Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về gãy hàm gò má 1. Đặc điểm giải phẫu hàm gò má 1. Đặc điểm xương hàm gò má Xương gò má là một xương của khối xương mặt, nằm ở trên và phía bên mặt, nó tạo thành phần nhô cao của má.
Xương này tiếp khớp ở trên với xương trán, xương bướm và xương hàm trên, ở phía ngoài nó tiếp khớp với mỏm tiếp xương thái dương tạo thành cung tiếp. Nó tạo thành một phần thành ngoài và sàn hốc mắt. Xương gò má có thể mô tả như hình khối mặt có 3 mặt, 5 bờ và 2 mỏm [20], [25].1: Các mặt, mỏm xương gò má [25] (Nguồn: Nguyễn Quang Quyền, Giải phẫu học tập 1 năm 2013) Mặt ngoài hay mặt trước: có hình lồi, còn gọi là mặt gò má, gần bờ ổ mắt thường có hai lỗ thủng cho mạch và thần kinh gò má mặt chui qua. Mặt sau trong hay mặt thái dương: ở phía trước có một diện xù xì để tiếp khớp với xương hàm trên và một diện nhẵn lõm chạy ra sau và lên trên dọc theo mỏm 4 trán tạo thành thành trước và thành bên hố thái dương dưới.
Mặt này có một số lỗ gò má thái dương cho mạch chui qua. Mặt trong hay mặt ổ mắt: nhẵn và lõm tạo nên một phần sàn ổ mắt phía trước bên và liên tiếp với thành bên ổ mắt là mặt trong của mỏm trán. Mặt này có một số lỗ gò má ổ mắt là đường vào của lỗ gò má mặt và gò má thái dương [20], [25]. Bờ ổ mắt nhẵn lõm: tạo thành bờ dưới ngoài ổ mắt, là ranh giới giữa mặt ổ mắt và mặt ngoài.
Bờ trước dưới hay bờ hàm trên: là nơi tiếp khớp với xương hàm trên, bờ này tận cùng phía trong tại một điểm ngay trên lỗ dưới ổ mắt, phía gần bờ ổ mắt có diện bám của cơ nâng môi trên. Bờ sau trên hay bờ thái dương: ngoằn ngoèo, lồi ở trên, lõm ở dưới, liên tiếp với bờ sau của mõm trán và bờ trên của cung tiếp. Bờ này là chỗ bám của cân thái dương. Ngay dưới đường khớp trán gò má là mấu mắt ngoài rất dễ sờ thấy.
Bờ sau dưới: xù xì cho cơ cắn bám. Bờ sau trong: tiếp khớp với cánh lớn xương bướm ở trên và mặt ổ mắt của xương hàm trên ở dưới [20], [25]. Mỏm trán dày: có hình răng cưa, tiếp khớp phía trên là mỏm gò má xương thái dương, tiếp khớp phía sau là cánh lớn xương bướm. Ở mặt ổ mắt, trong phạm vi vành ổ mắt ngay dưới đường khớp gò má có một mấu lồi là chỗ bám của dây chằng mí ngoài, dây chằng treo và một phần gần cơ nâng mi trên.
Mỏm thái dương: chạy thẳng ra sau, có đường khớp răng cưa và hơi xiên để tiếp khớp với mỏm gò má xương thái dương tạo thành cung tiếp. Mặt trong xương, có một ống gò má hình chữ nhân với ba lỗ để cho dây thần kinh thái dương gò má đi qua. Lỗ vào ở trong ổ mắt, trên mảnh ngang của xương, cạnh bờ trước và trên. Hai lỗ ra, một ở mặt ngoài (phía má) và một ở mặt trong (phía hố thái dương) [20], [25].
Đặc điểm các cơ bám xương hàm gò má Góp phần gây di lệch xương gò má khi nó bị gãy. 5 - Cơ nâng môi trên: nguyên ủy từ bờ dưới ổ mắt đến bám tận vào cánh mũi, môi trên [20], [25]. Cơ cắn [20] (Nguồn: Trịnh Văn Minh, giải phẫu người tập 1, năm 2010) - Cơ cắn: Là cơ khoẻ hình chữ nhật che phủ mặt ngoài của cành lên, góc hàm và mỏm vẹt xương hàm dưới. Nó từ bờ dưới và mặt sau của cung tiếp chạy xuống bám vào mặt ngoài góc hàm và mỏm vẹt xương hàm dưới.
