Chương 1: TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm Rối loạn TM mạn tính chi dưới bao gồm các bất thường về chức năng và hình thể của hệ TM diễn biến kéo dài, biểu hiện bằng các triệu chứng hoặc dấu hiệu cho thấy cần phải thăm khám và điều trị. Bao gồm cả các trường hợp giãn TM trong da và tiểu TM có đường kính từ 1 - 3mm (các TM mạng nhện, TM lưới, giãn mao mạch). Các TM giãn có thể tiến triển thành dạng nặng hơn của rối loạn chức năng TM mạn tính gọi là STM mạn tính chi dưới [1].
Suy tĩnh mạch (STM) mạn tính chi dưới là sự suy giảm chức năng của hệ thống TM do suy các van TM thuộc hệ TM nông và/hoặc hệ TM sâu, có thể kèm theo thuyên tắc huyết khối TM hoặc không [2],[11]. Giãn TM là biến đổi bất thường về giải phẫu, đặc trưng bởi sự giãn bệnh lý (> 3mm) của một hoặc nhiều TM nông [2],[11]. Giãn TM mạng nhện, dạng lưới là giãn các TM nhỏ rất nông trong da (<1mm) hoặc dưới da [2]. STM mạn tính, giãn TM dưới da chi dưới hay còn gọi là STM mạn tính chi dưới là thuật ngữ chỉ sự suy giảm chức năng đưa máu từ ngoại biên trở về tim của hệ thống TM nằm ở vùng chân dẫn đến hiện tượng máu ứ đọng gây ra các biến đổi về huyết động và biến dạng tổ chức mô tại chỗ, tình trạng này làm xuất hiện các triệu chứng nhức mỏi, nặng và phù chân, tê bì, dị cảm, có thể kèm theo dấu hiệu như kiến bò, chuột rút về ban đêm,.
Tình hình mắc STM mạn tính trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới STM mạn tính đang ngày càng trở thành bệnh phổ biến ở các nước phương Tây, ước tính khoảng 5 - 30% dân số mắc bệnh, trong đó có đến 70% là nữ giới và chiếm 2% ngân sách chi tiêu cho y tế [18]. Trên thế giới tỷ lệ mắc bệnh 10 - 61% (tỷ lệ nam/nữ là từ 1/2 - 1/4). Bệnh 4 có thể gặp ở mọi lứa tuổi và tần suất gặp STM cao gấp 10 lần bệnh động mạch chi dưới [7],[27].
Nghiên cứu trên cộng đồng người Mỹ ở độ tuổi trên 69, năm 2009 đã ghi nhận tỷ lệ mắc STM lên tới 71%. Trong số BN bị STM mạn tính thì STM hiển bé mạn tính chiếm tỷ lệ khoảng 20% [7]. Ước tính có khoảng 11 triệu nam giới và 22 triệu nữ giới ở Hoa Kỳ được chẩn đoán giãn TM và khoảng 2 triệu người bị STM mạn tính mức độ nặng. Chi phí điều trị STM mạn tính tại Hoa Kỳ từ 150 triệu USD đến 1 tỷ USD/năm.
Trong tất cả các BN bị STM mạn tính thì có khoảng 1 - 2,7% bị loét do ứ trệ TM. Những BN bị loét thường có tiên lượng xấu với 40% BN có tái phát sau điều trị [27],[62]. Ở Pháp có khoảng 18 triệu người bị STM mạn tính chi dưới, trong đó khoảng 10 triệu người giãn TM, tỷ lệ giãn TM ở nam giới là 23,7% và 46,3% ở nữ giới. Chi phí cho điều trị chiếm vào khoảng 2,6% trong tổng chi phí y tế [1],[2],[11],[21].
Tại Việt Nam Bệnh lý STM mạn tính chi dưới có xu hướng gia tăng do những tác động của sự phát triển kinh tế và thay đổi nếp sống, sinh hoạt,. Bệnh ít nguy hiểm nhưng gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. STM mạn tính chi dưới khá thường gặp. Tại Việt Nam, theo điều tra VCP (Vein consult program) ghi nhận của các phòng khám có khoảng 62% BN có biểu hiện STM mạn tính chi dưới [18].
Nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh ở người dân trên 50 tuổi có 40,6% trường hợp mắc bệnh, nữ gặp nhiều hơn so với nam 3 - 4 lần [22]. Theo Nguyễn Thị Hải Yến và Phạm Nguyên Sơn năm 2015, ở BN trên 50 tuổi, tỷ lệ STM nông chi dưới là 44,1% và tỷ lệ có DTN trong lòng TM là 34,8%. Hiểu biết về STM còn rất hạn chế: 92,5% BN không biết về bệnh lý TM trước nghiên cứu và 91,8% BN STM không được điều trị [27]. Theo kết quả của nghiên cứu Presence được thực hiện vào năm 2008 trên 5 17.634 người tuổi trung bình là 47 thì tỷ lệ nữ là 63% và nam là 37% ở cả 3 vùng Bắc, Trung, Nam nhằm phát hiện tỷ lệ mắc các triệu chứng sớm của STM mạn tính chi dưới cho thấy có đến 25 - 29% bị STM mạn tính chi dưới ở các giai đoạn khác nhau [1],[21].
Giải phẫu hệ tĩnh mạch chi dưới TM được cấu tạo gồm 3 lớp có thành mỏng, bề mặt nhẵn, đường kính thường tăng dần từ trung tâm ra ngoại vi [4],[74]: - Lớp trong là một lớp tế bào nội mô được giới hạn bên ngoài bởi màng ngăn chun trong. - Lớp giữa dày nhất, cấu tạo gồm 3 lớp cơ - xơ - chun được phân biệt một cách rõ rệt. Lớp trong cùng ít phát triển, bao gồm các bó dọc các tế bào cơ trơn. Lớp giữa rộng, được cấu tạo gồm các bó tế bào cơ trơn tách biệt nhau bởi các sợi collagen nhỏ và các sợi chun dọc.
Lớp ngoài cùng tiếp giáp với lớp vỏ, có nhiều tế bào cơ trơn dọc và các tổ chức xơ. - Lớp vỏ là mô liên kết giàu sợi collagen và sợi chun. * Hệ TM nông Các TM nông chi dưới gồm các TM nằm ngay ở lớp mô tế bào dưới da, không có động mạch đi kèm, bắt đầu từ các TM ở ngón chân, bàn chân [17]. - Tĩnh mạch hiển lớn Tĩnh mạch hiển lớn (TMHL) là TM dài nhất cơ thể, tiếp theo đầu trong cung TM mu chân và TM mu trong ngón cái, đi lên qua phía trước mắt cá trong, dọc theo phía trong cẳng chân, gối và đùi, rồi đổ vào TM đùi ở vị trí 3cm dưới dây chằng bẹn.
Trên đường đi TMHL nhận nhiều các TM nông nhỏ [17]: + Ở cẳng chân: Các nhánh từ mu chân, gót chân, mặt trước cẳng chân, gối, nhánh nối với TM hiển bé. + Ở đùi: Các nhánh từ mặt trước và mặt ngoài đùi và một TM hiển phụ khá lớn dẫn máu từ mặt trong và mặt sau đùi. + Ở phần trên của đùi: Trước khi TM chui vào lỗ TM hiển, nó còn nhận 6 các TM thẹn ngoài, TM mũ chậu nông, TM thượng vị nông. - TM hiển bé Là TM bắt nguồn từ đầu ngoài cung TM mu chân và TM mu ngoài ngón út.
Từ dọc bờ ngoài mu chân đi lên ở sau mắt cá ngoài, theo bờ ngoài của gân gót, rồi đi chếch dần vào giữa mặt sau cẳng chân lên vùng khoeo, chọc qua mạc khoeo đổ vào TM khoeo. Trên đường đi TM hiển bé nhận nhiều TM nhỏ và có nhiều nhánh nối thông với hệ TM sâu [17]. Hệ TM nông chi dưới [4] * Hệ TM sâu Các TM sâu của chi dưới thường đi theo các động mạch cùng tên, chúng dẫn máu TM về TM chậu ngoài. Các TM lớn như TM khoeo, TM đùi chỉ có một, các TM khác như: TM chầy trước, TM chầy sau, TM mác có hai, đi kèm theo các động mạch [17].
