Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng x quang đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy hàm gò má bằng nẹp vít nhỏ tại bệnh viện đa khoa thành phố cần thơ năm 2018 2019

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng x quang đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy hàm gò má bằng nẹp, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Răng Hàm Mặt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn chuyên khoa cấp II

2019

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tổng quan về gãy hàm gò má

2.1.1. Đặc điểm giải phẫu hàm gò má

2.1.1.1. Đặc điểm xương hàm gò má
2.1.1.2. Đặc điểm các cơ bám xương hàm gò má
2.1.1.3. Các bộ phận giải phẫu liên quan xương hàm gò má

2.1.2. Cơ chế và phân loại gãy hàm gò má

2.1.2.1. Cơ chế
2.1.2.2. Phân loại gãy hàm gò má

2.1.3. Lâm sàng, X-quang và nguyên nhân gãy hàm gò má

2.1.3.1. Đặc điểm lâm sàng gãy hàm gò má

2.2. Phương pháp điều trị gãy hàm gò má

2.3. Một số nghiên cứu liên quan

3. CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu

3.3. Tiêu chuẩn loại trừ

3.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.5. Phương pháp nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu

3.6. Phương pháp chọn mẫu

3.7. Nội dung nghiên cứu

3.8. Phương pháp thu thập số liệu

3.9. Phương pháp kiểm soát sai số

3.10. Phương pháp xử lý số liệu. Đạo đức trong nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Đặc điểm chung

4.2. Đặc điểm lâm sàng, X-quang, nguyên nhân gãy hàm gò má

4.3. Đánh giá kết quả điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Gãy Hàm Gò Má Nguyên Nhân Giải Phẫu

Trong bối cảnh tai nạn giao thông ngày càng phức tạp, chấn thương hàm mặt, đặc biệt là gãy hàm gò má, đang gia tăng đáng kể. Theo thống kê, gãy hàm gò má chiếm trên 40% các trường hợp gãy xương vùng hàm mặt. Xương hàm gò má đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc và chức năng của khối sọ mặt, ảnh hưởng trực tiếp đến thẩm mỹ và chức năng. Việc chẩn đoán và điều trị kịp thời là yếu tố then chốt để đạt được kết quả tốt nhất. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích đặc điểm lâm sàngkết quả điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Cần Thơ.

1.1. Giải Phẫu Xương Hàm Gò Má Cấu Trúc Chức Năng

Xương gò má là một phần của khối xương mặt, nằm ở phía trên và bên mặt, tạo nên phần nhô cao của má. Nó tiếp khớp với xương trán, xương bướm và xương hàm trên, đồng thời tiếp khớp với mỏm tiếp xương thái dương tạo thành cung tiếp. Xương gò má có ba mặt, năm bờ và hai mỏm. Mặt ngoài lồi, mặt sau trong tiếp khớp với xương hàm trên, và mặt trong tạo nên một phần sàn ổ mắt. Các bờ và mỏm của xương gò má đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết với các cấu trúc xung quanh. Theo Nguyễn Quang Quyền, xương gò má có thể được mô tả như một hình khối với các mặt và mỏm đặc trưng.

1.2. Các Cơ Bám Xương Hàm Gò Má Ảnh Hưởng Đến Di Lệch

Các cơ bám vào xương hàm gò má có thể gây ra di lệch khi xương bị gãy. Cơ nâng môi trên, cơ cắn, cơ gò má lớn và cơ gò má nhỏ đều có nguyên ủy và bám tận khác nhau, tạo ra các lực kéo khác nhau lên xương gò má. Cơ cắn, theo Trịnh Văn Minh, có thể gây ra di chứng thứ phát sau điều trị gãy hàm gò má. Hiểu rõ về vị trí và chức năng của các cơ này là rất quan trọng trong việc lập kế hoạch điều trị.

II. Cơ Chế Gãy Hàm Gò Má Phân Loại Hướng Di Lệch

Gãy xương tầng mặt giữa, bao gồm gãy hàm gò má, thường do chấn thương trực tiếp vào xương hoặc điểm tiếp khớp. Các loại gãy Lefort I, II, III và gãy phức hợp xương gò má cung tiếp thường gặp. Xương gò má có thể di lệch theo trục đứng (khớp trán - gò má) hoặc trục ngang (cung gò má - lỗ dưới ổ mắt). Hướng và cường độ lực tác động quyết định hình thái và mức độ di lệch của xương. Việc phân loại gãy xương giúp định hướng điều trị hiệu quả.

