CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về hội chứng gây suy giảm sinh sản ở lợn (PPV - Porcine parvovirut) 1. Sự phát hiện và phát sinh dịch bệnh của bệnh PPV Trên thế giới Porcine Parvovirut (PPV) được công nhận là nguyên nhân gây ra suy giảm sinh sản hay còn gọi là hội chứng SMEDI (Stillbirth, mummification, embronic death and infertility: chết non, ướp xác, chết phôi và vô sinh) trên lợn vào cuối những năm 1960.
Vì vậy, bệnh này thường được gọi với tên dân dã là “Bệnh thai gỗ” (Hình 1. Bệnh này được mô tả lần đầu tiên ở Đức và Mỹ vào năm 1965, sau đó là trên phạm vi toàn thế giới (Cartwright & Huck., 1973; Joo và cs. PPV được xem là tác nhân chính gây rối loạn sinh sản ở lợn ở hầu hết các nước trên thế giới (Straw, B. Tại Việt Nam Trong những năm gần đây hội chứng suy giảm sinh sản lợn do virut PPV đã nổi lên như một vấn đề cần quan tâm của ngành chăn nuôi lợn.
Bệnh gây ảnh hưởng đến các đàn lợn nái sinh sản. Tần số rối loạn sinh sản ở các lứa đầu cao hơn các lứa sau. Các vùng sinh thái khác nhau được cho là không có ảnh hưởng đáng kể tới tỷ lệ rối loạn sinh sản ở lợn nái. Kết quả xét nghiệm 4.166 mẫu huyết thanh lấy từ các trang trại lợn nái tỉnh Long An cho thấy số mẫu dương tính với virut PPV chiếm 69,5%.
Phân tích 52 mẫu thai chết lưu đã phát hiện thấy có sự xuất hiện đồng thời của virut PPV và kháng thể PPV (Nguyễn Huỳnh. Triệu chứng lâm sàng Dấu hiệu lâm sàng chính của lợn nái nhiễm PPV đặc trưng bởi hiện tượng sảy thai, đẻ non, thai hóa gỗ với nhiều kích thước khác nhau, chết phôi và giảm khả năng sinh sản (giảm lứa đẻ). Hầu hết các trường hợp nhiễm PPV đơn thuần không gây triệu chứng lâm sàng ở lợn trưởng thành hoặc lợn con. Độc lực của PPV được xác định bởi mức độ nghiêm trọng của sự suy giảm khả năng sinh sản mà nó có thể gây ra ở lợn nái.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hình ảnh thai gỗ do lợn nái nhiễm PPV.com/pathology-atlas/mummified-fetuses_56 ) Biểu hiện bệnh chỉ thấy ở lợn nái chửa, lợn nái sinh sản. Các kết quả nghiên cứu cho thấy 7 - 8 ngày sau khi lợn nái chửa bị nhiễm virut thì bị sốt kèm theo giảm lượng bạch cầu. Đây là kết quả của sự nhiễm trùng huyết.
Trong thời gian này, virut có thể được phân lập từ máu và trong các mô tổ chức có khả năng sinh trưởng cao như niêm mạc phổi, tế bào gan, lách, thận, tinh trùng, nhau thai và bào thai. Ngay sau khi virut vào đến bào thai, chúng gây chết thai của nái chửa dưới 44 ngày. Các bào thai chết ở các nái này có thể bị phân huỷ và được hấp thụ ngược lại hoàn toàn nếu bào thai dưới 35 - 36 ngày tuổi. Lúc đó, lợn lại có thể động dục trở lại.
Nếu virut vào sau 44 ngày kể từ khi mang thai thì quá trình chửa vẫn xảy ra bình thường nhưng khi đó sẽ có một số thai chết hoặc phát triển kém cho đến lúc sinh, trong khi đó một số thai vẫn phát triển bình thường. Phụ thuộc vào thời điểm nhiễm virút gây bệnh, nên lúc lợn đẻ ta có thể thấy có sự khác nhau lớn trong quá trình phát triển của bào thai của cùng 1 nái đẻ: khi thì bị thai khô, khi thì thai chết, một số con thì phát triển bình thường với các kích cỡ khác nhau. Lúc đẻ ra con thì chết yểu ngay sau khi đẻ, con sống bình thường. Đôi khi chúng ta cũng ghi nhận được một số nái bị sảy thai.
