Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng kết quả điều trị suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính của phương pháp gây xơ bằng thuốc và laser nội tĩnh mạch

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả điều trị suy tĩnh mạch chi dưới bằng phương pháp gây xơ thuốc và laser nội tĩnh mạch.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng 108

Chuyên ngành

Nội tim mạch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2017

174
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI MẠN TÍNH

1.1.1. Định nghĩa suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính

1.1.2. Dịch tễ học suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính

1.1.3. Giải phẫu hệ tĩnh mạch chi dưới

1.1.4. Bệnh sinh suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính

1.1.5. Lâm sàng của suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính

1.1.6. Cận lâm sàng của suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính

1.2. ĐIỀU TRỊ SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI MẠN TÍNH

1.2.1. Nguyên tắc điều trị

1.2.2. Các phương pháp điều trị

1.3. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ ĐIỀU TRỊ SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI MẠN TÍNH

1.3.1. Điều trị suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính ở nước ngoài

1.3.2. Điều trị suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính ở trong nước

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ: Theo Hội Tĩnh mạch châu Âu 2012

2.1.3. Các nhóm nghiên cứu

2.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Đạo đức nghiên cứu

2.2.3. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.2.4. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG

3.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI MẠN TÍNH

3.2.1. Đặc điểm lâm sàng

3.2.2. Đặc điểm siêu âm Duplex suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính

3.3. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA PHƯƠNG PHÁP GÂY XƠ BẰNG THUỐC VÀ LASER NỘI TĨNH MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI MẠN TÍNH

3.3.1. Kết quả của phương pháp gây xơ bằng thuốc

3.3.2. Kết quả của phương pháp Laser nội tĩnh mạch

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG

4.1.1. Đặc điểm về tuổi

4.1.2. Đặc điểm về giới

4.1.3. Các yếu tố nguy cơ của suy tĩnh mạch mạn tính

4.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ SIÊU ÂM DOPPLER MẠCH

4.2.1. Đặc điểm lâm sàng

4.2.2. Đặc điểm siêu âm Duplex suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính

4.3. KẾT QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP GÂY XƠ BẰNG THUỐC VÀ LASER NỘI TĨNH MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI MẠN TÍNH

4.3.1. Đánh giá kết quả của phương pháp gây xơ bằng thuốc

4.3.2. Đánh giá kết quả của phương pháp Laser nội tĩnh mạch

4.4. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính

4.5. Kết quả của điều trị suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính bằng phương pháp gây xơ bằng thuốc và Laser nội tĩnh mạch

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: Phân độ lâm sàng CEAP

PHỤ LỤC 2: Thang điểm về độ nặng lâm sàng (VCSS)

PHỤ LỤC 3: Thang điểm về chất lượng cuộc sống CIVIQ-20

Tóm tắt

I. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của suy tĩnh mạch chi dưới

Suy tĩnh mạch chi dưới là bệnh lý phổ biến với các biểu hiện lâm sàng như giãn tĩnh mạch, nặng tức chân, phù và thay đổi da. Các triệu chứng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống. Đặc điểm lâm sàng bao gồm các dấu hiệu như đau, chuột rút, và cảm giác nặng chân. Cận lâm sàng được đánh giá qua siêu âm Duplex, giúp xác định dòng trào ngược và mức độ giãn tĩnh mạch. Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ suy tĩnh mạch chi dưới ở Việt Nam khá cao, đặc biệt ở nhóm tuổi trên 50.

1.1. Triệu chứng lâm sàng

Các triệu chứng lâm sàng của suy tĩnh mạch chi dưới bao gồm đau, nặng chân, chuột rút và phù. Những triệu chứng này thường nặng hơn vào cuối ngày hoặc sau khi đứng lâu. Nghiên cứu chỉ ra rằng các triệu chứng này có liên quan mật thiết đến mức độ giãn tĩnh mạch và dòng trào ngược được xác định qua siêu âm Duplex.

