Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị sỏi bể thận nhiều viên bằng phương pháp nội soi sau phúc mạc tại cần thơ năm 2021 2022

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị sỏi bể thận bằng nội soi tại Cần Thơ năm 2021-2022, cung cấp thông tin hữu ích cho y học.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Chuyên Khoa Cấp II

2021-2022

134
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược về giải phẫu học thận và khoang sau phúc mạc

1.2. Bệnh lý sỏi thận

1.3. Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc

1.4. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

3.3. Đánh giá kết quả điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

4.3. Đánh giá kết quả điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu điều trị sỏi bể thận tại Cần Thơ

Nghiên cứu điều trị sỏi bể thận bằng phương pháp nội soi tại Cần Thơ trong giai đoạn 2021-2022 đã chỉ ra những đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng quan trọng. Sỏi thận là một bệnh lý phổ biến, ảnh hưởng đến nhiều người, đặc biệt là ở độ tuổi từ 30 đến 50. Việc áp dụng các phương pháp điều trị ít xâm lấn như phẫu thuật nội soi đã mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân sỏi bể thận

Nghiên cứu đã khảo sát đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mắc sỏi bể thận. Các triệu chứng thường gặp bao gồm đau quặn thận, tiểu ra máu và nhiễm trùng đường tiết niệu. Đặc biệt, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao hơn nữ giới, với nhiều yếu tố nguy cơ như chế độ ăn uống và di truyền.

1.2. Tình hình nghiên cứu sỏi thận tại Việt Nam

Tình hình nghiên cứu về sỏi thận tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao, đặc biệt ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sỏi thận chiếm tỷ lệ lớn trong các bệnh lý tiết niệu, với nhiều phương pháp điều trị được áp dụng.

II. Thách thức trong điều trị sỏi bể thận bằng phương pháp nội soi

Mặc dù phương pháp nội soi mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong quá trình điều trị sỏi bể thận. Các biến chứng có thể xảy ra trong quá trình phẫu thuật, như tổn thương các tạng lân cận và nguy cơ nhiễm trùng. Việc đánh giá chính xác tình trạng bệnh nhân trước khi phẫu thuật là rất quan trọng.

2.1. Các biến chứng thường gặp trong phẫu thuật nội soi

Các biến chứng trong phẫu thuật nội soi có thể bao gồm chảy máu, nhiễm trùng và tổn thương các tạng lân cận. Việc nhận diện sớm và xử lý kịp thời các biến chứng này là rất cần thiết để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

2.2. Đánh giá tình trạng bệnh nhân trước phẫu thuật

Đánh giá tình trạng lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân trước khi thực hiện phẫu thuật nội soi là rất quan trọng. Các xét nghiệm như siêu âm, CT scan giúp xác định kích thước và vị trí của sỏi bể thận, từ đó đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

III. Phương pháp nội soi điều trị sỏi bể thận hiệu quả

Phương pháp nội soi đã được áp dụng rộng rãi trong điều trị sỏi bể thận. Kỹ thuật này không chỉ giúp giảm thiểu đau đớn cho bệnh nhân mà còn rút ngắn thời gian hồi phục. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành công của phương pháp này rất cao, với ít biến chứng.

3.1. Quy trình phẫu thuật nội soi sau phúc mạc

Quy trình phẫu thuật nội soi sau phúc mạc bao gồm việc tạo khoang sau phúc mạc, đưa dụng cụ vào và lấy sỏi ra. Kỹ thuật này giúp giảm thiểu tổn thương cho các tạng lân cận và mang lại hiệu quả cao trong điều trị.

3.2. Lợi ích của phương pháp nội soi trong điều trị sỏi thận

Phương pháp nội soi mang lại nhiều lợi ích như giảm đau, thời gian nằm viện ngắn và ít biến chứng. Bệnh nhân có thể hồi phục nhanh chóng và trở lại cuộc sống bình thường sau phẫu thuật.

