Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Quan ly chat lwong xét nghiém trong phan tich hoa sinh 1. Giới thiệu Chất lượng được định nghĩa là sự đáp ứng nhu cầu người sử dụng [26]. Định nghĩa này được áp dụng cho nhiều lĩnh vực trong đó có dịch vụ xét nghiệm y tế.
Nếu một kết quả xét nghiệm không đáp ứng được nhu câu bác sĩ, người bệnh (độ chính xác, độ đúng, về thời gian.) thì bị xem là địch vụ kém chất lượng, mặc dù kết quả đó được tạo ra từ một phòng xét nghiệm với nhiều trang thiết bị hiện đại với đội ngũ chuyên gia hàng đầu. Quá trình xét nghiệm bao gồm ba giai đoạn chính là trước phân tích, trong phân tích và sau phân tích. Giai đoạn trước phân tích bao gồm các hoạt động như chỉ định xét nghiệm, lay mẫu, vận chuyển và xử lý mẫu. Giai đoạn phân tích xét nghiệm là giai đoạn tác động trực tiếp đến kết quả xét nghiệm.
Tại giai đoạn này, nhân viên phòng xét nghiệm sẽ áp dụng các quy trình sử dụng sinh phẩm, máy xét nghiệm đã được xây dựng dé thực hiện xét nghiệm [8]. Tuy nhiên muốn có được kết quả xét nghiệm tốt thì cần phải thực hiện kiểm soát chất lượng thật tốt ở giai đoạn này. Kiểm soát chất lượng xét nghiệm trong phân tích là một phần của đảm bảo chất lượng trong quá trình xét nghiệm, tập trung vào kiểm soát sai sót trong trong phân tích xét nghiệm. Sau cùng của quá trình xét nghiệm là giai đoạn hậu phân tích bao gồm các nội dung báo cáo kết quả với lâm sàng và lưu hồ sơ kết quả xét nghiệm [10].
Các biện pháp kiếm soát chất lượng trong phân tích Mục đích của kiểm soát chất lượng trong phân tích là để phát hiện, đánh giá và khắc phục những sai sót trong hệ thống xét nghiệm do điều kiện môi trường hoặc do người thực hiện tạo ra trước khi báo cáo các kết quả của bệnh nhân. Đối với giai đoạn trong phân tích, các hoạt động quan trọng nhằm hạn chế sai sót đó là kết hợp thực hiện nội kiểm tra — (Internal Quality Control - IQC) và ngoai kiém tra — (External Quality Assessment - EQA). Nội kiểm tra chất lượng xét nghiệm se Giới thiệu Nội kiểm tra chất lugng (Internal Quality Control - IQC), goi tat là nội kiểm, là công cụ kiểm soát chất lượng hàng ngày trong nội bộ phòng xét nghiệm, được thực hiện bởi nhân viên của phòng xét nghiệm nhằm đánh giá liên tục các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng xét nghiệm, từ đó đi đến quyết định liệu kết quả xét nghiệm có đủ tin cậy trước khi trả cho bác sĩ lâm sàng hoặc bệnh nhân. Nội kiểm ra chất lượng là một phần của kiểm tra chất lượng (Quality Control - QC) nhằm góp phần vào công tác đảm bảo chất lượng (Quality Assurance - QA) [45].
Có nhiều cách để tiến hành nội kiểm tra, trong đó phương pháp sử dụng mẫu chuẩn đã biết trước nông độ là phương pháp được sử dụng phô biến nhất cho các xét nghiệm định lượng. Với phương pháp này, kết quả nội kiểm tra chất lượng các xét nghiệm định lượng được đánh giá thông bằng cach ap dụng các quy tắc chấp nhận và loại bỏ của Westgard trên biểu đồ Levey-Jenings (Hình 1. Biểu đô kiểm soát kết quả IQC — Levey Jennings © Thống kê kiểm soát chất lượng nội kiém [22], [46] Thông kê kiếm soát chat luong hay thong ké QC (Statistical Quality Control - SQC) 1a một quy trình trong đó các mẫu ôn định được đo lường và kết quả quan sát được so sánh với các giới hạn kiêm soát mà mô tả sự biên thiên mong đợi khi phương pháp đo lường hoạt động tốt. Thông kê nội kiêm là một công cụ được áp dụng rộng rãi cho rât nhiêu xét nghiệm và các hệ thông phân tích, nhưng chât lượng của việc thực hiện kiêm soát chât lượng van phụ thuộc vào sự có mặt của đội ngữ nhân viên co ky năng tốt và có thê sử dụng công cụ này để đảm bảo chât lượng kết quả xét nghiệm.