1.2. Đánh giá cận lâm sàng

Siêu âm Duplex là phương pháp chính để đánh giá suy tĩnh mạch chi dưới. Kết quả siêu âm cho thấy dòng trào ngược và đường kính tĩnh mạch giãn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố nguy cơ như tuổi tác, giới tính và tiền sử gia đình có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ bệnh.

II. Phương pháp điều trị suy tĩnh mạch chi dưới

Điều trị suy tĩnh mạch chi dưới bao gồm nhiều phương pháp như thay đổi lối sống, sử dụng tất áp lực, dùng thuốc và can thiệp qua da. Phương pháp gây xơlaser nội tĩnh mạch là hai phương pháp hiện đại được áp dụng rộng rãi. Cả hai phương pháp đều mang lại hiệu quả cao trong việc giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

2.1. Phương pháp gây xơ

Phương pháp gây xơ sử dụng chất tạo bọt để gây xơ hóa tĩnh mạch giãn. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp này giúp giảm đáng kể đường kính tĩnh mạch và cải thiện triệu chứng lâm sàng. Tuy nhiên, tỉ lệ tái phát và biến chứng như viêm tĩnh mạch cần được theo dõi chặt chẽ.

2.2. Laser nội tĩnh mạch

Laser nội tĩnh mạch sử dụng năng lượng laser để đốt tĩnh mạch giãn. Phương pháp này mang lại hiệu quả cao với tỉ lệ thành công lên đến 95%. Bệnh nhân ít đau và hồi phục nhanh hơn so với phẫu thuật truyền thống. Tuy nhiên, chi phí điều trị cao hơn so với phương pháp gây xơ.

III. Kết quả điều trị và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy cả phương pháp gây xơlaser nội tĩnh mạch đều mang lại hiệu quả cao trong điều trị suy tĩnh mạch chi dưới. Các phương pháp này giúp giảm triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm tỉ lệ tái phát. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp dựa trên đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của từng bệnh nhân.

3.1. Đánh giá kết quả điều trị

Kết quả điều trị được đánh giá qua sự cải thiện triệu chứng lâm sàng và kết quả siêu âm Duplex. Cả hai phương pháp đều cho thấy sự giảm đáng kể đường kính tĩnh mạch và dòng trào ngược. Tuy nhiên, laser nội tĩnh mạch có tỉ lệ thành công cao hơn và ít biến chứng hơn so với phương pháp gây xơ.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện chất lượng điều trị suy tĩnh mạch chi dưới tại Việt Nam. Các phương pháp hiện đại như gây xơlaser nội tĩnh mạch cần được áp dụng rộng rãi để giảm gánh nặng bệnh tật và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng kết quả điều trị suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính của phương pháp gây xơ bằng thuốc và laser nội tĩnh mạch

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính là các bất thường về chức năng và hình thể của hệ tĩnh mạch diễn biến kéo dài, hiểu hiện bằng các triệu chứng giãn tĩnh mạch, nặng tức chân, phù và các thay đổi ở da tùy theo mức độ nặng của bệnh. Hậu quả ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh [4, 12, 55, 89]. Ở Hoa Kỳ, khoảng 23% người trưởng thành bị giãn tĩnh mạch và 6% bị suy tĩnh mạch mạn tính nặng, bao gồm những thay đổi da và các vết loét liền sẹo hoặc đang tiến triển [84]. Tại các nước phương Tây, suy tĩnh mạch mạn tính được xem là một vấn đề ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội bởi vì tỉ lệ mắc bệnh khá cao chiếm khoảng 20- 40% dân số người trưởng thành, bệnh thường gặp hơn ở người cao tuổi đặc biệt là phụ nữ, tỉ lệ mắc bệnh gia tăng với sự phát triển của nền văn minh hiện đại.

