4 chân tảng.
- Kiến trúc KT03: Nằm song song với KT02 qua sân Sn02. Diện tích 716,8m² (dài 56m, rộng 12,8m), 11 gian, 12 hàng cột, mỗi hàng 4 cột. Bước gian giữa 5,3m, hai gian ngoài 4,5m. Khoảng cách hai cột cái là 5m; khoảng cách cột cái tới cột quân là 2,8m. Xuất lộ 12 móng trụ.
- Kiến trúc KT04, KT05 và KT17: Nằm ở phía Nam, một phần nằm dưới nền đền hiện tại. KT04 có chiều dài ngắn hơn, hai đầu hồi nối tiếp sân Sn03 và Sn04. KT05 có 9 móng trụ tạo giả thuyết vì 5 cột (cột nóc trùng vị trí thượng lương). KT17 gồm 10 móng trụ và 2 chân tảng xếp thành mặt bằng 11 gian đối xứng.
- Hệ thống hành lang và kiến trúc kết nối:
- KT08 (hành lang Tây, 6 gian) và KT09 (hành lang Đông, 6 gian), chạy dọc Bắc - Nam bao bọc khu trung tâm.
- KT10 (hành lang Nam): Dài 56m, kết nối vuông góc với KT08 và KT09, cấu trúc vì 2 hàng cột, khoảng cách 4,5m, gian giữa mở rộng làm cổng chính.
- Các khối kiến trúc nối góc: KT12A/B (nối KT01 với KT02 qua sân Sn01); KT13A/B (nối KT02 với KT03 qua sân Sn02); KT14A/B (nối KT03 với KT04); KT15A/B (nối KT04 với KT14A/B).
- Hệ thống sân lộ thiên:
- Sân Sn01: Nằm giữa KT01 và KT02. Giai đoạn sớm có các bồn cây hình chữ nhật xếp bằng ngói nghiêng; giai đoạn muộn tôn cao bằng ngói vỡ, bồn cây chuyển thành hình tròn xếp bằng đá cuội chạy thành hàng dọc.
- Sân Sn02: Nằm giữa KT02 và KT03, lát các mảnh ngói ghép thành hoa văn "hoa chanh". Về sau gian giữa sân được xây đường nối (dạng ống muống) kết nối KT02 và KT03, hai bên tạo thành giếng trời.
- Sân Sn03, Sn04, Sn05, Sn06: Sân ngói hoa chanh đối xứng. Riêng bó nền sân Sn04 có hiện tượng tái sử dụng gạch thời Bắc thuộc trang trí văn trám lồng cùng gạch ngói thời Trần.
Khu vực Đồng Sinh: Khảo sát và khai quật năm 2022 phát hiện dấu vết móng kiến trúc thời Trần trải rộng, điểm xa nhất cách đền hiện nay tới 500m.
Di tích đền Thái (Đồi Đình): Phân bố trên diện tích khoảng 2,1ha. Các cuộc khai quật năm 2008 và 2009-2010 (5.000m²) phát hiện một quần thể kiến trúc bằng gỗ quy mô lớn, móng trụ gia cố đá đầm, mái lợp ngói mũi sen thời Trần, đồ gốm men cao cấp.
Tính chất, công năng di tích:
- Đền An Sinh: Với quy mô mặt bằng nhiều đơn nguyên lớn (56m chiều dài), liên kết khép kín bằng hệ thống hành lang, sân vườn tiểu cảnh, bồn hoa và giếng trời, di tích không mang cấu trúc của một ngôi đền miếu tế lễ thời Trần. Luận án khẳng định tính chất nguyên gốc đây là dinh thự phủ đệ của An Sinh vương Trần Liễu (thế kỷ XIII). Sau khi ông mất, nơi đây được vương triều chuyển đổi thành hành cung cho các vua Trần. Đến thời Lê Trung hưng mới chính thức cải biến thành đền thờ chung các vị hoàng đế triều Trần.
- Đền Thái: Vị trí đồi cao, kiến trúc trang nghiêm, ban đầu là Tổ Miếu thờ phụng tổ tiên do An Sinh vương Trần Liễu xây dựng trên đất thang mộc, sau được triều đình nâng lên thành Thái Miếu hoàng gia của vương triều Trần tại Đông Triều.
