Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng giá trị của bạch cầu tiểu cầu c reactive protein trong tiên lượng tử vong và kết quả điều trị của nhiễm trùng huyết sơ sinh tại bệnh viện n

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và giá trị của bạch cầu tiểu cầu, C-reactive protein trong tiên lượng tử vong nhiễm trùng huyết sơ sinh.

Chuyên ngành

Nhi Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

2021

112
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái quát về nhiễm trùng huyết sơ sinh

1.2. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán nhiễm trùng huyết sơ sinh

1.3. Đánh giá kết quả điều trị và một số yếu tố liên quan đến tử vong trong nhiễm trùng huyết sơ sinh

1.4. Giá trị của BC,TC,CRP trong tiên lượng nhiễm trùng huyết sơ sinh

1.5. Các công trình nghiên cứu về nhiễm trùng huyết sơ sinh

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm trùng huyết sơ sinh

3.3. Đánh giá kết quả điều trị và một số yếu tố liên quan đến tử vong trong nhiễm trùng huyết sơ sinh

3.4. Xác định giá trị tiên lượng tử vong trong nhiễm trùng huyết sơ sinh của BC, TC, CRP

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm trùng huyết sơ sinh. Đánh giá kết quả điều trị và một số yếu tố liên quan đến tử vong trong nhiễm trùng huyết sơ sinh. Xác định giá trị tiên lượng tử vong nhiễm trùng huyết sơ sinh của BC,TC,CRP

KẾT LUẬN

KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nhiễm Trùng Huyết Sơ Sinh Tại Bệnh Viện Nhi Đồng Cần Thơ

Nhiễm trùng huyết sơ sinh là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ, nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh này đã chỉ ra rằng tỷ lệ tử vong vẫn còn cao. Việc hiểu rõ về nhiễm trùng huyết sơ sinh sẽ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ em.

1.1. Định Nghĩa Nhiễm Trùng Huyết Sơ Sinh

Nhiễm trùng huyết sơ sinh được định nghĩa là tình trạng nhiễm trùng nghiêm trọng kèm theo sự hiện diện của vi khuẩn trong máu. Điều này có thể dẫn đến tổn thương nhiều cơ quan và cần được chẩn đoán kịp thời.

1.2. Nguyên Nhân Gây Nhiễm Trùng Huyết Sơ Sinh

Nguyên nhân chính gây nhiễm trùng huyết sơ sinh bao gồm nhiễm trùng từ mẹ, vi khuẩn từ môi trường và các yếu tố nguy cơ khác như sinh non, nhẹ cân. Những yếu tố này cần được theo dõi chặt chẽ để giảm thiểu nguy cơ tử vong.

II. Đặc Điểm Lâm Sàng Của Nhiễm Trùng Huyết Sơ Sinh

Đặc điểm lâm sàng của nhiễm trùng huyết sơ sinh rất đa dạng và không điển hình. Các triệu chứng có thể bao gồm thay đổi thân nhiệt, triệu chứng hô hấp, và triệu chứng tuần hoàn. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để điều trị kịp thời.

2.1. Triệu Chứng Thay Đổi Thân Nhiệt

Trẻ sơ sinh có thể gặp phải tình trạng hạ thân nhiệt hoặc sốt cao. Hạ thân nhiệt thường gặp ở trẻ non tháng, trong khi sốt cao có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng nghiêm trọng.

2.2. Triệu Chứng Hô Hấp Và Tuần Hoàn

Các triệu chứng hô hấp như thở nhanh, tím tái, và triệu chứng tuần hoàn như nhịp tim nhanh hoặc chậm có thể xuất hiện. Những triệu chứng này cần được theo dõi để đánh giá tình trạng sức khỏe của trẻ.

III. Giá Trị Của Bạch Cầu Tiểu Cầu CRP Trong Tiên Lượng Tử Vong

Bạch cầu, tiểu cầu và CRP là những chỉ số quan trọng trong việc tiên lượng tử vong ở trẻ sơ sinh mắc nhiễm trùng huyết. Nghiên cứu cho thấy rằng sự thay đổi trong các chỉ số này có thể giúp dự đoán nguy cơ tử vong và cải thiện kết quả điều trị.

3.1. Vai Trò Của Bạch Cầu Trong Tiên Lượng

Bạch cầu là chỉ số quan trọng trong việc đánh giá tình trạng nhiễm trùng. Sự gia tăng hoặc giảm sút bạch cầu có thể chỉ ra mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng huyết.