IV. Kết quả nghiên cứu điều trị sỏi bể thận tại Cần Thơ

Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp nội soi đã đạt được tỷ lệ thành công cao trong điều trị sỏi bể thận. Nhiều bệnh nhân đã hồi phục tốt và không gặp phải biến chứng nghiêm trọng. Điều này khẳng định hiệu quả của phương pháp này trong thực tiễn.

4.1. Tỷ lệ thành công và biến chứng sau phẫu thuật

Tỷ lệ thành công của phương pháp nội soi trong điều trị sỏi bể thận lên đến 90%. Các biến chứng xảy ra chủ yếu là nhẹ và có thể xử lý kịp thời, cho thấy tính an toàn của phương pháp này.

4.2. Đánh giá sự hồi phục của bệnh nhân

Đánh giá sự hồi phục của bệnh nhân sau phẫu thuật cho thấy hầu hết bệnh nhân đều hồi phục nhanh chóng, không gặp phải các vấn đề nghiêm trọng. Điều này cho thấy phương pháp nội soi là lựa chọn tối ưu cho bệnh nhân mắc sỏi bể thận.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong điều trị sỏi bể thận

Nghiên cứu điều trị sỏi bể thận bằng phương pháp nội soi tại Cần Thơ đã mở ra nhiều triển vọng trong việc điều trị bệnh lý này. Các phương pháp mới và kỹ thuật tiên tiến sẽ tiếp tục được nghiên cứu và áp dụng để nâng cao hiệu quả điều trị.

5.1. Tương lai của phương pháp nội soi trong điều trị sỏi thận

Phương pháp nội soi sẽ tiếp tục được cải tiến với các công nghệ mới, giúp nâng cao hiệu quả và giảm thiểu biến chứng. Nghiên cứu thêm về các kỹ thuật mới sẽ giúp cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

5.2. Khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị mới và cải tiến kỹ thuật nội soi. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân mắc sỏi bể thận.

09/07/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị sỏi bể thận nhiều viên bằng phương pháp nội soi sau phúc mạc tại cần thơ năm 2021 2022

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược về giải phẫu học thận và khoang sau phúc mạc 1. Sơ lược về giải phẫu học thận 1. Vị trí và hình thể ngoài Thận là các cơ quan sau phúc mạc, nằm phía trên thành sau bụng, ở hai bên cột sống, thận bên phải thấp hơn thận bên trái.

Cực trên thận ngang mức đốt sống D11 (bên trái ngang bờ trên D11, bên phải ngang bờ dưới D11). Cực dưới thận ngang mức mỏm ngang đốt sống L3, cách mào chậu 3-5cm (bên trái ngang bờ trên L3, bên phải ngang bờ dưới L3) [9], [31]. Vị trí hai thận: mặt phẳng đứng ngang. (“Nguồn: Anatomy of the kidney and ureter”[41] ) Thận có màu nâu đỏ và được bao bọc trong bao xơ mịn.

Ở người trưởng thành thận có kích thước: cao khoảng 12cm, rộng 6cm, dầy 3cm. Mỗi 4 thận có trọng lượng trung bình 130-135 gram. Bao thận áp sát vào vỏ thận, có thể dễ dàng tách khỏi vỏ thận. Ngoài bao thận là lớp mỡ quanh thận, bao quanh lớp mỡ quanh thận là cân Gerota [9], [41].

Vị trí hai thận: mặt phẳng đứng ngang minh họa cực trên 2 thận hơi nghiêng về giữa. Mặt phẳng đứng dọc minh họa cực dưới của thận hơi hướng về phía trước. Liên quan Mặt trước: có sự khác biệt giữa bên phải và bên trái [41] Đối với thận phải: liên quan đến đoạn D2 tá tràng. Phía dưới mặt trước liên quan đoạn đại tràng góc gan.

Các cấu trúc này nâng phúc mạc lên khỏi mặt trước của thận. Cực trên liên quan với tuyến thượng thận phải. Phần bên ngoài của mặt trước được bao phủ bởi phúc mạc và mặt tạng của gan, ở giữa là rãnh Rutherford Morison của khoang phúc mạc. Đối với thận trái: rốn thận trái và mặt trước được che phủ bởi thân tụy 5 và mạch máu của lách.

