Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa, Oresol và nước khoáng

Luận văn đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa, oresol và nước khoáng. So sánh và tìm ra lựa chọn tối ưu để phục hồi điện giải.

Trường đại học

Trường Đại Học Vinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Sinh Học

2009

74
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tại sao bù dịch sau vận động là cần thiết

Trong quá trình vận động, cơ thể tiêu hao năng lượng gấp 10-20 lần so với lúc nghỉ ngơi. Lượng vận động càng lớn, sinh nhiệt càng nhiều, dẫn đến mất nước và điện giải qua mồ hôi. Một người có thể mất hơn 1 lít nước trong 1 giờ tập luyện. Sự mất nước này ảnh hưởng đến hệ tim mạch, giảm thể tích máu, gây rối loạn chuyển hóa tế bào và đau co cứng cơ. Do đó, bù dịch sau vận động không chỉ giúp phục hồi nhanh mà còn duy trì sức khỏe và hiệu suất tập luyện. Việc bù đắp nước và điện giải đúng cách sẽ giúp cơ thể cân bằng chất lỏng hiệu quả.

1.1. Quá trình mất nước trong tập luyện

Khi vận động, cơ thể tăng bài tiết mồ hôi để điều hòa thân nhiệt. Lượng nước mất đi có thể vượt quá 1 lít mỗi giờ tùy thuộc vào cường độ tập luyện và điều kiện thời tiết. Mất nước làm giảm thể tích máu, ảnh hưởng đến tuần hoàn máu và hiệu suất cơ thể, đặc biệt trong điều kiện tập luyện với cường độ cao.

1.2. Tầm quan trọng của điện giải

Không chỉ mất nước, cơ thể cũng mất điện giải (natri, kali, clorua) qua mồ hôi. Phục hồi sự mất nước cần bù đủ cả điện giải để đảm bảo cân bằng chất lỏng. Nếu chỉ uống nước tinh khiết mà không bù điện giải, cơ thể sẽ không phục hồi hoàn toàn.

II. Nước dừa non lựa chọn tự nhiên

Nước dừa non là một trong những giải pháp tự nhiên tốt nhất để bù dịch sau vận động. Nước dừa chứa các chất điện giải quan trọng như natri, kali và magie, cùng với carbohydrate tự nhiên giúp cơ thể hấp thụ nước hiệu quả. Thành phần osmolarity của nước dừa gần giống với huyết tương, giúp nước được hấp thụ nhanh chóng. Ngoài ra, nước dừa có vị ngon tự nhiên kích thích vị giác, khuyến khích người uống tiêu thụ nhiều hơn, từ đó bù đắp tốt hơn lượng nước đã mất. Ở Việt Nam, nước dừa là thức uống dễ kiếm, giá thành rẻ và an toàn cho sức khỏe.

2.1. Thành phần dinh dưỡng của nước dừa

Nước dừa non chứa kali, natri, clorua, magie và các ion quan trọng khác. Ngoài ra còn có carbohydrate tự nhiên giúp cơ thể phục hồi năng lượng. Thành phần này gần giống với dung dịch bù dịch y tế, nhưng hoàn toàn từ thiên nhiên.

2.2. Ưu điểm bù dịch với nước dừa

Hấp thụ nhanh, có vị ngon kích thích uống nhiều hơn, giá rẻ, an toàn và dễ kiếm tại Việt Nam. Nước dừa không chứa chất bảo quản hay hóa chất nhân tạo, phù hợp cho bù dịch lâu dài.

III. Oresol dung dịch bù dịch y tế

Oresol (Oral Rehydration Solution) là dung dịch bù dịch được khuyến cáo bởi WHO và các tổ chức y tế quốc tế. Oresol được pha với tỷ lệ nước, muối và đường cụ thể, đảm bảo bù đúng lượng điện giải cần thiết. Dung dịch này được thiết kế để hấp thụ nước hiệu quả nhất, giúp cơ thể nhanh chóng hồi phục cân bằng chất lỏng. So với nước tinh khiết, Oresol có khả năng bù dịch toàn diện với liều lượng chính xác. Tuy nhiên, Oresol có vị mặn nhẹ, có thể không hấp dẫn như nước dừa đối với một số người.