Song sảy thai không phải là dấu hiệu điển hình của bệnh. Đường truyền lây của virut Bệnh xảy ra chủ yếu trên lợn nái hậu bị, nái đã đẻ nhiều lứa và lợn đực dưới 70 - 80 ngày tuổi, đặc biệt với những con nái không có miễn dịch thường nhiễm PPV vào giai đoạn đầu của thai kỳ. Virut được tìm thấy trong dịch mũi, hạch, amidan, nước tiểu và phân. Đối với nái: virut thường xuất hiện ở màng niêm mạc âm hộ, trên lợn nọc: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com virut thường ờng có ở dịch tinh hoàn và tinh trùng.
Con đường ờng xâm nhiễm chính của PPV là qua mũi, miệng và đường sinh dục. Virut xâm nhiễm qua đường ờng mũi miệng hay đường ờng sinh dục, khoản khoảng 10 ngày sau trên lợn cái virut đi vào đường ờng máu gây giảm bạch cầu, và từ ngày 10 – 14 virut vào đến nhau thai. Virut có thểể xuyên qua màng nhau thai ở ngày thứ 30 sau khi thụ tinh và làm cho toàn bộộ số phôi bị lây nhiễm bị chết và hóa gỗ. Những nái bị nh nhiễm virut vào giai đoạn ạn cuối của thời kỳ mang thai có thểể không gây chết thai.
Riêng đối với lợn đực, có thểể phát hiện thấy virut trong dịch tinh hoàn và tinh trùng khoảng 5 – 9 ngày sau khi nhiễm. Ngoài ra, bệnh có thể lây lan từ nọc sang lợn nái hoặc ng ngược lại do giao phối ối trực tiếp với heo mắc bệnh hoặc gieo tinh nhân tạo từ tinh dịch của nọc mắc bệnh. PPV cũng ũng truyền từ mẹ sang con qua nhau thai. Kết quả nhiễm trùng ở bào thai tùy thuộc vào thời điểm ểm nhiễm PPV trên lợn nái mang thai.
Các nghiêm cứu thực nghiệm ệm và nghiên cứu dịch tễ chỉ ra rằng nhiễm PPV trong 6 tháng đầu của thai kỳ có thể dẫn đến việc sảy thai. Phôi thai lợn có khả năng miễn dịch sau ngày thứ 70 của thai kỳ. Sự lây truyền ền theo chiều dọc từ mẹ sang con thông qua nhau thai mất từ 12 đến 18 ngày, do đó nếu ếu lợn nái bị nhiễm PPV sau ngày thứ 56 của thai kỳ th thường không gây tổn hại cho đàn con. Các mốc ốc thời gian chính của sự nhiễm virut PPV và đáp ứng miễn dịch (Meszaros và cs.2 cho thấy ấy dòng màu xanh lá cây thể hiện thòi gian các kháng thể từ ccơ thểể lợn nái bảo vệ thai thụ động cho đến ến 22 tuần tuổi.
Các con nái nên được tiêm chủng ngay sau khoảng ảng thời gian này khi các kháng thể bắt đầu ầu cạn kiệt, nhờ có sự tăng cường của vaccine con nái sẽẽ duy tri miễn dịch lâu dài. Dòng màu đỏ thể hiện 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoảng thời gian phôi dễ bị nhiễm virut PPV cho đến khi phát triển của khả năng miễn dịch ở sau ngày thứ 70 của thai kỳ (Meszaros và cs., 2017) Virut PPV có thể tồn tại được ở môi trường bên ngoài và truyền nhiễm bệnh trong nhiều tháng. Các dụng cụ chăn nuôi và chuồng trại bị ô nhiễm có thể là nguồn truyền nhiễm PPV liên lục. Loại virut này cũng có thể bám vào quần áo của người chăn nuôi và di chuyển từ trang trại này sang trang trại khác, và ngoài ra người ta cũng cho rằng các loài gặm nhấm có thể đưa tác nhân này vào các đàn gia súc mới (Streck và cs.
