MỞ ĐẦU Sỏi đƣờng tiết niệu là bệnh lý hay gặp, tỉ lệ mắc bệnh chiếm từ 2-12% dân số, tần suất bệnh ở nam giới cao hơn nữ giới với tỉ lệ đƣợc báo cáo từ 11-13% ở nam và 5,6-7% ở nữ[20]. Mang lại gánh nặng lớn cho kinh tế quốc gia, ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống bệnh nhân. Đồng thời nếu không đƣợc điều trị kịp thời sẽ gây nhiều biến chứng nặng nề nhƣ giãn đài bể thận, thận to ứ nƣớc, nhiễm khuẩn đƣờng tiết niệu, suy thận. Sỏi niệu quản là bệnh lý thƣờng gặp, chiếm 25 – 30% trong các bệnh sỏi đƣờng tiết niệu.
Khoảng 80% sỏi niệu quản hình thành là từ thận di chuyển xuống, một số sỏi niệu quản sinh ra do dị dạng niệu quản: niệu quản phình to, niệu quản tách đôi, niệu quản sau tĩnh mạch chủ, …[2]. Tại Cần Thơ, theo nghiên cứu của Đàm Văn Cƣơng sỏi đƣờng tiết niệu chiếm 53,9% các bệnh lý tiết niệu, trong đó sỏi niệu quản chiếm 40,1% sau sỏi thận[15]. Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong y học, hiện nay có nhiều phƣơng pháp điều trị sỏi niệu quản. Trong đó, tán sỏi niệu quản qua nội soi ngƣợc dòng bằng Laser là kỹ thuật ƣu việt, đem lại hiệu quả tốt, giảm tối đa tác hại trên đƣờng tiết niệu, thời gian nằm viện ngắn.
Bệnh viện Bình Dân Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai phƣơng pháp tán sỏi niệu quản nội soi từ năm 1992 với tỉ lệ thành công 75,9% trên 129 bệnh nhân. Nguyễn Vũ Khả Ca và cộng sự năm 2012 nghiên cứu trên 71 bệnh nhân có sỏi niệu quản đoạn 1/3 dƣới đƣợc tán sỏi nội soi bằng Laser thấy tỷ lệ thành công 88,9%[12]. Tại Cần Thơ, Đặng Tấn Mẫn (2020) đã nghiên cứu điều trị sỏi niệu quản 1/3 trên bằng phƣơng pháp tán sỏi nội soi cho 51 bệnh nhân, tỉ lệ thành công 94,1% [29]. Kết quả điều trị sỏi có liên quan đến nhiều yếu tố: vị trí, kích thƣớc, thành phần hóa học của sỏi, …[24].
2 Hiện nay nhiều bệnh viện trong nƣớc đã triển khai kỹ thuật tán sỏi niệu quản qua nội soi, trang thiết bị tốt hơn và tỷ lệ thành công cũng cao hơn. Với sự phát triển công nghệ kích thƣớc máy soi ngày càng đƣợc cải tiến giúp phẫu thuật viên có thể tiếp cận sỏi niệu quản ở tất cả các vị trí nên chỉ định của tán sỏi nội soi ngày càng rộng rãi. Tại Bệnh viện Trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ bắt đầu áp dụng kỹ thuật tán sỏi niệu quản bằng ống soi bán cứng sử dụng năng lƣợng Laser từ tháng 09/2012 với mục đích phát triển ứng dụng các kỹ thuật mới có chất lƣợng trong điều trị cho bệnh nhân. Với mong muốn áp dụng kỹ thuật soi niệu quản tán sỏi với năng lƣợng Laser cho bệnh nhân địa phƣơng Đồng Tháp và để góp phần nghiên cứu tính an toàn, hiệu quả của phƣơng pháp này trong điều trị sỏi niệu quản cũng khảo sát một số yếu tố liên quan đến phƣơng pháp điều trị này chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản bằng phƣơng pháp tán sỏi nội soi ngƣợc dòng sử dụng năng lƣợng Laser tại Bệnh viện trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ năm 2021 – 2022” với các mục tiêu sau: 1.
Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân sỏi niệu quản đƣợc nội soi ngƣợc dòng tán sỏi bằng năng lƣợng Laser tại Trung tâm Tiết niệu và HIFU bệnh viện trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ năm 2021 – 2022. Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản bằng phƣơng pháp nội soi ngƣợc dòng tán sỏi sử dụng năng lƣợng Laser tại Trung tâm Tiết niệu và HIFU bệnh viện trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ năm 2021 – 2022. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lƣợc giải phẫu và sinh lí niệu quản 1.