Chương 3: Đặc điểm và giá trị của các di tích đền miếu liên quan đến vương triều Trần ở Đông Triều
Chương 3 tổng kết quá trình biến đổi lịch sử và các giá trị của hệ thống di tích:
Quá trình biến đổi lịch sử:
- Tuyến biến đổi điện An Sinh - đền An Sinh:
- Thời Trần: Từ phủ đệ của An Sinh vương Trần Liễu (khởi dựng khoảng sau năm 1237) chuyển thành hành cung hoàng gia (nơi Thượng hoàng Nghệ Tông lui tới năm 1388).
- Thời Lê: Sau khi các công trình kiến trúc trên Đồi Đình và lăng tẩm bị tàn phá, thời Lê Trung hưng triều đình cho dựng đền thờ tập trung các vua Trần và An Sinh vương ngay trên nền phế tích hành cung An Sinh, giao dân xã làm dân tạo lệ (1689).
- Thời Nguyễn đến nay: Triều Nguyễn tiếp tục cấp kinh phí trùng tu, ban sắc phong phụng thờ thêm các vua đầu triều; sang thế kỷ XX đền bị chiến tranh và thời gian hủy hoại, được trùng tu lớn vào năm 1997 và sửa chữa năm 2020.
- Tuyến biến đổi Thái Miếu - đền Thái:
- Thời Trần: Tổ Miếu của dòng họ An Sinh vương được triều đình tiếp nhận thành Thái Miếu vương triều.
- Thời Lê: Vai trò Thái Miếu suy giảm và hoang phế, chức năng thờ tự dồn về đền An Sinh.
- Thời Nguyễn đến nay: Dân làng Đốc Trại xây dựng ngôi đình làng trên đỉnh đồi nền miếu cũ (văn bia năm 1927). Năm 2016, công trình Đền Thái mới được phục dựng bên cạnh việc bảo tồn nguyên trạng mặt bằng khảo cổ dưới lòng đất.
Giá trị lịch sử và khoa học:
- Làm sáng tỏ đặc trưng vật chất thời Trần: Các loại ngói mũi sen, gạch lát hoa chanh, chân tảng đá hoa sen, kỹ thuật đầm móng trụ sét đồi - đá dăm.
- Xác lập vai trò trung tâm của An Sinh trong hệ thống di tích nhà Trần: An Sinh cùng với Thăng Long, Thiên Trường và Long Hưng tạo thành bốn không gian quyền lực - tín ngưỡng cốt lõi.
- Nhận thức về cấu trúc xã hội Đại Việt thời Trần: Bằng chứng về quy mô phủ đệ An Sinh và việc triều đình cho lập Thái Miếu tại đây phản ánh cơ chế phân quyền, cấu trúc quyền lực "phân tán" thân tộc. Các thân vương cai quản những thái ấp rộng lớn với phủ đệ và quân đội riêng, nhưng vẫn gắn kết hữu cơ với trung ương dưới ý thức dòng tộc họ Trần.
Giá trị di sản văn hóa:
- Giá trị vật thể: Hệ thống nền móng kiến trúc gỗ thời Trần quy mô lớn, địa tầng nguyên vẹn, các sưu tập vật liệu kiến trúc, đồ gốm sứ sinh hoạt và thờ cúng.
- Giá trị phi vật thể: Tục thờ cúng các vị vua Trần, tín ngưỡng tôn xưng Trần Liễu là hoàng đế, thiết chế dân tạo lệ, cùng lễ tục kết chạ giao hiếu giữa 7 làng xã thuộc thị xã Đông Triều.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án của nghiên cứu sinh Kiều Đinh Sơn đạt được các đóng góp học thuật cụ thể:
- Đóng góp lý luận và phương pháp: Bổ sung tư liệu thực nghiệm cho chuyên ngành hẹp Khảo cổ học kiến trúc tại Việt Nam thông qua việc giải mã bình đồ tổng thể quy mô lớn của một phủ đệ thân vương và mặt bằng Thái Miếu hoàng gia thời Trần.
- Đóng góp về lịch sử và khảo cổ học:
- Chứng minh thuyết phục di tích đền An Sinh khởi nguồn là phủ đệ thời Trần (đầu thế kỷ XIII) chứ không phải ngôi đền xây dựng năm 1381 như giả thuyết cũ tồn tại nhiều thập kỷ; đồng thời làm rõ diễn trình chuyển đổi công năng từ phủ đệ sang hành cung và thành đền thờ thời Lê - Nguyễn.
- Xác định di tích Đền Thái trên Đồi Đình chính là dấu tích Thái Miếu hoàng gia thời Trần ở Đông Triều, khởi nguyên là Tổ Miếu của An Sinh vương.