Tổng quan về virut PPV (Porcine Parvovirut) 1. Đặc điểm của virut Tác nhân gây bệnh là virut thuộc giống Parvovirut, phân họ Parvoviride nhiễm trên động vật có xương sống. Các nghiên cứu về dịch tễ và chẩn đoán đã chứng minh rằng PPV là nguyên nhân chính gây nên chết phôi và làm suy giảm sinh sản ở lợn. PPV là virut không vỏ, có kích thước nhỏ, hình dạng tròn, đường kính khoảng 18 - 26 nm, cấu trúc đối xứng 20 mặt (Hình 1.
Đây là loại virut bền với các yếu tố môi trường, có thể chịu được ngưỡng pH rộng từ 3,0 - 8,0 có khả năng chịu nhiệt đến hàng giờ ở 80°C. PPV có đặc điểm không dễ dàng nhân lên trong điều kiện in vitro bởi vì virut này có xu hướng tạo ra nhiều tiểu phần tương tác khiếm khuyết đặc biệt trong trường hợp nuôi cấy với nồng độ cao hoặc nhiều lần cấy chuyển (Choi và cs. Cấu trúc virut Hình 1. Cấu trúc của Parvovirut (viralzone.org) CP: capsid protein; ssDNA (single-strand DNA): ADN sợi đơn.
Vật liệu di truyền của virut là ADN sợi đơn, mạch thẳng, âm, với kích thước phân tử khoảng 5kb (Molitor và cs. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cấu trúc hệ gen điển hình của Parvovirut được trình bày ở hình 1. Hệ gen của PPV được đặc trưng bởi cấu trúc kẹp tóc (hairpin) ở hai đầu tận cùng 5’- 3’ (Bergeron và cs., 2006) và 2 khung đọc mở (Open reading frame – ORF) mã hóa cho protein không cấu trúc (non-structural protein – NSP) và protein vỏ capsid (VP). Đầu 3’ của ADN virut có cấu trúc hình dạng chữ Y giống với Parvovirut của loài gặm nhấm.
Đầu 5’- chứa vùng lặp lại 127 về phía đầu C- của protein capsid. ORF1 mã hóa cho các protein không chức năng (NS1, NS2 và NS3) tổng hợp các enzyme có hoạt tính helicase và nickase cần thiết cho quá trình sao chép, có tính bảo tồn cao, ORF2 mã hóa cho các protein chức năng (VP1, VP2 và VP3) như capsid protein. VP1 và VP2 được dịch mã bởi các ARN khác nhau, trong khi đó VP3 được tạo nên do việc phân cắt protein từ VP2 (Molitor và cs., 1983; Ran và cs., 1989; Bergeron và cs. Cấu trúc hệ gen Parvovirut điển hình (viralzone.org) Non-structural ORF: Khung đọc mở mã hóa protein không chức năng StructuralORF: Khung đọc mở mã hóa protein chức năng NS: Gen mã hóa protein không chức năng; VP: Gen mã hóa capsid protein 1.
Các phương pháp phát hiện PPV Phương pháp sinh học phân tử là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất hiện nay trong chẩn đoán nhằm phát hiện một số đặc điểm của vật liệu di truyền (ADN, ARN) ở tác nhân bệnh, thường được sử dụng để sàng lọc nhanh, phát hiện, định type, định lượng, xác định tính kháng thuốc của các tác nhân bệnh, chủ yếu là virut và vi khuẩn. Bên cạnh ưu điểm về độ nhạy, độ đặc hiệu, phát hiệm sớm, thời gian xét nghiệm nhanh, chẩn đoán phân tử vẫn có một số nhược điểm như khả năng cho kết quả dương tính và âm tính giả, ý nghĩa lâm sàng của kết quả chẩn đoán trong một số 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường hợp không rõ ràng, thiếu tính thống nhất trong kết quả thu được từ các kit khác nhau, cần thiết bị đắt tiền và kỹ thuật viên lành nghề. Dưới đây là một số phương pháp cho phép phát hiện và chẩn đoán sớm tác nhân gây bệnh. Chẩn đoán lâm sàng Heo nái bị bệnh thường không có dấu hiệu lâm sàng rõ ràng.