Giải phẫu niệu quản 1. Hình dạng và vị trí niệu quản Niệu quản (NQ) là ống dẫn nƣớc tiểu từ bể thận xuống bàng quang (BQ). Niệu quản nằm sau phúc mạc, dọc hai bên cột sống thắt lƣng và ép sát vào thành bụng sau[4]. Chiều dài niệu quản trung bình từ 25 – 28 cm, đƣờng kính ngoài 4 – 5 mm, đƣờng kính trong 3 – 4 mm, khi niệu quản bị tắc có thể giãn rộng hơn, có khi lên đến 20 – 30 mm[47].
Có nhiều cách phân chia NQ Theo giải phẫu học: Niệu quản đoạn bụng: dài khoảng 12,5 – 14cm, nằm trên bờ trong của cơ thắt lƣng lớn (cơ này ngăn cách niệu quản với đỉnh mỏm ngang của các đốt sống L2 – L5) rồi bắt chéo chỗ phân đôi của động mạch chậu chung ở trƣớc khớp cùng chậu để vào chậu hông. Ở phía trƣớc, niệu quản phải đƣợc D2 tá tràng che phủ ở phần trên và phần còn lại nằm sau phúc mạc và ở phía sau ngoài tĩnh mạch chủ dƣới. Bắt chéo trƣớc niệu quản phải có các mạch tinh hoàn (hoặc buồng trứng), các mạch đại tràng phải và các mạch hồi – đại tràng. Niệu quản trái bắt chéo phía sau các mạch tinh hoàn (hoặc buồng trứng) và các mạch đại tràng trái sau đó đi qua mạc treo đại tràng sigma[4], [5].
Niệu quản đoạn chậu: dài khoảng 12,5 – 14cm, chạy trên thành bên của chậu hông, trƣớc động mạch chậu. Tới ngay trƣớc gai ngồi, niệu quản vòng ra trƣớc và vào trong để đi vào bàng quang. Ở nam, đoạn cuối của niệu quản lách 4 giữa mặt sau bàng quang và túi tinh để cắm vào bàng quang, ở đây niệu quản bắt chéo phía sau ống dẫn tinh. Ở nữ, khi rời thành chậu, niệu quản đi vào đáy dây chằng rộng.
Khi tới phần giữa dây chằng rộng, niệu quản bắt chéo phía sau động mạch tử cung, chỗ bắt chéo này cách cổ tử cung và thành âm đạo khoảng 1,5cm[4]. Niệu quản đoạn nội thành bàng quang chạy chếch qua thành bàng quang theo hƣớng vào trong, ra trƣớc và xuống dƣới với góc khoảng 900 đến 1350, dài trung bình khoảng 2cm. Cơ bàng quang có tác dụng nhƣ một cơ thắt và độ chếch của đoạn niệu quản nội thành có tác dụng nhƣ một van tại chỗ tận cùng của niệu quản. Để thuận lợi cho chẩn đoán điều trị, các nhà ngoại khoa chia niệu quản thành 3 đoạn trên, giữa, dƣới và sỏi ở vị trí nào thì gọi tên theo vị trí đó[4].
Niệu quản 1/3 trên: Từ khúc nối bể thận – niệu quản đến mào chậu. Niệu quản 1/3 giữa: Từ mào chậu đến đầu dƣới khớp cùng chậu. Niệu quản 1/3 dƣới: Nằm dƣới khớp cùng chậu. NQ 1/3 trên NQ 1/3 giữa NQ 1/3 dƣới Hình 1.
Phân chia niệu quản trên phim X – quang (Nguồn: Smith & Tanagho's general urology,19th, 2020)[54]. 5 Vị trí hai niệu quản cắm vào bàng quang cách nhau khoảng 2,5 cm khi bàng quang rỗng và 5 cm khi bàng quang đầy. Niệu quản trái dài hơn niệu quản phải khoảng 1cm tùy theo vị trí của hai thận, vì thận trái nằm cao hơn thận phải một đốt sống. Niệu quản nữ ngắn hơn niệu quản nam[7].