2.1. Hướng Di Lệch Xương Gò Má Ảnh Hưởng Đến Biến Dạng

Chấn thương trực tiếp vào thân xương gò má có thể gây gãy mà không di lệch, hoặc làm lún xương vào xoang - ổ mắt. Chấn thương phía trước trục đứng làm xương xoay gần và lún vào trong, trong khi chấn thương phía sau trục đứng làm xương xoay về phía xa và lún vào hố thái dương. Chấn thương vào phía trên hoặc dưới trục ngang cũng gây ra các di lệch khác nhau. Theo "Oral and maxillofacial trauma", các di lệch này có thể xảy ra riêng lẻ hoặc kết hợp.

2.2. Phân Loại Gãy Hàm Gò Má Knight North và Larson O.

Có nhiều cách phân loại gãy hàm gò má, nhưng phổ biến nhất là phân loại của Knight & North (1961) và Larson O. (1972). Knight & North chia thành 6 loại dựa trên mức độ di lệch, từ không di lệch đến gãy vụn. Larson O. chia thành 3 nhóm dựa trên nhu cầu nắn chỉnh và cố định xương. Phân loại của Knight J.F dễ nhớ và được sử dụng rộng rãi, giúp xác định phương pháp điều trị phù hợp.

2.3. Gãy Phức Hợp Gò Má Cung Tiếp Các Đường Gãy Thường Gặp

Gãy phức hợp gò má cung tiếp bao gồm các đường gãy từ khe dưới ổ mắt dọc theo sàn ổ mắt, qua mặt sau xương hàm trên, qua khớp trán gò má và trong mỏm gò má xương thái dương. Các đường gãy này có thể gây ra nhiều biến chứng và đòi hỏi phương pháp điều trị phức tạp hơn. Việc xác định chính xác các đường gãy là rất quan trọng để lập kế hoạch phẫu thuật.

III. Đặc Điểm Lâm Sàng Gãy Hàm Gò Má Triệu Chứng Dấu Hiệu

Khi gãy xương gò má, bệnh nhân có thể gặp nhiều triệu chứng như biến dạng mặt, sờ thấy đường gãy, đau khi ấn, tụ máu kết mạc, khít hàm, rối loạn thị giác và tê bì vùng mặt. Các triệu chứng này có thể ảnh hưởng đến chức năng và thẩm mỹ của bệnh nhân. Việc khám lâm sàng kỹ lưỡng giúp chẩn đoán chính xác và đưa ra phương án điều trị phù hợp. Cần phân biệt các triệu chứng do gãy hàm gò má với các bệnh lý khác.

3.1. Biến Dạng Mặt Khít Hàm Dấu Hiệu Gãy Hàm Gò Má

Gãy xương gò má có di lệch gây biến dạng mặt, cụ thể là lõm gò má. Sờ có thể thấy đường gãy hình bậc thang. Khít hàm là biểu hiện há miệng hạn chế, đau khi há, khi đưa hàm ra trước, sang hai bên khó khăn. Cơ chế gây khít hàm có thể do kẹt mỏm vẹt của xương hàm dưới vào mảnh gãy hoặc do co thắt cơ thái dương. Cần phân biệt khít hàm do đau với các nguyên nhân khác.

3.2. Rối Loạn Thị Giác Ảnh Hưởng Của Gãy Hàm Gò Má

Gãy hàm gò má có thể đi kèm vỡ sàn ổ mắt, rách bao quanh ổ mắt, kẹt cơ thẳng dưới hoặc cơ chéo dưới, dẫn đến rối loạn vận động nhãn cầu, lõm mắt và song thị. Cần phân biệt song thị do phù nề với các nguyên nhân khác. Vỡ phức hợp hàm gò má thường đi kèm với sa góc mắt xuống dưới và ra ngoài, gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ.

3.3. Tổn Thương Dây Thần Kinh V2 Tê Bì Vùng Mặt Sau Gãy

Dây thần kinh V2 có thể bị tổn thương khi gãy hàm gò má, gây ra đau, mất hoặc giảm cảm giác vùng má, vùng cánh bên mũi, môi trên và tê các răng hàm trên. Dây V2 có thể bị đứt, chèn ép hoặc xương vụn cắm vào. Việc đánh giá tổn thương dây thần kinh V2 là rất quan trọng để tiên lượng khả năng phục hồi cảm giác.