3.2. Tiểu Cầu Và CRP Trong Đánh Giá Tử Vong

Tiểu cầu giảm có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng huyết nặng. CRP cũng là một chỉ số phản ứng viêm, giúp đánh giá tình trạng nhiễm trùng và tiên lượng tử vong.

IV. Phương Pháp Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Nhiễm Trùng Huyết

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ với các phương pháp lâm sàng và cận lâm sàng để thu thập dữ liệu về tình trạng nhiễm trùng huyết sơ sinh. Phương pháp này giúp xác định các yếu tố nguy cơ và đánh giá kết quả điều trị.

4.1. Thiết Kế Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp hồi cứu, thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án của trẻ sơ sinh mắc nhiễm trùng huyết tại bệnh viện.

4.2. Phân Tích Dữ Liệu

Dữ liệu được phân tích bằng các phương pháp thống kê để xác định mối liên hệ giữa các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng với kết quả điều trị.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Và Ứng Dụng Thực Tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc theo dõi bạch cầu, tiểu cầu và CRP có thể giúp cải thiện tiên lượng tử vong ở trẻ sơ sinh mắc nhiễm trùng huyết. Những phát hiện này có thể được áp dụng trong thực tiễn lâm sàng để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ.

5.1. Kết Quả Đánh Giá Tử Vong

Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh mắc nhiễm trùng huyết có liên quan chặt chẽ đến các chỉ số bạch cầu, tiểu cầu và CRP.

5.2. Ứng Dụng Trong Lâm Sàng

Các chỉ số này có thể được sử dụng để hướng dẫn điều trị và theo dõi tình trạng sức khỏe của trẻ sơ sinh, từ đó cải thiện kết quả điều trị.

VI. Kết Luận Và Hướng Đi Tương Lai Trong Nghiên Cứu

Nghiên cứu về nhiễm trùng huyết sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ đã cung cấp những thông tin quý giá về đặc điểm lâm sàng và giá trị của các chỉ số cận lâm sàng. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc cải thiện các phương pháp chẩn đoán và điều trị.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này góp phần nâng cao nhận thức về nhiễm trùng huyết sơ sinh và tầm quan trọng của việc theo dõi các chỉ số lâm sàng.

6.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định các yếu tố nguy cơ và phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho nhiễm trùng huyết sơ sinh.

09/07/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng giá trị của bạch cầu tiểu cầu c reactive protein trong tiên lượng tử vong và kết quả điều trị của nhiễm trùng huyết sơ sinh tại bệnh viện n

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về nhiễm trùng huyết sơ sinh 1.1 Các định nghĩa Nhiễm trùng huyết sơ sinh là bệnh gây tổn thương nhiều cơ quan kèm theo du khuẩn huyết, xảy ra trong tháng đầu sau sinh [16]. Nhiễm trùng sơ sinh là khái niệm để chỉ mọi bệnh lý nhiễm trùng xảy ra trong thời kỳ sơ sinh, hoặc cá biệt một số bệnh cảnh khởi phát chậm sau thời kỳ sơ sinh, với mầm bệnh mắc phải trước, trong hoặc sau sinh. Có hai nhóm bệnh lý chính: nhiễm trùng khu trú (da, mắt, phổi, đường tiết niệu, cơ, xương, khớp,…) và nhiễm trùng toàn thân [8].

Nhiễm trùng (infection) là sự hiện diện của vi sinh vật ở những nơi mà bình thường vô trùng, có hay không kèm đáp ứng viêm của cơ thể. Du khuẩn huyết (Bacteremia): có sự hiện diện thoáng qua của vi khuẩn trong máu tuần hoàn được xác định bằng cấy máu [21]. Hội chứng đáp ứng viêm toàn thân (SIRS) khi có ít nhất 2 trong 4 tiêu chuẩn sau, 1 trong 2 tiêu chuẩn bắt buộc là có bất thường về thân nhiệt hay bạch cầu máu ngoại vi. Nhiệt độ tăng > 380C hoặc < 360C.