e Trị sô trung binh (Mean - X): Công thức tính: ` x Mean= X = — n Trong do: X: Trị sô trung bình x¡: Trị sô thu được của một lân thực hiện xét nghiệm n: Tổng số lần thực hiện xét nghiệm hay tông sô các trị số thu được. Giá trị trung bình cho một chât nội kiêm cung câp ước tính xu hướng trung tâm của sự phân bô theo mong đợi nêu sự thực hiện được ôn định. Mỗi thay đôi về độ chính xác, như là sự trượt hay lệch hệ thông, sẽ được phản ánh ở thay đối giá trị trung bình chât chứng. Luôn phải lưu ý răng giá trị trung bình găn liên với độ chính xác hay lỗi hệ thông còn độ lệch chuân găn VỚI độ chum va 16i ngau nhiên e Độ lệch chuẩn (Standard Deviation - SD) Công thức tính: Với n <30 > (x,- x)! SD = n— | Với n> 30 Trong đó X: Trị sô trung bình x¡: Trị sô thu được của một lân thực hiện xét nghiệm n: Tổng sô lần thực hiện xét nghiệm hay tông sô các trị số thu được.
Độ lệch chuẩn liên quan đến sự phân bô các kết quả nội kiêm xung quanh giá trị trung bình mong đợi. Nếu giá trị trung bình là chỉ thị xu hướng trung tâm và do đó liên quan đến độ chính xác hay lỗi hệ thông, thì độ lệch chuẩn là phép đo độ rộng sự phân bô và liên quan đến độ phân tán hay lỗi ngẫu nhiên. Độ lệch chuẩn cang lon, su phan bô càng rộng, lỗi ngẫu nhiên càng lớn, và độ chụm của phương pháp càng kém; độ lệch chuẩn càng nhỏ, sự phân bô càng hẹp, và độ chụm phương pháp càng tốt. e Hệ sô biên thiên (Coeficient of variation -CV%) Công thức tính: SD x 100 CV”o= Trong đó: CV%: Hệ sô biên thiên SD: Độ lệch chuân X: Trị sô trung bình.
Độ lệch chuân của một phương pháp thường thay đôi theo nông độ. tức là nông độ càng lớn thì độ lệch chuân càng lớn, do đó hệ sô biến thiên luôn là cân thiết đề đánh gia độ lệch chuẩn ở mỗi mức nông độ quan tâm. Bởi vì hệ SỐ biên thiên phản ánh tỉ sô giữa độ lệch chuân và giá trị trung bình, nó cung câp cách đánh giá chất lượng xét nghiệm phương pháp tốt hơn ở các khoảng nồng độ khác nhau. e Các quy tac Westgard kiểm soát kiểm tra chất lượng xét nghiệm [4] Các quy tắc Westgard được James Westgard đề nghị sử dụng.
Ông là giáo sư danh dự của khoa bệnh học và y học phòng thí nghiệm tại trường Đại học y khoa Wisconsin. Năm 1981, James Westgard đã công bố trên tạp chí hoá sinh lâm sàng một đề tài về kiểm tra chất lượng phòng xét nghiệm, ông đưa ra các quy tắc để đánh giá kết quả phân tích trong phòng xét nghiệm y khoa dựa trên biểu đồ kiểm soát chất lượng. Sau đây là các quy tắc Westgard đưa ra được áp dụng tại phòng xét nghiệm y khoa: Quy tắc 1›; Đây là quy tắc cảnh báo khi có một kết quả nội kiểm tra rơi vào khoảng giới hạn hay sai từ +2s đến +3s hoặc từ -2s đến -3s. Quy tắc này báo động răng sai số ngẫu nhiên hoặc sai số hệ thống có thê xảy ra trong xét nghiệm.