IV. Phương Pháp Điều Trị Gãy Hàm Gò Má Nẹp Vít Ưu Điểm

Ngày nay, có nhiều phương pháp điều trị gãy xương gò má, bao gồm nắn chỉnh xương gãy đơn thuần, nắn chỉnh xương gãy cố định bằng Foley và chỉnh hình xương hàm gò má có sử dụng nẹp vít nhỏ. Phương pháp cố định bằng chỉ thép ít được sử dụng do kết quả không vững chắc. Sử dụng nẹp vít nhỏ có ưu điểm là kết quả chắc chắn, dễ làm và hiệu quả trong các trường hợp gãy phức tạp. Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá kết quả điều trị bằng nẹp vít tại Bệnh viện Đa khoa Cần Thơ.

4.1. Ưu Điểm Của Nẹp Vít Nhỏ Cố Định Vững Chắc Thẩm Mỹ

Sử dụng nẹp vít nhỏ có ưu điểm là kết hợp xương gò má cố định vững chắc vào xương hàm trên, chính xác vùng xương gãy, kết hợp với đường rạch tiền đình ngách lợi ít tổn thương thần kinh mạch máu, và đạt được thẩm mỹ. Một số nghiên cứu trong nước cho thấy ưu điểm của sử dụng nẹp vít trong điều trị gãy hàm gò má.

4.2. Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Nẹp Vít Kết Quả Tốt Khả Quan

Nguyễn Văn Khánh đánh giá kết quả điều trị gãy phức hợp xương hàm trên gò má-cung tiếp bằng nẹp vít nhỏ cho thấy kết quả chung khi ra viện có 76,1% đạt kết quả tốt, 23,9% khá và không có trường hợp kém. Sau 12 tuần, tốt chiếm 82,6%, khá là 17,4% và không có trường hợp kết quả kém. Châu Chiêu Hòa ghi nhận 80,95% có kết quả tốt, 19,05% kết quả khá.

V. Nghiên Cứu Tại Cần Thơ Đặc Điểm Đánh Giá Kết Quả Điều Trị

Nghiên cứu này được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Cần Thơ nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, X-quang và nguyên nhân gãy hàm gò má ở bệnh nhân điều trị tại bệnh viện. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy hàm gò má bằng nẹp vít nhỏ và sự hài lòng của bệnh nhân về kết quả điều trị. Đây là nghiên cứu đầu tiên về chủ đề này tại Cần Thơ, góp phần nâng cao chất lượng điều trị chấn thương hàm mặt.

5.1. Mục Tiêu Nghiên Cứu Mô Tả Đặc Điểm Đánh Giá Kết Quả

Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả đặc điểm lâm sàng, X-quang, nguyên nhân gãy hàm gò má ở bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Cần Thơ, năm 2018-2019. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy hàm gò má bằng nẹp vít nhỏ và sự hài lòng của bệnh nhân về kết quả điều trị tại bệnh viện.

5.2. Ý Nghĩa Thực Tiễn Nâng Cao Chất Lượng Điều Trị

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng về gãy hàm gò má tại Cần Thơ, giúp các bác sĩ có thêm cơ sở để chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn. Nghiên cứu cũng góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc điều trị kịp thời và đúng phương pháp, giảm thiểu các biến chứng và di chứng sau chấn thương.

08/06/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng x quang đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy hàm gò má bằng nẹp vít nhỏ tại bệnh viện đa khoa thành phố cần thơ năm 2018 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về gãy hàm gò má 1. Đặc điểm giải phẫu hàm gò má 1. Đặc điểm xương hàm gò má Xương gò má là một xương của khối xương mặt, nằm ở trên và phía bên mặt, nó tạo thành phần nhô cao của má.