3.1. Cơ chế hoạt động của Oresol

Oresol hoạt động theo nguyên lý co-transport glucose-sodium, giúp nước được hấp thụ qua ruột nhanh chóng. Tỷ lệ glucose:sodium:chloride được tính toán khoa học để tối ưu hóa quá trình bù dịch.

3.2. Hiệu quả bù dịch của Oresol

Oresol là lựa chọn chính thức y tế được nhiều quốc gia khuyến cáo. Nó đảm bảo bù đủ nước và điện giải với liều lượng chuẩn, nhưng vị mặn có thể làm giảm khả năng uống nhiều so với nước dừa.

IV. Nước khoáng bù dịch hiện đại

Nước khoáng chứa các chất khoáng thiên nhiên như canxi, magie và các ion khác, tuy nhiên hàm lượng điện giải và carbohydrate thường không đủ để bù dịch hiệu quả sau vận động so với nước dừa hay Oresol. Nước khoáng chủ yếu cung cấp nước và một số chất khoáng, nhưng không có đủ natri và kali cần thiết để phục hồi cân bằng điện giải hoàn toàn. Khi so sánh ba loại dịch, nước khoáng là lựa chọn ít hiệu quả nhất cho bù dịch chuyên biệt sau vận động cường độ cao. Tuy nhiên, nước khoáng vẫn có thể sử dụng để bù nước cơ bản trong các hoạt động nhẹ.

4.1. Thành phần và hạn chế của nước khoáng

Nước khoáng chứa canxi, magie, kali nhưng hàm lượng thường thấp. Thiếu carbohydrate và natri đủ để hấp thụ nước tối ưu, làm hiệu quả bù dịch kém hơn hai lựa chọn còn lại.

4.2. Khi nào nên sử dụng nước khoáng

Nước khoáng phù hợp cho bù nước hàng ngày và hoạt động thể chất nhẹ. Đối với vận động viên cần phục hồi nhanh sau tập luyện cường độ cao, nước dừa hoặc Oresol là lựa chọn tốt hơn.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong tập luyện TDTT sự tiêu hao năng lƣợng và trao đổi chất của cơ thể lúc tập luyện lớn gấp 10-20 lần so với lúc nghỉ ngơi. Phần lớn năng lƣợng tiêu hao cho hoạt động cơ bắp, phần khác cho quá trình chuyển hoá. Lƣợng vận động tập luyện càng lớn, sinh nhiệt càng nhiều, thân nhiệt càng cao.

Do đó để điều hòa thân nhiệt, cơ thể tăng thải nhiệt bằng tăng bài tiết mồ hôi, vì thế sẽ xảy ra tình trạng cơ thể mất nƣớc và điện giải [4]. Lƣợng nƣớc mà cơ thể mất trong tập luyện có thể vƣợt quá 1 lít nƣớc/1 giờ [22]. Mất nƣớc và điện giải sẽ làm ảnh hƣởng đến hoạt động của hệ tim mạch, giảm thể tích máu, giảm bài tiết nƣớc tiểu, gây rối loạn chuyển hoá tế bào, làm tăng urê máu, gây đau và co cứng cơ [3], [4]. Sự bù đắp nƣớc và điện giải trƣớc và trong quá trình vận động là không đủ để bù lại lƣợng chất lỏng đã bị mất nhất là trong điều kiện tập luyện với cƣờng độ cao và khí hậu nóng ẩm [14].

Ngoài ra, phục hồi sự mất nƣớc sau tập luyện không chỉ yêu cầu bù lƣợng nƣớc đã tổn hao mà còn cần tính đến bù đủ điện giải đã mất. Do vậy, để giúp cơ thể nhanh chóng hồi phục cân bằng nƣớc và điện giải, cần bù đắp một lƣợng nƣớc và điện giải ngay sau vận động. Một trong những yêu cầu để phục hồi đƣợc lƣợng nƣớc đã mất sau tập luyện TDTT là lƣợng nƣớc uống bù vào phải lớn hơn lƣợng nƣớc đã tổn hao [4], [14], [34]. Sau vận động do mất nƣớc nhiều nên cơ thể mệt mỏi, cảm giác vị giác kém và việc uống nƣớc để phục hồi cân bằng chất lỏng là khó khăn do vậy nếu nƣớc khó uống sẽ hạn chế sự bù nƣớc sau vận động.