Phía dưới mặt trước liên quan với đoạn đại tràng góc lách. Tụy và đại tràng góc lách nâng phúc mạc khỏi mặt trước thận. Liên quan đến cực trên là tuyến thượng thận trái (Hình 1. Một phần ba trên mặt trước liên quan mặt trong của lách và mặt sau đáy vị.

Mặt trước thận trái và các cấu trúc liên quan nằm ngay sau túi mạc nối, do đó tạo thành giường dạ dày. Mặt sau: liên quan phía sau là như nhau ở 2 thận. Mỗi thận liên quan với dây thần kinh dưới sườn, chậu-bẹn, chậu hạ vị và nằm trên một “giường” cơ gồm cơ thắt lưng chậu (cơ Psoas) ở giữa, cơ ngang bụng ở bên, cơ vuông thắt lưng ở sau và cơ hoành ở trước. Phía sau trên thận và được ngăn cách với thận qua cơ hoành là góc sườn-hoành màng phổi, qua đây thận liên quan phía sau với xương sườn thứ 12 ở bên phải, xương sườn thứ 11 và 12 ở bên trái [31], [41].

Phía trong: liên quan với tĩnh mạch chủ dưới bên phải và động mạch chủ bụng bên trái [41]. Cấu tạo của thận Nhu mô thận được chia thành 2 vùng: Vùng tủy chứa các tháp Malpighi, mỗi tháp tương ứng với mỗi đài nhỏ. Trong đó chứa hệ thống ống góp trước khi đổ vào đài thận. giữa các tháp Malpighi là tổ chức khe thận bao gồm mạch máu, thần kinh và bạch huyết.

Vùng vỏ thận là nơi chứa các đơn vị chức năng thận (nephron). Mỗi thận chứa 1-1,5 triệu nephron. Cuống thận dài từ 2-9cm. Nằm trong cuốn thận bao gồm: động mạch thận, tĩnh mạch thận, thần kinh, bạch huyết.

Trong đó tĩnh mạch nằm dưới trước động mạch [9]. Giải phẫu thận. Phân chia hệ thống đài bể thận Chiếm phần lớn xoang thận là bể thận. Bể thận được hình thành bởi sự hợp lưu của hai hoặc ba đài thận lớn.

Mỗi đài thận lớn được hình thành bởi sự hợp lưu của một số đài thận nhỏ. Mỗi đài thận nhỏ bao quanh ba hoặc bốn nhú thận thải nước tiểu vào đài thận nhỏ. Bể thận tiếp nối với niệu quản ở đầu xa [41]. Bể thận hình phễu, có dung tích 3-5 ml nếu tăng áp lực đột ngột trong bể thận hay đài thận gây cơn đau quặn thận.

Bể thận chia thành 2 phần là bể thận trong xoang và bể thận ngoài xoang, ngăn cách hai phần đó là rốn thận. Bể thận ngoài xoang nối với niệu quản ngang múc L2 đến mỏm ngang L3, gọi là khúc nối bể thận-niệu quản. Khúc nối bể thận niệu quản thường hay hẹp làm cản trở lưu thông nước tiểu gây ứ nước thận. Phẫu thuật phần bể thận ngoài xoang thường thuận lợi, trái lại phần bể 7 thận trong xoang bị nhu mô, động mạch và tĩnh mạch phân thùy che phủ kín nên bể thận trong xoang rất khó khăn [9].

Hệ thống động mạch thận * Phân chia động mạch thận: Khoảng 98% động mạch thận xuất phát trực tiếp từ động mạch chủ bụng ngay dưới động mạch mạc treo tràng trên (ngang sụn liên đốt L1-L2). Khoảng 67-78% mỗi thận có một động mạch tới cấp máu. Từ nguyên ủy, động mạch dài khoảng 3 cm đi trong cuốn thận, đi vào rốn thận, được kẹp giữa tĩnh mạch thận phía trước và bể thận phía sau. Đến rốn thận hệ thống động mạch chính của thận được phân làm 2 nhánh: nhánh trước và nhánh sau.