Xương này tiếp khớp ở trên với xương trán, xương bướm và xương hàm trên, ở phía ngoài nó tiếp khớp với mỏm tiếp xương thái dương tạo thành cung tiếp. Nó tạo thành một phần thành ngoài và sàn hốc mắt. Xương gò má có thể mô tả như hình khối mặt có 3 mặt, 5 bờ và 2 mỏm [20], [25].1: Các mặt, mỏm xương gò má [25] (Nguồn: Nguyễn Quang Quyền, Giải phẫu học tập 1 năm 2013) Mặt ngoài hay mặt trước: có hình lồi, còn gọi là mặt gò má, gần bờ ổ mắt thường có hai lỗ thủng cho mạch và thần kinh gò má mặt chui qua. Mặt sau trong hay mặt thái dương: ở phía trước có một diện xù xì để tiếp khớp với xương hàm trên và một diện nhẵn lõm chạy ra sau và lên trên dọc theo mỏm 4 trán tạo thành thành trước và thành bên hố thái dương dưới.

Mặt này có một số lỗ gò má thái dương cho mạch chui qua. Mặt trong hay mặt ổ mắt: nhẵn và lõm tạo nên một phần sàn ổ mắt phía trước bên và liên tiếp với thành bên ổ mắt là mặt trong của mỏm trán. Mặt này có một số lỗ gò má ổ mắt là đường vào của lỗ gò má mặt và gò má thái dương [20], [25]. Bờ ổ mắt nhẵn lõm: tạo thành bờ dưới ngoài ổ mắt, là ranh giới giữa mặt ổ mắt và mặt ngoài.

Bờ trước dưới hay bờ hàm trên: là nơi tiếp khớp với xương hàm trên, bờ này tận cùng phía trong tại một điểm ngay trên lỗ dưới ổ mắt, phía gần bờ ổ mắt có diện bám của cơ nâng môi trên. Bờ sau trên hay bờ thái dương: ngoằn ngoèo, lồi ở trên, lõm ở dưới, liên tiếp với bờ sau của mõm trán và bờ trên của cung tiếp. Bờ này là chỗ bám của cân thái dương. Ngay dưới đường khớp trán gò má là mấu mắt ngoài rất dễ sờ thấy.

Bờ sau dưới: xù xì cho cơ cắn bám. Bờ sau trong: tiếp khớp với cánh lớn xương bướm ở trên và mặt ổ mắt của xương hàm trên ở dưới [20], [25]. Mỏm trán dày: có hình răng cưa, tiếp khớp phía trên là mỏm gò má xương thái dương, tiếp khớp phía sau là cánh lớn xương bướm. Ở mặt ổ mắt, trong phạm vi vành ổ mắt ngay dưới đường khớp gò má có một mấu lồi là chỗ bám của dây chằng mí ngoài, dây chằng treo và một phần gần cơ nâng mi trên.

Mỏm thái dương: chạy thẳng ra sau, có đường khớp răng cưa và hơi xiên để tiếp khớp với mỏm gò má xương thái dương tạo thành cung tiếp. Mặt trong xương, có một ống gò má hình chữ nhân với ba lỗ để cho dây thần kinh thái dương gò má đi qua. Lỗ vào ở trong ổ mắt, trên mảnh ngang của xương, cạnh bờ trước và trên. Hai lỗ ra, một ở mặt ngoài (phía má) và một ở mặt trong (phía hố thái dương) [20], [25].

Đặc điểm các cơ bám xương hàm gò má Góp phần gây di lệch xương gò má khi nó bị gãy. 5 - Cơ nâng môi trên: nguyên ủy từ bờ dưới ổ mắt đến bám tận vào cánh mũi, môi trên [20], [25]. Cơ cắn [20] (Nguồn: Trịnh Văn Minh, giải phẫu người tập 1, năm 2010) - Cơ cắn: Là cơ khoẻ hình chữ nhật che phủ mặt ngoài của cành lên, góc hàm và mỏm vẹt xương hàm dưới. Nó từ bờ dưới và mặt sau của cung tiếp chạy xuống bám vào mặt ngoài góc hàm và mỏm vẹt xương hàm dưới.

Cơ này do nhánh thần kinh V3 chi phối, có tác dụng nâng xương hàm dưới. Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng cơ cắn có tác dụng gây di chứng thứ phát sau điều trị gãy HGM [20], [25]. - Cơ gò má lớn: Từ xương gò má, phía trước đường khớp gò má hàm trên xuống bám vào góc miệng. Khi co, cơ gò má lớn kéo góc miệng lên trên và ra ngoài biểu lộ sự vui tươi.

