CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ THỰC VẬT HỌC CỦA CHI POLYGALA VÀ LOÀI POLYGALA KARENSIUM KURZ 1.Vài nét về thực vật học của chi Polygala trên thế giới và Việt Nam Trên thế giới Chi Polygala: Chi Polygala (chi Viễn chí) thuộc họ Polygalaceae (họ Viễn chí) được Carl Linaeus xác lập từ năm 1753 [4]. Polygala là chi lớn nhất trong họ Polygalaceae. Theo hệ thống phân loại của A.
Jakhtajan thì họ Polygalaceae nằm trong bộ Đậu (Fabales), phân lớp Hoa hồng (Rosidae), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) hay là lớp Hai lá mầm (Dicotyledone), của ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) hay là ngành Thực vật hạt kín (Angiospermae) trong giới Thực vật (Plantae) [4], [5]. Đặc điểm thực vật của chi Polygala Theo các tài liệu [1], [5] đặc điểm chi Polygala được mô tả như sau: Cây thảo hàng năm hoặc cây bụi, hiếm khi cây leo. Lá đơn, mọc so le, hiếm khi đối nhau hoặc vòng xoắn, có cuống lá; phiến lá mỏng, mép lá nguyên, có lông hoặc không. Chùm hoa tận cùng, mọc trong hoặc ngoài nách lá.
Hoa lưỡng tính, đối xứng 2 bên, có 1 - 3 lá bắc, có lá bắc con. Đài 5, không đều, xếp thành 2 vòng; vòng ngoài cùng là 3 lá đài nhỏ, vòng trong là 2 lá đài lớn hình cánh hoa. Tràng 3, hàn liền phần dưới, màu trắng/vàng hoặc tím đỏ, hình thuyền hoặc hình mũ bao quanh lấy các nhị. Nhị 8; chỉ nhị dính nhau tạo thành bao hình lòng máng, hở phía trên; bao phấn đính gốc, gồm 1 - 2 ô phấn, nứt dọc hoặc nứt lỗ.
Có hoặc không có đĩa tuyến mật. Bầu 2 ô, mỗi ô mang 1 dãy noãn đảo hoặc cong, 1 - 2 núm nhụy. Quả nang, tự mở, thường có cánh. Hạt 2, thường màu đen, hình trứng hoặc hình nêm, có hoặc không có lông, có mộng hạt.
Về số loài thuộc chi Polygala trên thế giới: Hiện chưa có thống kê đầy đủ về số loài thuộc chi Polygala. Theo hệ thống Cronquist, họ Polygalaceae được đặt trong một bộ riêng của chính nó với tên gọi Polygalales với ghi nhận số loài thuộc chi thực vật này có khoảng 500 loài [6].k; Ma Haiying; John A. Theo Paiva JA ghi nhận có khoảng 725 loài thuộc chi Polygala [7]. Trang chuyên khảo về thực vật The Plant List công bố có 3 khoảng 1554 loài được xếp vào chi Polygala.
Trong đó có 654 loài được chấp nhận tên khoa học, 251 loài có tên đồng danh. Số loài tên chưa được chấp nhận còn nhiều. Như vậy, có thể thấy, chi Polygala là một chi thực vật lớn nhất của họ Viễn chí (Polygalacea) với số lượng loài lớn trên thế giới. Phân bố chi Polygala trên thế giới Phân bố rộng rãi gần như khắp thế giới, ngoại trừ vùng ven Bắc cực, Nam Cực và New Zealand.
Có khoảng 137 loài Polygala ở Mexico, Trung Mỹ và Bắc Ấn Độ. Ở Châu Á, phân bố các loài Polygala cũng đa dạng và không đều giữa các quốc gia, có nước có nhiều loài như Trung Quốc có khoảng 44 loài, với 21 loài đặc hữu; có nước chỉ có 6 loài như Đài Loan [1],[9],[10],[11],[12]. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, người đầu tiên nghiên cứu phân loại họ Viễn chí – Polygalaceae là nhà thực vật học người Pháp F. Trong Fascicule 3 thuộc Flore Générale de L’Indo – Chine [13], theo Jame Premier chi Polygala ở toàn Đông Dương có 10 loài, trong đó ở Việt Nam ghi nhận 8 loài và thứ sau: Polygala cardiocarpa Kurz: Biên Hoà.
tonkinensis Chodat: Ba Vì, Ninh Bình. japonica Houtt: Ninh Bình. brachystachya DC: Ninh Bình. glometara Lour: Bắc Bộ, Nam Bộ.
laotica Gagnep: Bắc Bộ. macrostachya Gagnep: Ninh Bình. Như vậy, trong công bố [13] của Gagnepain F., khi đó chưa ghi nhận được loài Polygala karensium Kurz hay Polyaga tricornis Gagnep. Người thứ hai nghiên cứu thực vật họ Polygalaceae là Phạm Hoàng Hộ.