Động mạch thận phụ là những động mạch khi đi vào rốn thận, chỉ cung cấp máu cho một vùng thận; động mạch không đi vào rốn thận cấp máu cho một vùng thận là động mạch xiên hay động mạch cực. Tỷ lệ động mạch cực dao dộng khoảng 14,2%-31,7%, trong đó động mạch cực trên nhiều hơn cực dưới. *Phân chia động mạch thận ngoài rốn: Nhánh trước của động mạch thận chạy chếch xuống dưới và chia thành 3-5 nhánh. Khoảng 64,6% các nhánh này tỏa ra che kín mặt trước bể thận, sau đó mới đi vào rốn thận.

Nhánh sau động mạch thận có 2 đoạn: đoạn thứ nhất chạy ngang theo bờ trên của bể thận, sau đó động mạch này đổi hướng chạy thẳng xuống dưới, bắt chéo với mép sau rốn thận hình chữ X để vào xoang thận. Khi vào xoang thận chia thành 3-5 nhánh chi phối phân thùy sau. * Phân chia động mạch trong thận: Nhánh động mạch trước bể chia thành 3-4 nhánh bên và một nhánh cùng thường ở ngoài rốn thận, các ngành này che phủ kín mặt trước bể thận. Nhánh động mạch sau bể cũng tách ra thành 3-4 nhánh nhưng ở sâu trong xoang thận và chỉ che phủ kín một phần bể thận, do đó phẫu thuật vào mặt sau 8 bể thận ít nguy hiểm hơn mặt trước.

Các nhánh này là các động mạch phân thùy thận, mỗi động mạch phân thùy tách cho 6-10 động mạch thùy. Mỗi động mạch thùy đảm nhiệm một thùy hay một tháp Malpighi và vùng vỏ tương ứng. Các nhánh động mạch thận là các nhánh tận và các nhánh đi từ mặt trước và mặt sau thận sẽ gặp nhau ở diện vô mạch Brödel. Chọc dò vào thận ngang qua nhu mô ở mặt sau bên sẽ đi ngang qua diện vô mạch này, cho phép nong thành đường hầm và đưa dụng cụ soi vào mà tránh làm tổn thương các mạch máu.

(“Nguồn: Blandy’s urology 2019”[31]) 9 Động mạch thận là động mạch tận do đó khi tổn thương một nhánh động mạch sẽ gây hoại tử cả một vùng nhu mô cấp máu. Có sự thông nối giữa các mạch máu phân thùy thận với các mạch máu trong lớp mỡ quanh thận và vỏ bao thận. Xuất phát từ động mạch thận, động mạch cột sống lưng, động mạch mạc treo, động mạch chủ và động mạch sinh dục. Các động mạch này tạo nên vòng động mạch ngoài thận và kết hợp lại ở sau bể thận tạo thành vòng mạch máu sau bể thận.

Các động mạch ngoài thận nằm trong lớp mỡ quanh thận, khi bị tổn thương không gây hậu quả đáng kể cho nhu mô thận [9]. Hệ thống tĩnh mạch thận Máu từ mỗi tháp Malpighi và vùng vỏ tương ứng đổ vào tĩnh mạch thùy ở đỉnh tháp, các tĩnh mạch này nối thông với nhau tạo thành một hệ thống mao mạch quanh các cổ đài, sau đó chúng tập trung lại thành các tĩnh mạch phân thùy đi vào xoang thận. Tĩnh mạch phân thùy là các tĩnh mạch là các tĩnh mạch chính có thể tìm thấy xung quanh rốn thận, 2-3 tĩnh mạch chính hợp lại thành tĩnh mạch thận xung quanh rốn thận. Thường mỗi thận chỉ có 1 tĩnh mạch thận đổ vào tĩnh mạch chủ dưới [31], [41].