Nhịp tim nhanh, được định nghĩa là nhịp tim > 2SD giới hạn trên so với tuổi khi không có kích thích bên ngoài, thuốc hay kích thích đau hay nhịp tim nhanh kéo dài trong thời gian 0,5 – 4 giờ mà không giải thích được, hoặc ở trẻ dưới 1 tuổi: nhịp tim chậm, được định nghĩa là nhịp tim < 10 percentile so với tuổi, khi không có kích thích phó giao cảm, thuốc ức chế beta, bệnh tim bẩm sinh hoặc nhịp tim chậm không rõ nguyên nhân trong thời gian 30 phút [8]. 4 Nhịp thở nhanh, định nghĩa là nhịp thở > 2SD so với tuổi hay thông khí cơ học do bệnh lý cấp và không do bệnh lý thần kinh cơ hay gây mê. Bạch cầu tăng hay giảm theo tuổi, hay bạch cầu non > 10% [8]. Các tiêu chuẩn về nhịp tim, nhịp thở và bạch cầu cho hội chứng đáp ứng viêm toàn thân.

Tiêu chuẩn của hội đáp ứng viêm toàn thân [3] Nhịp tim (lần/ Huyết phút) áp tâm Nhịp thở Bạch cầu Tuổi thu (lần/phút) (103/mm3) Nhanh Chậm (mmHg) 0 ngày - 1 tuần >180 < 100 > 50 > 34 < 65 1 tuần - 1 >180 < 100 > 40 > 20 hay < 5 < 75 tháng 1 tháng - 1 >17,5 hay < >180 < 100 > 34 < 100 tuổi 5 Riêng ở trẻ sơ sinh, hiện nay đa số các tác giả dùng từ “Hội chứng đáp ứng viêm bào thai” (FIRS: Fetal Inflammatory Response Syndrome). Hội chứng này biểu hiện khi có ít nhất 2 trong những triệu chứng sau đây: Thở nhanh > 60 lần/phút kèm theo thở rên/co lõm hoặc độ bão hòa oxy giảm. Thân nhiệt không ổn định (< 360C hay > 380C). Thời gian phục hồi màu da > 3 giây.

PCR dương tính [8]. Nhiễm trùng huyết nặng (Severe sepsis): là những bệnh nhân có hội chứng đáp ứng viêm hệ thống và có rối loạn chức năng các cơ quan [21]. 5 Thần kinh: Rối loạn tri giác điểm glasgow ≤ 11 điểm khi chẩn đoán NKN hoặc glasgow giảm từ 3 điểm trở lên so với trước đó. Hô hấp: PaO2/FiO2 < 300 (không có tim bẩm sinh hay bệnh phổi trước đó).

Thận: lưu lượng nước tiểu < 0,5ml/Kg/giờ trong ít nhất 2 giờ mặc dù đã bù dịch hoặc Creatinin >176,8µmol (2mg/dl). Đông máu: INR > 2 hoặc tiểu cầu < 80x109/L. Gan: tăng bilirubin máu (bilirubin toàn phần > 4mg/dl ( > 70µmol/L) ALT > 100U/L. Tụt huyết áp: giảm < 5 percentile theo tuổi (HATT< 60mmHg), HATB < 30mmHg (ở trẻ sinh non) và 40mmHg (ở trẻ đủ tháng).

Sốc nhiễm trùng huyết (Septic Shock): là một phân nhóm của nhiễm trùng huyết nặng, sốc nhiễm trùng huyết là sốc gây ra do nhiễm trùng huyết biểu hiện bằng hạ huyết áp mặc dù được bù đầy đủ thể tích dịch, đi kèm với những rối loạn về phân bố lưu lượng máu [8]. Phân loại nhiễm trùng sơ sinh Nhiễm trùng sơ sinh có thể chia thành các loại dựa theo cách khởi phát và thời gian xuất hiện như sau [8]. Nhiễm trùng sơ sinh sớm (≤ 7 ngày tuổi): là vi khuẩn mắc phải trước và trong khi sinh, khởi bệnh trong 7 ngày đầu tiên sau sinh, 85% xảy ra trong 24 giờ đầu, 5% sau 24 - 48 giờ và một số ít xảy ra từ 3 - 7 ngày sau sinh, bệnh thường nặng và có khả năng tử vong cao [17]. Nhiễm trùng sơ sinh muộn (> 7 ngày tuổi): nhiễm trùng khởi phát sau 7 ngày, vi trùng mắc phải sau sinh thường từ nhiễm trùng bệnh viện hay cộng đồng, từ đường sinh dục mẹ hay từ môi trường xung quanh [17].