Cơ này do nhánh thần kinh V3 chi phối, có tác dụng nâng xương hàm dưới. Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng cơ cắn có tác dụng gây di chứng thứ phát sau điều trị gãy HGM [20], [25]. - Cơ gò má lớn: Từ xương gò má, phía trước đường khớp gò má hàm trên xuống bám vào góc miệng. Khi co, cơ gò má lớn kéo góc miệng lên trên và ra ngoài biểu lộ sự vui tươi.
Thần kinh chi phối là nhánh của dây VII. - Cơ gò má nhỏ: Từ mặt ngoài xương gò má, ngay sau đường khớp gò má – hàm trên chạy xuống dưới vào trong bám vào môi trên [20], [25]. Các bộ phận giải phẫu liên quan xương hàm gò má Với xương hàm trên: Mặt đáy thân xương gò má tiếp khớp với mỏm gò má của xương hàm trên bằng một diện khớp rộng hình tam giác mà ba cạnh nằm trên đường biên của mặt ngoài, mặt ổ mắt và mặt thái dương của xương 6 gò má. Như vậy xương hàm trên có vai trò của một cái giá đỡ chắc chắn cho xương gò má, cùng với xương gò má tạo nên bờ dưới và sàn ổ mắt.
Hai xương này có liên quan với nhau về cơ chế gãy xương và đều ảnh hưởng đến mắt khi bị gãy [20], [25]. Với ổ mắt: Xương gò má, xương hàm trên liên quan mật thiết với ổ mắt. Ổ mắt hình tháp với 4 thành, nền ở trước đỉnh ở sau có 4 thành: Thành trên do phần ổ mắt của xương trán và cánh nhỏ xương bướm tạo nên, ngăn cách ổ mắt với hố sọ trước, ở thành này có hố ròng rọc là nơi bám cơ chéo lớn. Thành trong do mỏm trán xương hàm trên, xương lệ và xương sàng tạo nên.
Thành ngoài gồm cánh lớn xương bướm, mỏm trán xương gò má và xương trán. Thành dưới (hay nền ổ mắt) do mặt ổ mắt của xương hàm trên, xương gò má và diện ổ mắt của xương khẩu cái tạo nên, có rãnh dưới ổ mắt nối với khe dưới ổ mắt và thông với ống dưới ổ mắt. Thành dưới ngăn cách với xoang hàm bởi một vách xương mỏng, trong vách này có động mạch, thần kinh dưới ổ mắt. Khi chấn thương vùng này có thể vỡ sàn ổ mắt nhãn cầu tụt xuống xoang, sập xoang hàm, đứt động mạch và thần kinh dưới ổ mắt [20], [25].
Đỉnh ổ mắt ở phía sau có khe ổ mắt trên và ngay phía trong khe này là ống thị giác. Khe và ống thông với hộp sọ và là nơi các dây thần kinh II, III, IV, VI và nhánh mắt của thần kinh V chui qua để vào ổ mắt. Với xương hàm dưới: Xương gò má cung tiếp, nhất là cung tiếp, có liên quan đến lồi cầu và mỏm vẹt của xương hàm dưới. Khi gãy cung tiếp, có thể gây khó há do kẹt vào mỏm vẹt của xương hàm dưới.
Hoặc trong đa chấn thương, gãy mỏm vẹt xương hàm dưới, do cơ thái dương co kéo lên trên, mỏm vẹt gãy bị kéo lên trên cũng bị kẹt vào cung tiếp [20], [25]. Với xoang hàm trên: Là một hốc trong xương hàm trên có hình tháp giống như xương, xoang này có ba mặt, một nền và một đỉnh. Mặt trước hay mặt má. Mặt trên là nền ổ mắt, ở đây có rãnh và ống dưới ổ mắt, trong đó có 7 thần kinh hàm trên chạy qua.