Đƣờng kính niệu quản khi căng vào khoảng 5 mm, có 3 chỗ hẹp: Khúc nối bể thận – niệu quản. Nơi niệu quản bắt chéo bó mạch chậu. Khúc nối niệu quản – bàng quang. Các chỗ hẹp này là nơi sỏi từ thận rơi xuống niệu quản bị kẹt lại gây cơn đau quặn thận.
Các vị trí hẹp của niệu quản (Nguồn: Oxford Handbook of Urology 4th edition, 2019)[59]. 6 Phần NQ bắt chéo động mạch chậu chung có thể thấy thành NQ đập nảy trên màn hình nội soi. Khi muốn đƣa máy soi qua mà tránh thƣơng tổn thành NQ cần xoay máy 180 độ quanh dây dẫn[4],[8]. Khi tới gần NQ đoạn trên sẽ nhận thấy cử động của NQ theo nhịp thở.
Mỗi khi hít vào cơ hoành đi xuống, thận bị đẩy xuống, bể thận và NQ đoạn trên cử động. Khúc nối giữa NQ cố định và NQ di động là đặc điểm nhận biết khi tới gần bể thận. Một dấu hiệu gờ lên của nếp niêm mạc nằm ở phía sau của quang trƣờng và nổi rõ khi hít vào, mất khi thở ra tƣơng ứng với NQ đoạn này [17]. Mối tƣơng quan giữa nội soi và giải phẫu học: NQ ngoằn ngoèo không có lợi đối với ống soi cứng, tuy nhiên đối với ống soi kích cỡ nhỏ hoặc ống soi mềm có thể vƣợt qua dễ dàng.
Những bệnh nhân nam, trẻ, phát triển cơ bắp thƣờng có khối cơ thăn lớn, làm cho NQ đoạn bụng bị đẩy về phía bụng gây khó khăn cho việc dùng ống soi cứng. Tuy nhiên ống soi mềm sẽ vƣợt qua dễ dàng và có thể tới tận bể thận[17]. Cấu trúc mô học của niệu quản Thành niệu quản dày khoảng 1mm có cấu trúc gồm 3 lớp: lớp niêm mạc, lớp cơ và áo ngoài (adventitial layer)[47],[67]. Lớp niêm mạc: + Lớp này liên tục với niêm mạc bể thận ở trên và niêm mạc bàng quang ở dƣới.
Lớp này đƣợc phân tầng đa dạng có khả năng chống lại môi trƣờng toan của nƣớc tiểu. Khi nội soi niệu quản ở tình trạng lòng niệu quản không giãn thì hình ảnh đại thể niệu mạc đƣợc thấy là các nếp gấp theo chiều dọc, trơn láng với các mạch máu nhỏ, mỏng manh. 7 + Lớp trong cùng ở niệu mạc bắt đầu bằng biểu mô chuyển tiếp, nằm dọc theo lòng ống niệu quản và trên màng mô liên kết (lamina propria). Bình thƣờng thì cắt ngang niệu quản có hình sao (stellate) (hình 1.3), nhƣng trong quá trình nhu động thì nó đƣợc giải nén và đƣợc tròn dần kèm căng với nƣớc tiểu.
Lá riêng (lamina propria) bao gồm các sợi collagen và các tế bào sợi, chứa nguồn vi mạch cấp máu cho thành niệu quản và các sợi dây thần kinh không myelin. Mặt phẳng cắt ngang niệu quản trên kính hiển vi quang học (Nguồn: Smith’s Textbook of Endourology, 4th, 2019) [47]. Lớp cơ: Lớp cơ mang các bó sợi cơ trơn kiểm soát nhu động niệu quản. Những bó cơ này đƣợc sắp xếp theo chiều dọc thành các lớp mỏng.
Tại từng đoạn của niệu quản thì lớp cơ này có độ dày khác nhau. Ở bụng, các lớp cơ là rất mỏng và hầu nhƣ không thấy trên kính hiển vi quang học. Trong khung chậu, hai lớp cơ đƣợc xác định rõ: lớp cơ vòng ở ngoài và lớp cơ dọc ở trong. Ngoài ra, đối với đoạn niệu quản chạy vào bàng quang thì lớp cơ dọc bên trong càng trở nên dày hơn, nổi bật hơn và cuối cùng góp phần vào các sợi cơ ở mặt đáy bàng quang để tạo thành tam giác bàng quang (trigone).
8 Lớp áo ngoài (adventitial layer): chứa đựng hai mạng lƣới mạch máu cung cấp máu cho thành niệu quản.