Thần kinh chi phối là nhánh của dây VII. - Cơ gò má nhỏ: Từ mặt ngoài xương gò má, ngay sau đường khớp gò má – hàm trên chạy xuống dưới vào trong bám vào môi trên [20], [25]. Các bộ phận giải phẫu liên quan xương hàm gò má Với xương hàm trên: Mặt đáy thân xương gò má tiếp khớp với mỏm gò má của xương hàm trên bằng một diện khớp rộng hình tam giác mà ba cạnh nằm trên đường biên của mặt ngoài, mặt ổ mắt và mặt thái dương của xương 6 gò má. Như vậy xương hàm trên có vai trò của một cái giá đỡ chắc chắn cho xương gò má, cùng với xương gò má tạo nên bờ dưới và sàn ổ mắt.

Hai xương này có liên quan với nhau về cơ chế gãy xương và đều ảnh hưởng đến mắt khi bị gãy [20], [25]. Với ổ mắt: Xương gò má, xương hàm trên liên quan mật thiết với ổ mắt. Ổ mắt hình tháp với 4 thành, nền ở trước đỉnh ở sau có 4 thành: Thành trên do phần ổ mắt của xương trán và cánh nhỏ xương bướm tạo nên, ngăn cách ổ mắt với hố sọ trước, ở thành này có hố ròng rọc là nơi bám cơ chéo lớn. Thành trong do mỏm trán xương hàm trên, xương lệ và xương sàng tạo nên.

Thành ngoài gồm cánh lớn xương bướm, mỏm trán xương gò má và xương trán. Thành dưới (hay nền ổ mắt) do mặt ổ mắt của xương hàm trên, xương gò má và diện ổ mắt của xương khẩu cái tạo nên, có rãnh dưới ổ mắt nối với khe dưới ổ mắt và thông với ống dưới ổ mắt. Thành dưới ngăn cách với xoang hàm bởi một vách xương mỏng, trong vách này có động mạch, thần kinh dưới ổ mắt. Khi chấn thương vùng này có thể vỡ sàn ổ mắt nhãn cầu tụt xuống xoang, sập xoang hàm, đứt động mạch và thần kinh dưới ổ mắt [20], [25].

Đỉnh ổ mắt ở phía sau có khe ổ mắt trên và ngay phía trong khe này là ống thị giác. Khe và ống thông với hộp sọ và là nơi các dây thần kinh II, III, IV, VI và nhánh mắt của thần kinh V chui qua để vào ổ mắt. Với xương hàm dưới: Xương gò má cung tiếp, nhất là cung tiếp, có liên quan đến lồi cầu và mỏm vẹt của xương hàm dưới. Khi gãy cung tiếp, có thể gây khó há do kẹt vào mỏm vẹt của xương hàm dưới.

Hoặc trong đa chấn thương, gãy mỏm vẹt xương hàm dưới, do cơ thái dương co kéo lên trên, mỏm vẹt gãy bị kéo lên trên cũng bị kẹt vào cung tiếp [20], [25]. Với xoang hàm trên: Là một hốc trong xương hàm trên có hình tháp giống như xương, xoang này có ba mặt, một nền và một đỉnh. Mặt trước hay mặt má. Mặt trên là nền ổ mắt, ở đây có rãnh và ống dưới ổ mắt, trong đó có 7 thần kinh hàm trên chạy qua.

Mặt sau liên quan đến hố chân bướm hàm, hố chân bướm khẩu cái. Nền hay mặt trong: Liên quan đến mũi có hai phần. Phần liên quan đến ngách mũi dưới và phần liên quan đến ngách mũi giữa. Lỗ thông của xoang hàm trên đổ vào ngách mũi giữa nên khi đầu để thẳng lỗ thông ở chổ trũng để mủ trong xoang, máu trong xoang đổ dễ dàng ra ngoài, ngoài ra bờ dưới của xoang liên quan với các răng cối hàm trên, đặc biệt là răng số 5 và 6.

Đỉnh của xoang có liên quan đến xương gò má. Cơ chế và phân loại gãy hàm gò má 1. Cơ chế Gãy xương tầng mặt giữa thường bao gồm gãy xương hàm trên, xương gò má, ổ mắt, mũi và xương sàng. Gãy tầng mặt giữa thường phân thành 3 loại: Lefort I, Lefort II, Lefort III, gãy phức hợp xương gò má cung tiếp [22].