Năm 2000, trong quyển II bộ “Cây cỏ Việt Nam”, ông mô tả tóm tắt ở Việt Nam có 26 loài thuộc chi Polygala. Lưu ý rằng, ngoài 8 loài do Gagnepain F. công bố trước đây, Phạm Hoàng Hộ đã bổ sung 18 loài nữa; trong đó có loài Kích nhũ trắng (Polygala karensium Kurz) có hoa màu trắng, phân bố ở vùng cao 1500m ở tỉnh Phú Khánh cũ, và loài Kích nhũ ba sừng (Polygala tricornis Gagnep.) có hoa hồng hay trắng, phân bố ở vùng núi cao Sapa, Lào Cai, Tam Đảo, Vĩnh Phú, Đà Lạt, Lâm Đồng [2]. 4 Đến năm 2003, khi tổng hợp và rà soát lại các loài, để biên soạn “Danh mục các loài thực vật Việt Nam” tập 2, đối với họ Polygalaceae, Nguyễn Tiến Bân đã liệt kê ở Việt Nam thuộc chi Polygala có 24 loài và 4 thứ.
Tương tự như Phạm Hoàng Hộ (2000), Nguyễn Tiến Bân vẫn ghi nhận Polygala karensium Kurz và Polygala tricornis Gagnep là 2 loài độc lập khác nhau [3]. Như vậy xét về mặt thời gian, sau năm 2008, theo quan điểm hầu hết các nhà thực vật trên thế giới đều cho rằng loài Kích nhũ ba sừng (Polygala tricornis Gagnep. Gagnepain xác định vào năm 1909 chỉ là đồng danh của loài Kích nhũ trắng (Polygala karensium Kurz). Hai công trình về chi Polygala/ họ Polygalaceae của Phạm Hoàng Hộ (2000) [2] và của Nguyễn Tiến Bân (2003) [3] với quan điểm cho rằng 2 loài Polygala karensium Kurz và Polygala tricornis Gagnep.
là 2 loài độc lập khác nhau đều xuất bản trước “Flora of China”, Vol. Lưu ý rằng, tập thể tác giả biên soạn họ Polygalaceae trong Thực vật chí Trung Quốc, tập 11 bao gồm các nhà khoa học Trung Quốc và Mỹ. Do biên soạn sau, các tác giả này đã thu thập được các thông tin mới, nên ghi nhận loài Polygala karensium Kurz có một số đồng danh, trong đó có loài Polygala tricornis Gagnep. Phân bố của các loài thuộc chi Polygala ở Việt Nam Tra cứu các tài liệu, Đỗ Tất Lợi [8] mô tả có 7 loài Polygala ở Việt Nam, Võ Văn Chi [14] mô tả có 13 loài Polygala và Phạm Hoàng Hộ [2] mô tả có 25 loài Polygala ở Việt Nam.
Các tài liệu trên cho rằng, các loài Polygala phân bố ở nhiều vùng trải khắp đất nước từ miền Trung, vùng Tây Nguyên và miền Bắc Việt Nam. Trong đó hai khu vực Sa Pa, Lào Cai và Lâm Đồng với điều kiện riêng biệt về khí hậu được ghi nhận có sự tồn tại nhiều loài Polygala nhất. Khu vực Sa Pa, Lào Cai ghi nhận sự tồn tại của 5 loài P. mariesii và loài P.
Khu vực Lâm Đồng ghi nhận sự tồn tại của 7 loài là P. Phân bố của các loài thuộc chi Polygala ở Việt Nam được các tài liệu [2], [3], [8], [14] ghi nhận cụ thể như sau: Loài P. arvensis phân bố ở các tỉnh Kon Tum, Lâm Đồng, Bình Thuận. ciliata phân bố ở Đồng Nai.
chinensis phân bố ở vùng Ngọc Linh, Lâm Đồng (các huyện Lang Biang, Đơn Dương, Bảo Lộc). crotalarioides phân bố ở vùng rừng ở nhiều địa phương. erioptera phân bố ở các vùng Thừa Thiên Huế, Ninh Thuận, Lâm Đồng. mariesii phân bố ở Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Lào Cai (Sa Pa).
paniculata phân Gbố ở Lâm Đồng (Bảo Lộc, Di Linh, Lạc Dương, Đà Lạt). persicariaefolia phân bố ở các tỉnh Lâm Đồng, Kon Tum, Ninh Thuận. sibirica phân bố ở các tỉnh Thái Nguyên, Ninh Bình, Thanh Hóa, Lâm Đồng (Đà Lạt, Bảo Lộc). Vài nét về thực vật học loài Polygala karensium Kurz Loài Polygala karensium Kurz có tên gọi Việt Nam là Viễn chí ba sừng, kích nhũ ba sừng, kích nhũ trắng hay giả ba kích.