Nhiễm trùng bệnh viện: là nhiễm trùng sơ sinh mắc phải do môi trường bệnh viện, có biểu hiện sau 48 giờ sau sinh và gây ra bởi các tác nhân không 6 phải từ mẹ. Nếu bệnh nhân có triệu chứng và cấy có vi trùng sau ít nhất 48 giờ nhập khoa hồi sức sơ sinh mới được gọi là nhiễm trùng bệnh viện. Nhiễm trùng huyết do nhiễm trùng bệnh viện chiếm khoảng 15% và có vai trò quan trọng trong tử vong của bệnh nhân [21]. Giới thiệu về hệ thống miễn dịch Miễn dịch thể dịch: Trẻ sơ sinh đáp ứng kém với kích thích kháng nguyên, không sinh ra kháng thể đặc hiệu nên kháng thể trong cơ thể không cao.

Hơn nữa IgM xuất hiện từ tuần lễ thứ 10, IgG xuất hiện từ tuần 12 và IgA xuất hiện từ tuần lễ 30 trong đó IgG thụ động từ mẹ có khả năng chống lại vi trùng Gram dương sinh mủ có vỏ bọc nhưng không chống lại được vi trùng Gram âm đường ruột, IgG cao nhất lúc sinh và giảm dần vào tháng thứ 6. IgM chống được vi trùng Gram âm, virus và không qua được nhau thai, vì thế khi nồng độ IgM trong máu trẻ sơ sinh tăng thì chứng tỏ có nhiễm trùng sơ sinh [8]. Miễn dịch tế bào: Miễn dịch tế bào cũng như khả năng thực bào vi trùng và siêu vi trùng còn yếu. Miễn dịch tế bào có từ tháng thứ 2 của thai kỳ nhưng đến 2 tuổi mới hoàn chỉnh, bạch cầu mới có khả năng thực bào.

Ngoài ra sức đề kháng của trẻ sơ sinh còn rất yếu do: da trẻ non yếu, pH da kiềm, niêm mạc đường tiêu hóa dễ thấm, số lượng thực bào giảm và ích hiệu quả, dễ bị nhiễm trùng máu trước khi sinh, có thể bị lây nhiễm trong khi sinh [8]. Những yếu tố nguy cơ - Yếu tố nguy cơ từ mẹ: + Mẹ sốt >380C lúc sinh + Mẹ bị nhiễm trùng không sốt + Viêm màng ối 7 + Vỡ ối sớm >18 giờ + Chuyển dạ sanh non + Có huyết trắng hôi/ tuần cuối + hở cổ tử cung [8]. - Yếu tố nguy cơ từ con: + Nhẹ cân, non tháng + Phái nam + Sinh đôi + Dị tật bẩm sinh + Sang thương ngoài da + APGAR thấp <5 điểm (5 phút) + Tim thai >160 lần/phút (kéo dài) [8]. - Yếu tố nguy cơ từ môi trường: + Nằm bệnh viện >3 ngày + Thủ thuật xâm lấn + Khoa sơ sinh quá tải + Tỉ lệ bệnh nhi/ điều dưỡng cao + Thiếu động tác rửa tay + Liệu pháp kháng sinh kéo dài + Phẫu thuật [8].

Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán nhiễm trùng huyết sơ sinh 1. Triệu chứng lâm sàng Triệu chứng lâm sàng của nhiễm trùng huyết sơ sinh rất đa dạng, không đặc hiệu, không điển hình, dễ trùng lấp và nhiều chủng loại, bao gồm 8 nhóm triệu chứng sau đây [10], [15]: - Trẻ không khỏe mạnh, trẻ sinh non, suy dinh dưỡng bào thai. 8 - Triệu chứng thay đổi thân nhiệt: thân nhiệt có thể tăng bình thường hay hạ. Hạ thân nhiệt hay gặp ở trẻ sơ sinh non tháng.

Tăng thân nhiệt khi nhiệt độ hậu môn trẻ sơ sinh hơn 380C. Hiếm khi nhiễm trùng huyết chỉ có duy nhất một triệu chứng thay đổi thân nhiệt mà hay kèm theo triệu chứng của các cơ quan khác [15]. - Triệu chứng hô hấp: gồm các dấu hiệu: tím tái, thở rên, cơn ngưng thở > 20 giây hoặc cơn ngưng thở < 20 giây kèm theo nhịp tim chậm, thở co lõm ngực nặng, thở nhanh ≥ 60 lần/phút, thở chậm < 30 lần/phút, ngưng thở là dấu hiệu trễ của tình trạng nhiễm trùng [10],[11]. - Triệu chứng tuần hoàn: nhịp tim nhanh >160l/phút hay chậm, hạ huyết áp, da xanh tím, nổi bông, thời gian phục hồi màu da ≥ 3 giây.

