Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về nhiễm trùng huyết 1. Định nghĩa Thuật ngữ nhiễm trùng huyết được giới thiệu lần đầu tiên bởi Hippocrates vào năm 660-370. Năm 1865 Ignaz Semmelweis là nhà nghiên cứu đầu tiên có một cái nhìn tổng thể về bệnh này.
Đến năm 1895 nhà hóa học người Pháp Louis Pasteur đã khám phá ra các vi khuẩn trong máu là nguyên nhân gây nên bệnh nhiễm trùng huyết [21]. Năm 1914, định nghĩa hiện đại đầu tiên về nhiễm trùng huyết được phát biểu bởi nhà vi trùng học người Đức Hugo Schottmuller (1867-1936): “Nhiễm trùng huyết xuất hiện khi có một ổ nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra hình thành và phát triển trong cơ thể, sau đó các nhân tố vi khuẩn này xâm nhập vào máu và gây nên các triệu chứng của bệnh” [51]. Từ đó về sau, định nghĩa nhiễm trùng huyết đã trải qua một quá trình phát triển và hoàn thiện đáng kể. Do đặc điểm phức tạp của nhiễm trùng huyết, Hội nghị quốc tế về nhiễm trùng huyết năm 2005 đã thống nhất đưa ra các định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm trùng huyết ở trẻ em như sau [4], [24]: - Hội chứng đáp ứng viêm toàn thân (Systemic inflammatory response syndrome: SIRS): có ít nhất 2 trong 4 tiêu chuẩn sau, 1 trong 2 tiêu chuẩn bắt buộc là có bất thường về thân nhiệt hoặc bạch cầu máu ngoại vi: + Nhiệt độ trung tâm >38,5oC hay <36oC.
+ Nhịp tim nhanh so với tuổi khi không có các kích thích bên ngoài, thuốc, kích thích đau hay nhịp tim nhanh kéo dài trong thời gian 0,5-4 giờ mà không giải thích được, hoặc nhịp tim chậm ở trẻ nhũ nhi khi không có kích 4 thích phó giao cảm, thuốc ức chế β, bệnh tim bẩm sinh, hoặc nhịp tim chậm không rõ nguyên nhân trong thời gian 30 phút. + Nhịp thở nhanh so với tuổi hay thông khí cơ học do bệnh lý cấp và không do bệnh lý thần kinh cơ hay gây mê. + Bạch cầu tăng hay giảm theo tuổi (giảm bạch cầu không do điều trị bằng hóa trị) hay bạch cầu non >10%. - Nhiễm trùng: đáp ứng viêm đối với tác nhân vi sinh vật, được xác định hay gợi ý qua một trong các tiêu chí sau: + Cấy máu dương tính.
+ Soi nhuộm Gram hay PCR phát hiện phân tử di truyền vi khuẩn hoặc cấy mọc vi khuẩn trên mẫu bệnh phẩm. + Tăng bạch cầu trong dịch cơ thể vô trùng (dịch ổ bụng, màng phổi, dịch não tủy,. + Có ổ nhiễm trùng gợi ý: từ đường tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu, gan mật, da,…trên lâm sàng hay chẩn đoán hình ảnh (Xquang, siêu âm). - Nhiễm trùng huyết: hội chứng đáp ứng viêm toàn thân, nguyên nhân do nhiễm trùng.
- Nhiễm trùng huyết nặng: nhiễm trùng huyết kèm rối loạn chức năng cơ quan tim mạch hoặc hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS: acure respiratory distress syndrome) hoặc rối loạn chức năng ít nhất 2 cơ quan trong số các cơ quan còn lại. - Sốc nhiễm trùng: nhiễm trùng huyết kèm rối loạn chức năng cơ quan tim mạch. - Hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan: rối loạn chức năng 2 cơ quan trở lên. Cơ chế bệnh sinh Nhiễm trùng huyết là quá trình rối loạn phức tạp liên quan nhiều cơ chế khác nhau, tương tác lẫn nhau, bao gồm các cơ chế gây viêm, kháng viêm, bổ thể, và rối loạn đông máu…[24] Viêm là quá trình chống lại tình trạng nhiễm trùng, tại nơi tổn thương tế bào nội mạc gắn các hóa chất để thu hút bạch cầu và bạch cầu đa nhân được hoạt hóa kết dính với bờ nội mạc.