Mặt sau liên quan đến hố chân bướm hàm, hố chân bướm khẩu cái. Nền hay mặt trong: Liên quan đến mũi có hai phần. Phần liên quan đến ngách mũi dưới và phần liên quan đến ngách mũi giữa. Lỗ thông của xoang hàm trên đổ vào ngách mũi giữa nên khi đầu để thẳng lỗ thông ở chổ trũng để mủ trong xoang, máu trong xoang đổ dễ dàng ra ngoài, ngoài ra bờ dưới của xoang liên quan với các răng cối hàm trên, đặc biệt là răng số 5 và 6.
Đỉnh của xoang có liên quan đến xương gò má. Cơ chế và phân loại gãy hàm gò má 1. Cơ chế Gãy xương tầng mặt giữa thường bao gồm gãy xương hàm trên, xương gò má, ổ mắt, mũi và xương sàng. Gãy tầng mặt giữa thường phân thành 3 loại: Lefort I, Lefort II, Lefort III, gãy phức hợp xương gò má cung tiếp [22].
Các đường gãy Lefort [22] (Nguồn: Trần Ngọc Quảng Phi, Nhà xuất bản Y học năm 2015) Gãy xương gò má được miêu tả từ năm 1751, đây là một loại gãy xương thường gặp và thường do một chấn thương trực tiếp vào thân xương hay vào điểm tiếp khớp của nó với các xương khác. Xương gò má thường di lệch theo hai trục: một trục đứng đi qua khớp trán - gò má và một trục ngang đi từ cung gò má đến lỗ dưới ổ mắt [22], [57]. 8 Chấn thương trực tiếp vào thân xương gò má có thể làm gãy nó nhưng không làm di lệch, hoặc có thể làm lún hẳn xương gò má vào xoang - ổ mắt và làm tách rời các điểm tiếp khớp của xương gò má. Chấn thương ở phía trước của trục đứng sẽ làm xương gò má xoay gần và lún vào trong xoang, gián đoạn bờ dưới ổ mắt, mỏm tiếp tách rời khỏi xương thái dương và nhô lên.
Hướng di lệch xương theo trục dọc (A), trục ngang (B)[66] (Nguồn: Oral and maxillofacial trauma, 2013) Chấn thương vào phía sau trục đứng sẽ làm xương gò má xoay về phía xa, lún vào hố thái dương, gián đoạn bờ dưới ổ mắt, mất độ lồi của của xương gò má [22], [23], [27], [58]. Chấn thương vào phía trên của trục ngang sẽ làm mỏm trán của xương gò má xoay lún vào trong, tách khỏi khớp thái dương gò má, thân xương lún vào trong, mất liên tục bờ dưới ổ mắt, và thường thì xương bị gãy làm nhiều mảnh và hơi bị xệ xuống. Chấn thương vào phía dưới của trục ngang, góc dưới của xương gò má, làm góc dưới xương gò má xoay vào trong, lõm hẳn vào trong xoang, góc trên tách rời hoàn toàn khỏi khớp thái dương gò má, xương gò má thể lún vào trong, làm mất độ lồi của xương gò má. Tuỳ theo vị trí của chấn thương mà các di lệch như trên có thể tách rời hay kết hợp với nhau, tuỳ từng trường hợp.
Xương gò má di lệch [66] (Nguồn: Oral and maxillofacial trauma, 2013) 1. Phân loại gãy hàm gò má Có nhiều cách phân loại, nhưng hiện nay có hai cách phân loại phổ biến là phân loại của Knight & North (1961) và phân loại của Larson & Thomson (1972). Di lệch xương gò má [66] (Nguồn: Oral and maxillofacial trauma, 2013) Các đường gãy trong gãy gò má cung tiếp - Đường 1: Từ khe dưới ổ mắt – dọc sàn ổ mắt – bờ dưới ổ mắt (qua xoang hàm) trong hoặc ngoài bờ dưới ổ mắt. - Đường 2: Khe dưới ổ mắt – xuống dưới qua mặt sau xương hàm trên, nối với đường 1 dưới trụ gò má.