Thần kinh chi phối Thận là cơ quan có nhiều đơn vị thần kinh chi phối thứ hai sau tuyến thượng thận. Các dây thần kinh giao cảm tiền hạch xuất phát từ tủy ngực 8 đến thắt lưng 1 đi đến hạch thân tạng, hạch động mạch chủ-thận. Các sợi hậu hạch đến thận trong đám rối tự động theo động mạch thận. Chức năng của thần kinh tự động là vận động hệ thống mạch máu thận.

Hệ thống giao cảm gây co mạch, đối giao cảm gây dãn mạch [31]. Sơ lược về khoang sau phúc mạc 1. Định nghĩa khoang sau phúc mạc Khoang sau phúc mạc: kéo dài từ cơ hoành đến đường viền trên giới hạn tiểu khung. Kết cấu khoang sau phúc mạc là tổ chức tế bào bắt nguồn từ lá phúc mạc trước thành bụng sang hai bên thành.

Thành trước là mặt sau của gan (ứng với vùng gan không có phúc mạc phủ), thành sau của đại tràng lên và đại tràng xuống, một phần của tá tràng, đầu tụy. Đáng lưu ý là khoang sau phúc mạc có liên quan với góc mạc treo ruột và khoang giữa hai lá mạc treo ruột. Thành sau là mạc ngang phủ lên khối cơ thành bụng sau, gồm có: cơ thắt lưng lớn, cơ vuông thắt lưng, phần cân nguyên ủy của cơ ngang bụng. Ở hố chậu thì thành sau gồm 2 phần chậu của cơ thắt lưng lớn và cơ chậu.

Tại tiểu khung gồm cơ hình lê và cơ bịt trong. Thành bên là bờ ngoài của khối cơ vuông thắt lưng. Giới hạn dưới là hoành chậu được phủ bởi mạc chậu. Giới hạn trên là cơ hoành [11].

Các thành phần cấu trúc sau phúc mạc Khoang sau phúc mạc là không gian được giới hạn phía trước là thành sau phúc mạc, phía sau là mạc ngang, kéo dài từ cơ hoành đến eo chậu. khoang sau phúc mạc được chia thành ba khoang riêng biệt: khoang cạnh thận trước, cạnh thận sau và khoang quanh thận [32]. * Khoang cạnh thận trước được giới hạn: phía trước bởi thành sau phúc mạc và phía sau là cân thận trước. Trong khoang có đại tràng lên và xuống, quai tá tràng và tụy [32].

* Khoang cạnh thận sau được giới hạn ở phía trước bởi mạc thận sau, phía sau bởi mạc ngang và phía trong bởi cơ thắt lưng-chậu. Phía dưới, khoang cạnh thận sau mở vào khung chậu. Khoang cạnh thận sau không chứa các cơ quan và hầu như chỉ chứa mỡ [32]. 11 * Khoang quanh thận có hình nón ngược kéo dài từ mạc cơ hoành đến hố chậu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu điều trị sỏi bể thận bằng phương pháp nội soi tại Cần Thơ (2021-2022)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của phương pháp nội soi trong điều trị sỏi bể thận, một vấn đề sức khỏe phổ biến. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các kỹ thuật thực hiện mà còn đánh giá kết quả điều trị, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về lợi ích của phương pháp này, bao gồm giảm thiểu đau đớn và thời gian hồi phục nhanh chóng cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp điều trị liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản bằng phương pháp tán sỏi nội soi ngược dòng sử dụng năng lượng laser tại bệnh viện trường đại học y, nơi bạn có thể tìm hiểu thêm về các kỹ thuật nội soi khác trong điều trị sỏi.

Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi khoét chũm tiệt căn trong điều trị viêm xương chũm mạn tính tại bệnh viện trường đại học y dược cần thơ cũng có thể cung cấp cho bạn cái nhìn về ứng dụng của nội soi trong các lĩnh vực khác.

Cuối cùng, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu đặt điểm lâm sàng x quang và đánh giá kết quả ban đầu phẫu thuật thay khớp gối toàn phần điều trị thoái hóa khớp gối nặng tại bệnh viện trường đại học y dược cần thơ và bệnh để hiểu thêm về các phương pháp phẫu thuật hiện đại khác.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị hiện đại trong y học.