Đại thực bào thoát mạch và di chuyển đến nơi tổn thương để thực bào mô chết và vi trùng [55]. Quá trình viêm tại chỗ được điều hòa chủ yếu bởi các cytokin của đại thực bào, đây là các chất được tiết ra bởi đại thực bào hoạt hóa quá trình xâm nhập của vi trùng như TNF-α, IL-1, IL-2, IL-6, IL-8 , IL-10, yếu tố hoạt hóa tiểu cầu, interferon…[62]. Nhiễm trùng huyết có sự đáp ứng viêm quá mức và kéo dài không tự kiểm soát được, gây ra do các chất lưu thông trong tuần hoàn. Mô tổn thương phóng thích đồng thời các chất gây viêm và kháng viêm, sự cân bằng của các chất này giúp mô phục hồi và khi phá hủy sự cân bằng này, các chất trung gian tác động toàn thân gây tổn thương mô.
Sự hoạt hóa các chất gây viêm làm tổn thương nội mạc, rối loạn chức năng vi mạch, giảm cung cấp oxy cho mô và suy cơ quan, hậu quả là giảm năng lượng và ức chế miễn dịch. Các cytokin gây viêm quan trọng trong nhiễm trùng huyết là TNF-α và IL-1 [17], [64]. Vi trùng, độc tố hay sản phẩm của vi trùng có ảnh hưởng đến cơ chế bệnh sinh trong nhiễm trùng huyết. Sự gia tăng nội độc tố liên quan đến tình trạng sốc và suy cơ quan.
Các chất tiết, nhung mao, chiên mao của vi trùng giúp nó bám dính vào mô và phát triển tăng về số lượng. Khi đủ số lượng để phản ứng lại cơ chế bảo vệ tại chỗ, vi trùng tăng tổng hợp và phóng thích các yếu tố gây độc, khả năng xâm nhập vào cơ thể tùy vào số lượng và chất lượng của các chất độc tạo ra. Vi trùng sẽ tối đa hóa và duy trì lượng chất độc này, vượt qua tế bào biểu mô xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm trùng [24] 6 Rối loạn đông máu là một bất thường quan trọng trong nhiễm trùng huyết. Nội độc tố của vi trùng kích thích tế bào nội mô và yếu tố tổ chức gây hoạt hóa chuỗi phản ứng đông máu, fibrinogen chuyển thành fibrin tạo thành những cục máu đông trong vi tuần hoàn làm nặng thêm các tổn thương tại tổ chức.
Các yếu tố chống đông máu như antithrombin III, protein C, protein S, chất ức chế con đường yếu tố mô, yếu tố tổ chức có tác dụng điều hòa quá trình đông máu. Vi trùng, độc tố và cytokin làm giảm nồng độ của protein C, protein S, antithrombin III và chất ức chế con đường yếu tố mô. TNF-α và Lipopolysaccharid làm suy yếu quá trình tổng hợp protein C và làm giảm quá trình tiêu sợi huyết. Trên lâm sàng biểu hiện huyết khối hay chảy máu nhiều nơi, góp phần làm suy chức năng cơ quan.
Khi tiểu cầu <50.000/mm3 thì nguy cơ chảy máu cao hơn [8], [24]. Lâm sàng và cận lâm sàng trong nhiễm trùng huyết 1. Lâm sàng Sốt là triệu chứng rất thường gặp có thể kèm theo rét run hoặc không, những trường hợp nặng có thể hạ thân nhiệt. Bệnh nhân có thể có các triệu chứng đi kèm như mệt mỏi, chán ăn, quấy khóc, gan lách to, ban xuất huyết, bầm máu, hồng ban, vẻ mặt nhiễm trùng….