Khi bị vi phạm quy tắc này, phòng xét nghiệm không nhất thiết phải loại bỏ kết quả xét nghiệm trong cùng thời điểm phân tích với mẫu nội kiểm. Quy tac 13s Quy tac 13s, chi 4p dung cho một lần phân tích, khi có một kết quả nội kiểm tra chạm đường giới hạn +3s hoặc -3s trở lên. Quy tắc này giúp phát hiện sai số ngẫu nhiên hay có thê là dâu hiệu đầu của sai số hệ thống. Bất kỳ một kết quả nội kiểm tra nào rơi vào quy tắc này thì các xét nghiệm trong cùng thời điểm phân tích được xem là “kết quả không đạt”.
Quy tắc 22; Đây là quy tắc giúp phát hiện sai số hệ thống. Quy tắc này xảy ra trong hai trường hợp sau: - Trường hợp 1: trong cùng một thời điểm phân tích, kết quả nội kiểm tra của hai mức nông độ khác nhau cùng năm vê một bên so với đường trung tâm và rơi vào khoảng giới hạn từ +2s hoặc —2s trở lên. - Trường hợp 2: trong hai lần phân tích kế tiếp nhau có hai kết quả nội kiêm tra cùng mức nồng độ năm về một bên so với đường trung tâm và rơi vào khoảng giới hạn từ +2s hoặc — 2s trở lên. Quy tắc Ra, Quy tắc này giúp phát hiện sai số ngẫu nhiên, được áp dụng trong cùng thời điểm phân tích khi kết quả nội kiểm tra của 2 mức nông độ khác nhau cách nhau từ 4s trở lên, nghĩa là một kết quả vượt giới hạn từ +3s và một kết quả vượt giới hạn từ -2s trở lên.
Quy tắc 4i; Đây là quy tắc giúp phát hiện sai số hệ thống. Quy tắc này xảy ra trong hai trường hợp sau: - Trường hợp 1: bốn kết quả nội kiểm tra kế tiếp nhau ở cùng mức nông độ nằm một bên so với đường trung tâm và vượt giới hạn từ +1s hoặc -1s trở lên - Trường hợp 2: hai kết quả nội kiểm tra liên tiếp của hai mức nông độ khác nhau cùng năm về một bên so với đường trung tâm và vượt giới hạn tử +1s hoặc -1s trở lên. Quy tắc 6, Đây là quy tác phát hiện sai số hệ thống. Quy tắc này bị vi phạm trong hai trường hợp: - Trường hợp 1: sáu kết quả nội kiểm tra liên tiếp nhau của cùng mức nông độ nằm về một bên so với đường trung tâm.
- Trường hợp 2: ba kết quả nội kiểm tra liên tiếp nhau của hai mức nồng độ khác nhau nằm về một bên so với đường trung tâm. Các định nghĩa tương tự áp dụng cho quy luật 8;, 10;. Ngoại kiểm tra chất lượng xét nghiệm « Giới thiệu Ngoại kiểm tra chất lượng (External Quality Assessment - EQA), gọi tắt là ngoại kiểm, là một công cụ kiểm soát chất lượng quan trọng, nhằm đánh giá và giảm sát định kỳ việc thực hiện xét nghiệm của các phòng xét nghiệm tham gia chương trình ngoại kiểm nhằm không ngừng nâng cao chất lượng xét nghiệm, cung cấp băng chứng về độ tin cậy của kết quả xét nghiệm, đánh giá đặc tính của các phương pháp xét nghiệm, đồng thời là điều kiệm không thé thiếu khi đánh giá phòng xét nghiệm đạt chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn quốc tế [9]. Có 3 phương pháp thực hiện ngoại kiểm tra chất lượng chính: Thử nghiệm thanh thao (Proficiency testing — PT); Kiém tra lai/ phan tich lai (rechecking/ retesting); Đánh giá tại chỗ (On-site evaluation).