- Cung cấp dữ liệu vật chất làm sáng tỏ bản chất cấu trúc quyền lực "phân tán" của chế độ quân chủ quý tộc thời Trần và giải mã nguyên nhân các triều đại Lê - Nguyễn phong tặng Trần Liễu thụy hiệu hoàng đế ("Khâm minh Thánh vũ Hiển đạo An Sinh hoàng đế").
- Đóng góp thực tiễn và quản lý di sản:
- Cung cấp hồ sơ khoa học chuẩn xác làm cơ sở cho công tác khoanh vùng bảo vệ, trùng tu và phát huy giá trị Khu di tích Quốc gia đặc biệt nhà Trần tại Đông Triều.
- Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn hỗ trợ việc xây dựng hồ sơ đề cử Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc trình UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa thế giới.
Kiến nghị và giải pháp bảo tồn:
- Áp dụng nguyên tắc bảo tồn nguyên gốc đối với các dấu vết nền móng kiến trúc xuất lộ (KT01 - KT17, hệ thống móng trụ, sân hoa chanh, chân tảng đá) bằng phương pháp lấp cát bảo tồn có kiểm soát hoặc xây dựng mái che khảo cổ học phục vụ tham quan chuyên đề.
- Áp dụng quan điểm bảo tồn thích ứng và bảo tồn giá trị để dung hòa không gian thực hành tín ngưỡng hiện đại với các hố khai quật khảo cổ, bảo tồn di sản vật thể song hành cùng lễ hội truyền thống và thiết chế văn hóa làng xã vùng Đông Triều.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Phạm vi khai quật khảo cổ chưa thể mở trọn vẹn do một phần dấu tích kiến trúc chính (như KT04, KT05, KT17) đang nằm trực tiếp phía dưới công trình đền An Sinh hiện hữu được xây dựng năm 1997 và 2020.
- Nguồn sử liệu đương đại thời Trần ghi chép trực tiếp về khu vực đền miếu An Sinh rất khan hiếm; các nguồn văn bia và thần tích hiện còn đều có niên đại muộn (thời Lê Trung hưng và thời Nguyễn), tạo nên độ trễ tư liệu nhất định khi phục dựng chi tiết đời sống nghi lễ thời Trần.
- Địa bàn cánh đồng Sinh mới chỉ dừng ở mức độ điều tra và khai quật thám sát diện tích nhỏ (300m²), chưa bóc tách hết toàn bộ mối liên hệ không gian giữa đền An Sinh và các công trình phụ trợ xung quanh.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục mở rộng diện tích thám sát và khai quật tại cánh đồng Sinh nhằm xác định giới hạn ranh giới bên ngoài của phủ đệ An Sinh xưa.
- Ứng dụng các phương pháp đo đạc phi phá hủy (như radar xuyên đất - GPR) tại các khu vực dưới nền công trình hiện hữu để hoàn thiện bản vẽ mặt bằng các kiến trúc KT04, KT05, KT17.
- Đẩy mạnh nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa cấu trúc phủ đệ - đền miếu An Sinh với các di tích cùng loại hình ở Hoàng thành Thăng Long, phủ Thiên Trường (Nam Định) và lăng miếu Long Hưng (Thái Bình).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Giới nghiên cứu và đào tạo: Các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các chuyên ngành Khảo cổ học, Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Văn hóa học, Lịch sử Kiến trúc và Mỹ thuật cổ. Phần khảo tả chi tiết kích thước móng trụ, kỹ thuật xử lý nền móng sét đồi đầm đá dăm, quy chuẩn bố trí bước gian và nghệ thuật lát sân ngói hoa chanh là tài liệu khảo cứu trực quan cho việc nhận diện kiến trúc thời Trần.
- Nhà quản lý di sản và chính sách: Ban Quản lý Khu di tích Nhà Trần tại thị xã Đông Triều, Bảo tàng Quảng Ninh, Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Quảng Ninh trong việc xây dựng quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo di tích và xây dựng phương án trưng bày bảo tàng tại chỗ.
- Dự án di sản quốc tế: Các chuyên gia tham gia hoàn thiện hồ sơ khoa học đệ trình UNESCO công nhận Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc là Di sản Thế giới.