Ở Việt Nam, theo Cao Văn Thịnh và cs tỉ lệ suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính chiếm 43,9% ở người trên 50 tuổi ở TP Hồ Chí Minh [2]. Nghiên cứu 545 người trên 50 tuổi ở Hà Nội và Hải Dương bằng siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới, Phạm Thắng và Nguyễn Xuân Mến đã phát hiện 14,1% có dòng trào ngược trong tĩnh mạch hiển lớn và hoặc hiển bé [10, 13, 14]. Trước đây, giãn tĩnh mạch được coi là một vấn đề thẩm mỹ chỉ ảnh hưởng tới cảm giác thoải mái chứ không phải là nguyên nhân gây tàn tật. Tuy nhiên, giãn tĩnh mạch thường gây khó chịu, đau đớn, nghỉ việc, tàn tật và giảm chất lượng cuộc sống [84, 167].

Bệnh suy tĩnh mạch mạn tính nặng có thể dẫn tới mất chi hoặc tử vong [93]. Việc đánh giá suy tĩnh mạch đã có nhiều tiến bộ trong hai thập kỷ qua với việc sử dụng rộng rãi siêu âm duplex [42]. 2 Suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính có nhiều yếu tố nguy cơ nên quá trình điều trị cần phối hợp nhiều biện pháp khác nhau bao gồm: thay đổi thói quen sinh hoạt, lối sống, đi tất áp lực, dùng thuốc uống, các biện pháp can thiệp qua da và phẫu thuật loại bỏ tĩnh mạch suy. Trong các thập kỷ trước, phương pháp phẫu thuật được xem là phương pháp điều trị suy tĩnh mạch mạn tính triệt để có hiệu quả, đã được áp dụng rộng rãi ở các nước phát triển.

Phẫu thuật loại tĩnh mạch suy phải được thực hiện dưới gây mê, thường gây đau, có thể có các biến chứng do vết thương và phải nghỉ làm việc vài ngày. Với sự xuất hiện của các kỹ thuật triệt tiêu tĩnh mạch nội mạch qua da, bao gồm liệu pháp Laser nội tĩnh mạch (EVLA) [73, 119], đốt tĩnh mạch bằng sóng cao tần (RFA) [104] và liệu pháp gây xơ bằng bọt hoặc dung dịch [76, 103], điều trị suy tĩnh mạch mạn tính đã thực sự có rất nhiều thay đổi. Khoảng hơn 10 năm trở lại đây, phẫu thuật loại bỏ tĩnh mạch suy hầu như đã bị thay thế bằng các kỹ thuật can thiệp qua da đơn giản này, chỉ cần gây tê tại chỗ đem lại kết quả tương tự trong thời gian sớm hoặc trung hạn nhưng bệnh nhân đỡ khó chịu hơn, cải thiện sớm chất lượng cuộc sống và nhanh chóng trở lại làm việc hơn [102, 111, 120]. Ở nước ta phương pháp gây xơ tĩnh mạch bằng chất tạo bọt và Laser nội tĩnh mạch cũng đã được ứng dụng để điều trị suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính nhưng chưa có công bố nào nghiên cứu dài hạn và đầy đủ của cả 2 phương pháp này.

Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính của phương pháp gây xơ bằng thuốc và Laser nội tĩnh mạch” với 2 mục tiêu cụ thể là: 1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính. Đánh giá kết quả ngắn hạn của phương pháp gây xơ bằng thuốc và Laser nội tĩnh mạch trong điều trị suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính. 3 Chương1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

ĐẠI CƯƠNG VỀ SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI MẠN TÍNH 1. Định nghĩa suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính Các thuật ngữ giãn tĩnh mạch (TM), rối loạn chức năng tĩnh mạch mạn tính và suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính được định nghĩa theo khuyến cáo của của Hội tĩnh mạch Hoa Kỳ năm 2011 như sau [36]: Giãn tĩnh mạch chi dưới là các tĩnh mạch dưới da bị giãn to với đường kính ≥3 mm đo ở tư thế đứng thẳng [89]. Các từ đồng nghĩa bao gồm varix, varices, và varicosities. Giãn TM có thể liên quan tới các TM nông, các nhánh chính của tĩnh mạch hiển lớn (TMHL) hoặc tĩnh mạch hiển bé (TMHB) hoặc bất kỳ TM phụ nào của chi dưới.