Các đường gãy Lefort [22] (Nguồn: Trần Ngọc Quảng Phi, Nhà xuất bản Y học năm 2015) Gãy xương gò má được miêu tả từ năm 1751, đây là một loại gãy xương thường gặp và thường do một chấn thương trực tiếp vào thân xương hay vào điểm tiếp khớp của nó với các xương khác. Xương gò má thường di lệch theo hai trục: một trục đứng đi qua khớp trán - gò má và một trục ngang đi từ cung gò má đến lỗ dưới ổ mắt [22], [57]. 8 Chấn thương trực tiếp vào thân xương gò má có thể làm gãy nó nhưng không làm di lệch, hoặc có thể làm lún hẳn xương gò má vào xoang - ổ mắt và làm tách rời các điểm tiếp khớp của xương gò má. Chấn thương ở phía trước của trục đứng sẽ làm xương gò má xoay gần và lún vào trong xoang, gián đoạn bờ dưới ổ mắt, mỏm tiếp tách rời khỏi xương thái dương và nhô lên.

Hướng di lệch xương theo trục dọc (A), trục ngang (B)[66] (Nguồn: Oral and maxillofacial trauma, 2013) Chấn thương vào phía sau trục đứng sẽ làm xương gò má xoay về phía xa, lún vào hố thái dương, gián đoạn bờ dưới ổ mắt, mất độ lồi của của xương gò má [22], [23], [27], [58]. Chấn thương vào phía trên của trục ngang sẽ làm mỏm trán của xương gò má xoay lún vào trong, tách khỏi khớp thái dương gò má, thân xương lún vào trong, mất liên tục bờ dưới ổ mắt, và thường thì xương bị gãy làm nhiều mảnh và hơi bị xệ xuống. Chấn thương vào phía dưới của trục ngang, góc dưới của xương gò má, làm góc dưới xương gò má xoay vào trong, lõm hẳn vào trong xoang, góc trên tách rời hoàn toàn khỏi khớp thái dương gò má, xương gò má thể lún vào trong, làm mất độ lồi của xương gò má. Tuỳ theo vị trí của chấn thương mà các di lệch như trên có thể tách rời hay kết hợp với nhau, tuỳ từng trường hợp.

Xương gò má di lệch [66] (Nguồn: Oral and maxillofacial trauma, 2013) 1. Phân loại gãy hàm gò má Có nhiều cách phân loại, nhưng hiện nay có hai cách phân loại phổ biến là phân loại của Knight & North (1961) và phân loại của Larson & Thomson (1972). Di lệch xương gò má [66] (Nguồn: Oral and maxillofacial trauma, 2013) Các đường gãy trong gãy gò má cung tiếp - Đường 1: Từ khe dưới ổ mắt – dọc sàn ổ mắt – bờ dưới ổ mắt (qua xoang hàm) trong hoặc ngoài bờ dưới ổ mắt. - Đường 2: Khe dưới ổ mắt – xuống dưới qua mặt sau xương hàm trên, nối với đường 1 dưới trụ gò má.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng và Kết Quả Điều Trị Gãy Hàm Gò Má Tại Bệnh Viện Đa Khoa Cần Thơ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân gãy hàm gò má và hiệu quả của các phương pháp điều trị tại bệnh viện. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ và chuyên gia y tế hiểu rõ hơn về tình trạng này mà còn cung cấp thông tin quý giá cho bệnh nhân và gia đình họ về quy trình điều trị và phục hồi.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến phẫu thuật và điều trị chấn thương, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật gãy kín đầu dưới xương đùi bằng nẹp vít khóa tại bv đa khoa trung ương cần thơ, nơi cung cấp thông tin về phẫu thuật gãy xương. Bên cạnh đó, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng hình ảnh x quang và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị gãy mâm chày bằng nẹp vít tại bv đại học y dược cần thơ và bv đa cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp điều trị gãy xương khác. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật wertheim meigs sau xạ trị ung thư cổ tử cung giai đoạn ib iia tại bv ung bướu cần t sẽ cung cấp thêm thông tin về các kỹ thuật phẫu thuật phức tạp hơn.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp cái nhìn đa chiều về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực y tế.