- Tại bàn chân: Hai TM mu chân chạy theo động mạch mu chân lên nối tiếp với hai TM chày trước. Các TM ở gan chân trong và gan chân ngoài theo các động mạch cùng tên đổ vào hai TM chày sau ở phía trong cổ chân. - Tại cẳng chân: Hai TM chày trước chạy theo động mạch chày trước, hai 7 TM chày sau chạy theo động mạch chày sau. - Tại khoeo chân: Các TM chày trước, TM chày sau và TM mác chập vào nhau tạo thành TM khoeo, TM khoeo đi qua khuyết gân cơ dép và đổi tên thành TM đùi.
- Tại đùi: TM đùi tiếp tục đi lên và tới phần phía trên của đùi thì nhận thêm TM đùi sâu thành TM đùi chung, ở đây có TMHL đổ vào. TM đùi chung đi phía dưới dây chằng bẹn và đổi tên thành TM chậu trong. * Hệ TM xuyên Là hệ thống các TM nối hệ thống TM nông với hệ thống TM sâu [4]. * Hệ thống van TM Các TMHL và hiển bé đều có nhiều van ngăn không cho máu chảy ngược lại.
Van TM được tạo nên do sự gấp nếp của lớp nội mô. TMHL có từ 10 đến 20 van. TM hiển bé có từ 4 đến 10 van. Số lượng các van thay đổi theo tuổi và giới tính, không có van ở các TM có đường kính < 2mm [4],[17].
Van TM mở, C. Van TM đóng [4] 1. Sinh lý tuần hoàn hệ TM chi dưới * Trương lực của TM Là khả năng co bóp của các cơ thành mạch, do thần kinh giao cảm chi phối, khi có sự kích thích thụ thể thần kinh beta hoặc alpha sẽ giải phóng ra 8 noradrenalin làm tăng sức co bóp, do đó làm tăng tuần hoàn TM. Mất phản xạ vận mạch này có thể là một nguyên nhân gây nên bệnh STM [12].
Trương lực TM chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố liên quan như: Thời tiết lạnh, các hoạt động thể lực, tư thế đứng hoặc ngồi lâu, stress tâm lý, nhịp thở, nghiệm pháp Valsaval đều có thể làm tăng trương lực TM. Ngược lại, thời tiết nóng nực, nước nóng hay xông hơi, uống rượu, nằm thẳng nghỉ ngơi đều làm giảm trương lực TM. Trương lực TM tham gia đóng góp khoảng 15% sức cản của tuần hoàn [12]. * Độ đàn hồi của thành TM Thành TM mỏng, có khả năng co giãn nhưng thường giãn nhiều hơn co vì TM có ít sợi cơ trơn.
Tuy nhiên, sức căng của TM lại lớn gấp 8 lần so với sức căng của động mạch. Khả năng giãn này còn ảnh hưởng bởi nội tiết tố và tăng lên theo tuổi [8],[12]. * Sự co bóp của khối cơ vùng cẳng chân Trong tư thế nằm ngửa, máu có thể về TM là vì áp lực của các tiểu TM ở ngoại vi thấp (khoảng - 5mmHg), trong khi đó áp lực của các tiểu động mạch là 7mmHg. Kèm theo, sức hút của nhĩ phải và sự đi xuống của sàn nhĩ thất cũng góp phần đáng kể vào sự trở về của máu TM.
TM nằm xen giữa các sợi cơ, nên khi cơ co bóp ép vào các mạch máu, dồn máu chảy theo chiều van trong TM. Ở chi dưới, khi các cơ vận động dồn máu đi lên tim [8],[12],[26]. * Hệ thống van của TM Các van TM là những nếp gấp lên của lớp tế bào nội mô, số lượng van thay đổi tùy theo từng cá nhân. Các van TM được sắp xếp theo một chiều nhất định, nó mở ra về phía trên cho máu đổ về tim và chỉ đóng lại khi máu dồn xuống dưới đột ngột.
Van TM có thể giữ được kín với áp lực > 200mmHg.