Hầu hết các TM giãn là do bệnh TM nguyên phát. Nguyên nhân hay gặp nhất là các bất thường sinh hóa hoặc hình thể nội sinh trong thành TM, mặc dù nguyên nhân cũng có thể do nhiều yếu tố. Theo Labropoulos và cs, nguồn gốc của dòng trào ngược TM ở bệnh nhân giãn TM nguyên phát có thể do yếu cấu trúc thành TM ở một điểm hoặc nhiều điểm và điều này có thể xảy ra cùng hoặc độc lập với suy van TM hiển. Giãn TM có thể phát triển thứ phát, như sau huyết khối TM sâu, tắc TM sâu, huyết khối TM nông hoặc lỗ dò động TM.

Các TM giãn có thể bẩm sinh do dị dạng TM. Giãn TM là biểu hiện của rối loạn TM mạn tính chi dưới [36, 55]. Rối loạn TM mạn tính chi dưới bao gồm các bất thường về chức năng và hình thể của hệ TM diễn biến kéo dài, hiểu hiện bằng các triệu chứng hoặc dấu hiệu (hoặc cả hai) cho thấy cần phải thăm khám và điều trị. Thuật ngữ Rối loạn TM mạn tính được dành cho toàn bộ các bất thường của TM và bao gồm cả giãn TM trong da và tiểu TM có đường kính 1 đến 3 mm (các TM mạng nhện, TM lưới, giãn mao mạch).

Các TM giãn có thể tiến triển thành 4 dạng nặng hơn của rối loạn chức năng TM mạn tính gọi là suy TM mạn tính chi dưới [54, 148]. Trong suy TM mạn tính chi dưới, tăng áp trong TM khi di chuyển sẽ khởi đầu cho một loạt các thay đổi trong mô dưới da và trên mặt da: hoạt hóa các tế bào nội mạc mạch, thoát quản các phân tử kích thước lớn và hồng cầu, phù nhu mô và các thay đổi do phản ứng viêm mạn tính rất hay gặp ở vị trí phía trên hai mắt cá. Phù chi, thay đổi sắc tố da, xơ cứng da nhiễm mỡ, chàm, hoặc loét do tổn thương TM có thể phát triển ở các bệnh nhân này [89, 129]. Dịch tễ học suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính Bệnh TM mạn tính là bệnh lý thường gặp ở phương Tây và Hoa Kỳ.

Tỉ lệ mắc bệnh của bệnh dao động lớn tùy thuộc vào các vùng địa lý khác nhau, tỉ lệ này được báo cáo cao nhất ở các nước phương Tây. Sự dao động của tỉ lệ mắc bệnh của bệnh phản ánh sự khác nhau về phân bố yếu tố nguy cơ của quần thể, mức độ chính xác của việc ứng dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán, chất lượng và sự sẵn có của các phương tiện chẩn đoán và điều trị bệnh [23]. Nhìn chung, tỉ lệ mắc bệnh bệnh ở các nước phát triển cao hơn các nước kém phát triển. Mekkey và cs cho thấy rằng sự khác biệt này gấp 5 lần ở Anh so với Hy Lạp.

Beaglehole đã ghi nhận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ mắc bệnh bệnh giãn TM được chuẩn hóa theo tuổi ở 5 quần thể khác nhau ở Nam Thái Bình Dương. Nghiên cứu San Diego cho thấy tỉ lệ mắc bệnh giãn TM cao nhất ở người Hispanics (26%) và thấp nhất ở những người châu Á (18,7%). Tuy nhiên, những biến đổi do loạn dưỡng (loét, tăng sắc tố, phù và xơ mỡ da) và triệu chứng cơ năng thường gặp ở những người da trắng không có nguồn gốc Hispanics [43, 79]. Trong quần thể người trưởng thành phương Tây, tỉ lệ hiện mắc giãn TM khoảng 20% (dao động từ 21,8% - 29,4%) và khoảng 5% (dao động từ 3,6% - 8,6%) bị phù TM, thay đổi da hoặc loét do tổn thương TM.