- Triệu chứng da niêm: vàng da trước 24 giờ, hồng ban, nốt mủ. Cứng bì, phù nề. - Triệu chứng tiêu hóa: bú kém, bỏ bú, nôn ói, dịch dạ dày xanh. Tiêu chảy, chướng bụng, tiêu máu [11].

- Triệu chứng thần kinh: lừ đừ, hôn mê, hay tăng kích thích. Co giật, giảm phản xạ nguyên phát. Giảm hay tăng trương lực cơ, thóp phồng [15]. - Triệu chứng huyết học: Xuất huyết nhiều nơi, tử ban, xuất huyết tiêu hóa.

Gan, lách to, tụ máu dưới da. Triệu chứng ổ nhiễm trùng khởi điểm (tiêu điểm nhiễm trùng). - Nhiễm trùng đường tiêu hóa như viêm ruột, áp xe gan, viêm túi mật, viêm phúc mạc, thủng ruột, viêm đại tràng, viêm ruột hoại tử,…. - Nhiễm trùng đường hô hấp như: viêm phổi, áp xe phổi,… - Nhiễm trùng da, niêm mạc như: nhọt, mụn mủ, bóng nước, áp xe ở da, nhiễm trùng rốn,….

- Nhiễm trùng từ đường tim mạch như: viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, áp xe cơ tim, áp xe cạnh van tim,… 9 - Nhiễm trùng đường sinh dục, tiết niệu như viêm đài bể thận, áp xe thận, nhiễm trùng tiểu,…. - Nhiễm trùng từ các đường truyền tĩnh mạch, các catheter mạch máu,. Cận lâm sàng - Công thức máu: Bạch cầu: đo một lần, nhất là ngay sau sinh không có giá trị tiên đoán nhiễm trùng so với khảo sát lúc 12-24 giờ tuổi và lặp lại một lần nữa sau 12- 24 giờ. Bạch cầu ở trẻ sơ sinh có giới hạn cao hơn so với người lớn và trẻ lớn.

Bạch cầu tăng khi số lượng trên 30.000/mm3(trong 24 giờ đầu sau sinh) hay trên 20. Bạch cầu giảm khi số lượng này dưới 6.000/mm3 (trong 24 giờ sau sinh) và dưới 5. Ở trẻ sơ sinh, giảm bạch cầu có ý nghĩa chẩn đoán hơn là tăng bạch cầu. Giảm bạch cầu là yếu tố tiên lượng nặng.

Số lượng tuyệt đối của neutrophil < 1.500/mm3 là một dấu hiệu tiên lượng xấu. Sự hiện diện của các dạng bạch cầu non đặc hiệu hơn nhưng ít nhạy cảm [8]. Hemoglobin và hematocrit: thường trong giới hạn bình thường nhưng có thể giảm đối với trẻ bị nhiễm trùng huyết nặng, do sự ức chế tủy và tăng phá hủy hồng cầu do độc tố của vi khuẩn. Khi Hct < 30% có thể phải truyền máu, do đó cần lặp lại xét nghiệm này nhiều lần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng và Giá Trị Của Bạch Cầu, Tiểu Cầu, CRP Trong Tiên Lượng Tử Vong Nhiễm Trùng Huyết Sơ Sinh Tại Bệnh Viện Nhi Đồng Cần Thơ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chỉ số bạch cầu, tiểu cầu và CRP trong việc dự đoán nguy cơ tử vong ở trẻ sơ sinh mắc nhiễm trùng huyết. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ hiểu rõ hơn về các yếu tố lâm sàng liên quan mà còn cung cấp thông tin quý giá cho việc cải thiện quy trình chẩn đoán và điều trị.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và vi khuẩn trong viêm mũi xoang cấp ở trẻ em tại bệnh viện sản nhi nghệ an, nơi khám phá các bệnh lý hô hấp ở trẻ em. Bên cạnh đó, tài liệu Nghiên cứu giá trị của phosphatase kiềm lysozyme adenosine deaminase và interferon gamma trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao cũng sẽ giúp bạn hiểu thêm về các chỉ số sinh hóa trong chẩn đoán bệnh. Cuối cùng, tài liệu Khảo sát tương hợp tỷ lệ thấm nhập lymphô bào trong mô u của ung thư biểu mô vú xâm nhiễm giữa mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ sẽ cung cấp cái nhìn về vai trò của hệ miễn dịch trong các bệnh lý ác tính.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới cho bạn.