Trong số các loài đã biết thuộc chi Polygala, họ Polygalaceae thì Polygala karensium sớm được xác định và công bố bởi nhà thực vật học người Áo – Kurz Wilhelm Sulpiz trên Journal of the Asiatic Society of Bengal, part 2, Nat. Loài Viễn chí P. karensium Kurz này cũng được đề cập trong Flora of Thailand, Vol. Năm 2008, khi xuất bản Flora of China, Vol.
11 bằng tiếng Anh ở Trung Quốc và Mỹ, Chen S.K và Cs(2008) có khẳng định, loài Polygala karensium Kurz ở Trung Quốc có thêm một thứ nữa là Polygala karensium Kurz var. Như vậy, để tương đồng về bậc phân loại, loài gốc (Polygala karensium Kurz) người ta có thể viết là Polygala karensium Kurz var. Cũng trong tài liệu này các tác giả ghi kèm theo nhiều đồng danh của loài Viễn chí (Polygala karensium Kurz). congesta Reder et E.
Về phân loại, loài này thuộc chi Polygala L., họ Viễn chí (Polygalaceae), bộ Đậu (Fabales), phân lớp Hoa hồng (Rosidae), lớp Ngọc lan/lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida/Dicotyledones), ngành Ngọc lan/ngành Hạt kín (Magnoliophyta/ Angiospermae), giới Thực vật (Phylla) [1], [5]. Đặc điểm thực vật của loài Polygala karensium Kurz Tài liệu [14] mô tả cây Viễn chí ba sừng Polygala karensium Kurz: cây nhỏ cao đến 1m, nhánh non không lông. Lá có phiến thon, dài 10cm hay hơn, không lông, cuống có lông cứng. Chùm hoa ngắn; hoa trắng hay hồng hồng, cao 15-18mm; lá dài nhỏ, màu hồng, 6 xoan; mồng 2-3 tua; nhị 8; bầu không lông.
Quả nang dẹp, tròn, cao 5,5mm, có cánh; hạt 2. Ra hoa về mùa xuân đến mùa hè. Hình ảnh cây Viễn chí ba sừng Polygala karensium Kurz (ảnh chụp tại Sa Pa, 2015) Trang chuyên khảo về thực vật e.floras và tài liệu [1] mô tả cụ thể cây như sau: Viễn chí ba sừng còn được gọi là “mi hua yuan zhi” (密花远志 , phiên âm : mi hua yuan zhi, âm Hán Việt: mật hoa viễn chí), cây bụi cao 0,5-2 m. Cành non mỏng, có lông tơ, sau nhẵn.
Cuống lá dài 2-2,5 cm, nhẵn hoặc có lông cứng ngắn; phiến lá màu xanh lá, dạng mác hoặc dạng mác hơi elip, hiếm khi hình elip, kích thước 7-12 (-18) × 1,5-4 (-6) cm, có màng hoặc mỏng như giấy, xa trục nhẵn, gần trục có lông cứng ngắn, gân chính hướng về trục, gân bên gồm 6 hoặc 7 cặp nối nhau gần mép lá, gân nhỏ không rõ ràng, gốc lá nhọn, hiếm khi tròn, mép lá nguyên, đôi khi hơi gợn sóng, đỉnh lá nhọn. Chùm hoa mọc đầu hoặc nách, 4-5 cm, 10 cm khi có quả, có lông tơ, sau nhẵn; lá bắc con hình tam giác khoảng 5 mm. Hoa dày, lớn, 2-2,5 cm. Đài hoa 5 cánh, không đều, dễ rụng khi nở hoa; 3 cánh ngoài nhỏ, cánh cao hơn cụp vào trong, kích thước khoảng 4 mm, đỉnh tù; 2 cánh trong có hình cánh hoa giống hình trứng ngược, kích thước khoảng 16-19 x 5 mm, gốc nhọn, đỉnh tròn.
Tràng hoa 3 cánh, đính dưới ¾, màu trắng pha hồng tím, trong suốt. Cánh bên thuôn, 2-2,5 cm, đỉnh cụt hoặc tròn, cánh thìa dạng mũ trùm, đỉnh có phần phụ 2 bó hoặc 2-3 thùy. Nhị 8, chỉ nhị dài 2-2.2 cm, đính dưới ¾; bao phấn dạng trứng. Đế hoa hình khuyên.
Bầu nhuỵ dạng trứng, đường kính khoảng 2 mm; vòi nhụy dài 1,7-1,8 cm, từ gốc đến đỉnh mở rộng dần và cong; núm nhuỵ hình môi.