Nhịp tim nhanh theo lứa tuổi hoặc nhịp tim chậm ở trẻ dưới 1 tuổi, thở nhanh, thay đổi tình trạng ý thức [55]. Triệu chứng ổ nhiễm trùng khởi điểm (tiêu điểm nhiễm trùng) - Nhiễm trùng đường tiêu hóa như viêm ruột, áp xe gan, viêm túi mật, viêm đại tràng, thủng ruột hay các ổ áp xe khác, viêm phúc mạc… - Nhiễm trùng đường hô hấp dưới như viêm phổi, viêm mủ màng phổi, áp xe phổi… - Nhiễm trùng da, niêm mạc như nhọt, bóng nước, áp xe ở da, vết thương, vết trầy xước bị nhiễm trùng, bỏng… 7 - Nhiễm trùng từ đường tim mạch như viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, áp xe cơ tim, áp xe cạnh van tim…[24]. - Nhiễm trùng đường tiết niệu sinh dục như viêm đài bể thận, áp xe thận, sỏi thận có biến chứng… - Nhiễm trùng từ các đường truyền tĩnh mạch, các catheter mạch máu, thiết bị nhân tạo… Ngoài ra bệnh nhân có thể có các triệu chứng của rối loạn chức năng cơ quan như khó thở, tím tái, hạ huyết áp, vàng da, tiểu ít, xuất huyết…[67]. Các thể lâm sàng của nhiễm trùng huyết gồm nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng huyết nặng và sốc nhiễm trùng, đây cũng chính là 3 giai đoạn diễn tiến nặng dần của bệnh từ nhiễm trùng huyết đến nhiễm trùng huyết nặng và sốc nhiễm trùng.
Ở giai đoạn càng nặng thì khả năng tổn thương cơ quan càng nhiều và nguy cơ tử vong cao [24]. Cận lâm sàng trong nhiễm trùng huyết 1. Công thức máu Tăng bạch cầu, tăng neutrophil, tăng tỉ lệ bạch cầu non (band neutrophil) là những kết quả thường gặp. Tăng bạch cầu chỉ gợi ý nhiễm trùng, không giúp khẳng định hay loại trừ chẩn đoán.
Cũng có thể bạch cầu và neutrophil giảm trong nhiễm trùng huyết. Phết máu ngoại biên có thể Dohle, hạt độc, không bào thì tăng khả năng chẩn đoán do nhiễm trùng [65]. Giá trị hematocrit (Hct) <30% có thể phải truyền máu, do đó cần lặp lại xét nghiệm này nhiều lần. Khi có giảm thể tích tuần hoàn, Hct thường tăng nhưng Hct sẽ giảm dần khi hồi sức bằng dịch [24].
Tiểu cầu giảm là một dấu hiệu của rối loạn đông máu. Khi tiểu cầu giảm <50.000/mm3 thì nguy cơ chảy máu cao hơn. Giảm tiểu cầu thường kết hợp với suy cơ quan và tử vong [35], [58]. C-Reactive Protein (CRP) Là một protein phản ứng, tăng trong giai đoạn cấp ở hầu hết bệnh nhân có tình trạng viêm, nhiễm trùng hay tổn thương mô.
Quá trình tổng hợp CRP ở tế bào gan (phần lớn) và đại thực bào phế nang chịu ảnh hưởng của các cytokin. Khi có tình trạng viêm, sự tổng hợp CRP tăng trong 4-6 giờ, tăng gấp đôi mỗi 8 giờ, đạt nồng độ đỉnh sau 35-50 giờ. Nếu quá trình viêm chưa chấm dứt, CRP tiếp tục gia tăng, nhưng một khi tình trạng viêm giảm, nồng độ CRP giảm nhanh chóng vì thời gian bán hủy ngắn (4-7 giờ) [24], [56]. Không thể dùng CRP để phân biệt tình trạng viêm do nhiễm khuẩn hay hội chứng đáp ứng viêm toàn thân do nhiễm khuẩn hay không do nhiễm khuẩn.
Tuy nhiên CRP hữu ích trong việc theo dõi và điều trị nhiễm khuẩn bằng kháng sinh [24], [56]. PCT tăng cao và kéo dài là yếu tố tiên lượng xấu trong các trường hợp nhiễm trùng tại khoa săn sóc tích cực. Theo cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm của Hoa Kỳ hiện đã chấp nhận PCT cùng các xét nghiệm khác kết hợp với lâm sàng để đánh giá nguy cơ diễn tiến đến nhiễm trùng huyết nặng và sốc nhiễm trùng ở những bệnh nhân nặng trong ngày đầu nhập khoa săn sóc tích cực. Cũng theo cơ quan này khi PCT >2ng/mL là có nguy cơ cao và khi <0,5ng/mL là có nguy cơ thấp [24].
Cấy máu và cấy các bệnh phẩm khác Đây là xét nghiệm quan trọng giúp xác định tác nhân gây bệnh và lựa chọn kháng sinh thích hợp. Tuy nhiên tỉ lệ cấy máu dương tính thường thấp, trung bình khoảng 5-15% ở bệnh nhân có hội chứng nhiễm trùng [24], [56]. 9 Cấy máu thực hiện trước khi dùng kháng sinh.