Các vết 5 loét TM đang tiến triển chiếm tỉ lệ 0,5%, và từ 0,6% đến 1,4% có các vết loét đã liền sẹo [145]. Theo nghiên cứu dịch tễ học San Diego, có trên 11 triệu nam và 22 triệu phụ nữ độ tuổi từ 40 đến 80 ở Hoa Kỳ bị giãn TM và khoảng 2 triệu người bị suy TM mạn tính nặng, với các biểu hiện thay đổi trên da và loét do TM [84]. Ở Pháp tỉ lệ giãn TM ở nam giới là 23,7% và 46,3% ở nữ giới [38]. Giãn TM và loét do TM có thể là gánh nặng kinh tế rất lớn cho bệnh nhân và xã hội.

Giãn TM và các biến chứng kèm theo có thể dẫn tới đau mạn tính, tàn tật, giảm chất lượng cuộc sống (QOL), mất việc, và nghỉ hưu sớm. Ở Hoa kỳ, chi phí y tế trực tiếp của suy TM mạn tính được ước tính từ 150 triệu đến 1 tỉ đô la Mỹ hàng năm [93]. Ở Vương quốc Anh, 2% ngân sách quốc gia dành cho y tế một năm (1 tỉ đô la Mỹ) được dùng để xử trí các vết loét ở chân [84]. Loét TM chưa được phát hiện đầy đủ và điều trị đúng mức.

Trong một phụ chương của tạp chí Journal of Vascular Surgery xuất bản gần đây đã nêu chi tiết mục tiêu của hội thảo mạch máu Thái Bình Dương lần thứ 6 (PVS6) nhằm kêu gọi hành động để thiết kế một kế hoạch khả thi nhằm giảm 50% tỉ lệ mới mắc các vết loét do TM ở Hoa Kỳ trong vòng 10 năm tới [71]. Ở Việt Nam, theo kết quả của nghiên cứu Presence thực hiện năm 2008 trên 17634 người tuổi trung bình 47, tỉ lệ nữ 63% và nam 37% ở cả 3 vùng Bắc Trung Nam nhằm phát hiện tỉ lệ mắc các triệu chứng sớm của suy TM mạn tính cho thấy có đến 25 – 29% bị suy TM mạn tính ở các giai đoạn khác nhau. Cao Văn Thịnh và cs tỉ lệ suy TM mạn tính chi dưới chiếm 43,9% ở người trên 50 tuổi ở TP Hồ Chí Minh. Nghiên cứu 545 người trên 50 tuổi ở Hà Nội và Hải Dương bằng siêu âm Doppler TM chi dưới, Phạm Thắng và Nguyễn Xuân Mến đã phát hiện tỉ lệ 14,1% có dòng trào ngược trong TMHL và hoặc TMHB [10].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị suy tĩnh mạch chi dưới bằng phương pháp gây xơ và laser nội tĩnh mạch" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm lâm sàng của bệnh suy tĩnh mạch chi dưới, cũng như hiệu quả của các phương pháp điều trị hiện đại như gây xơ và laser nội tĩnh mạch. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về tình trạng bệnh lý mà còn nêu bật những lợi ích của các phương pháp điều trị tiên tiến, từ đó mở ra hướng đi mới cho việc chăm sóc sức khỏe.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Kết quả điều trị suy tĩnh mạch mãn tính chi dưới bằng laser nội mạch tại bệnh viện trung ương Thái Nguyên. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết về kết quả điều trị và ứng dụng của laser trong điều trị suy tĩnh mạch, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị hiện có.