Câu hỏi thường gặp
1. Căn cứ vào đâu luận án khẳng định đền An Sinh thời Trần có chức năng nguyên thủy là phủ đệ chứ không phải đền miếu?
Căn cứ vào quy mô và cấu trúc mặt bằng khảo cổ học phát hiện năm 2017: Quần thể gồm 26 công trình với các kiến trúc chính (KT01, KT02, KT03) rộng trên 700m², dài 56m, gồm 11 gian kết nối khép kín với các dãy hành lang (KT08, KT09, KT10), xen kẽ hệ thống sân vườn, bồn cây xanh (Sn01) và sân lát ngói hoa chanh (Sn02, Sn05). Cấu trúc liên hoàn, phục vụ sinh hoạt này mang đầy đủ đặc trưng của dinh thự phủ đệ của thân vương thời Trần, hoàn toàn khác biệt với cấu trúc không gian khép kín, trang nghiêm của đền miếu thờ tự.
2. Di tích đền Thái trên Đồi Đình có quy mô và tính chất như thế nào?
Di tích đền Thái phân bố trên phạm vi đồi tự nhiên rộng khoảng 2,1ha. Khai quật khảo cổ học các năm 2008-2010 trên diện tích hơn 5.000m² đã làm xuất lộ hệ thống móng trụ kiến trúc gỗ lớn lợp ngói mũi sen và đồ gốm cao cấp thời Trần. Di tích được xác định khởi nguyên là Tổ Miếu thờ tổ tiên do An Sinh vương Trần Liễu lập trên đất thang mộc, sau đó được triều đình nhà Trần tiếp nhận và tôn tạo thành Thái Miếu hoàng gia tại Đông Triều.
3. Vì sao triều Lê Trung hưng và triều Nguyễn lại tôn xưng Trần Liễu là hoàng đế ("Khâm minh Thánh vũ Hiển đạo An Sinh hoàng đế")?
Qua nghiên cứu văn bia chùa Ngọc Thanh và các bia ký thời Lê - Nguyễn tại đền An Sinh, triều đình Lê - Nguyễn thừa nhận truyền thống phụng thờ của cư dân địa phương đối với An Sinh vương. Do An Sinh vương là anh trưởng của vua Trần Thái Tông, thân phụ của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, lại là người có công khai phá và lập ấp thang mộc tại vùng đất cội nguồn của vương triều, nên hậu thế đã suy tôn ông ngang hàng với các hoàng đế nhà Trần trong không gian thờ tự tại An Sinh.
4. Khảo cổ học tại đền An Sinh đã phát hiện những đặc điểm kỹ thuật xây dựng tiêu biểu nào của thời Trần?
Khai quật làm xuất lộ kỹ thuật gia cố móng trụ cột bằng cách đào hố sâu trung bình 1m, kích thước 1,2-1,3m x 1,1-1,2m, đầm chặt nhiều lớp sét đồi xen kẽ đá dăm; kỹ thuật ghép ngói vỡ thành hoa văn hoa chanh lát nền sân; kỹ thuật xếp bồn cây hình chữ nhật bằng ngói nghiêng ở giai đoạn sớm và xếp bồn cây hình tròn bằng đá cuội ở giai đoạn muộn; cùng việc tái sử dụng gạch thời Bắc thuộc có hoa văn trám lồng để xây bó nền sân.
5. Thiết chế "dân tạo lệ" ở Đông Triều được ghi nhận qua những tư liệu nào?
Được ghi nhận trực tiếp trên văn bia Trùng tu bi ký (AS.BIA01, 1844), bia chùa Ngọa Vân (1707) trích chỉ dụ ngày 24/10 năm Chính Hòa thứ 10 (1689) của chúa Trịnh Căn, cùng 46 bản hương ước của các làng xã do EFEO sưu tầm năm 1938. Cư dân các làng xã (tiêu biểu như An Sinh, Đốc Trại) được triều đình miễn sưu thuế, tạp dịch để chuyên canh ruộng tạo lệ và thực hiện nghĩa vụ cúng tế, bảo vệ lăng miếu các vua Trần.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Kiều Đinh Sơn là công trình nghiên cứu khảo cổ học chuyên sâu và toàn diện về hệ thống đền miếu nhà Trần tại Đông Triều. Bằng phương pháp khảo cổ học kiến trúc kết hợp xử lý tư liệu liên ngành, tác giả đã giải mã cấu trúc mặt bằng của phủ đệ An Sinh và Thái Miếu hoàng gia trên Đồi Đình, đồng thời làm sáng tỏ diễn trình chuyển dịch chức năng của các di tích qua các triều đại Trần, Lê, Nguyễn. Những phát hiện vật chất của luận án cung cấp luận cứ thực nghiệm quan trọng làm sáng tỏ mô hình phân quyền thân tộc thời Trần và tạo cơ sở khoa học xác thực phục vụ công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa tại địa phương.