Bởi vậy cảm quan của nƣớc uống rất quan trọng vì nó sẽ kích thích vị giác của ngƣời uống giúp uống đƣợc nhiều hơn [34]. Tại Việt Nam theo khảo sát của Trung tâm dinh dƣỡng và Sở TDTT thành phố Hồ Chí Minh, đa số vận động viên bù nƣớc một cách tự phát do 3 khát chứ chƣa ý thức rõ ràng về việc bù nƣớc để phục hồi cân bằng chất lỏng cho cơ thể [7]. Trên thế giới cũng đã có một số công trình nghiên cứu về bù dịch cho vận động viên sau vận động nhƣ “Đánh giá hiệu quả bù dịch của nƣớc dừa với đồ uống giải khát chứa carbonhydrate và nƣớc lọc [34] hay “Phục hồi sự mất nƣớc sau vận động với nƣớc giải khát thông thƣờng và nƣớc tinh khiết” [26]. Dù vậy, số lƣợng các nghiên cứu về vấn đề này còn ít, các loại dịch dùng để bù nƣớc và điện giải sau vận động cũng chƣa phong phú và đặc biệt là không thích hợp cho điều kiện ở Việt Nam.

Để làm phong phú thêm các nghiên cứu cho vấn đề này và đƣa ra gợi ý cho việc lựa chọn, sử dụng một loại dịch phù hợp nhằm phục hồi tổn hao chất lỏng và điện giải sau vận động chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, oresol và nước khoáng” 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động của nƣớc dừa non, dung dịch oresol và nƣớc khoáng. - So sánh hiệu quả bù dịch sau vận động giữa nƣớc dừa non với dung dịch oresol và với nƣớc khoáng. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Lƣợng nƣớc trong cơ thể 1. Hàm lượng nước trong cơ thể Nƣớc chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ thể, ở ngƣời trƣởng thành nƣớc chiếm khoảng 55 - 65% trọng lƣợng cơ thể và thay đổi theo tuổi, giới tính, thể trạng. Ngay trong một cơ thể hàm lƣợng nƣớc cũng thay đổi theo tổ chức và các cơ quan khác nhau [14]. Tỷ lệ nƣớc trong cơ thể trẻ em và ngƣời trƣởng thành Đối tƣợng (năm tuổi) % nƣớc Trẻ em Sơ sinh 75 1 tuổi 58 6- 7 tuổi 62 Nam trƣởng thành 16- 30 tuổi 58,9 31- 60 tuổi 54,7 61- 69 tuổi 51,6 Nữ trƣởng thành 16- 30 tuổi 50,9 31- 91 tuổi 45,2 1.

Phân bố nước trong cơ thể Nƣớc đƣợc phân bố đều khắp mọi tổ chức trong cơ thể và đƣợc chia làm hai khu vực: - Nƣớc trong tế bào chiếm khoảng 55% tổng lƣợng nƣớc của toàn bộ cơ thể và chủ yếu là nƣớc kết hợp. 5 - Nƣớc ngoài tế bào chiếm 45% tổng lƣợng nƣớc của toàn bộ cơ thể và là nƣớc tự do hay nƣớc lƣu thông. Nƣớc ngoài tế bào đƣợc chia làm hai loại: Nƣớc trong mạch máu và nƣớc ở gian bào. Giữa hai phần đƣợc phân cách bởi thành mạch máu; thành mạch cũng cho nƣớc đi qua một cách chọn lọc và kiểm soát chặt chẽ những chất hoá học đi qua.

Thể tích nƣớc trong mạch máu và trong tế bào tƣơng đối hằng định. Nƣớc gian bào có thể tăng hoặc giảm để đáp ứng với tổng lƣợng nƣớc trong cơ thể. Trong trƣờng hợp này phần lớn nƣớc gian bào đƣợc coi nhƣ là một „„vùng đệm‟‟, từ đó nƣớc có thể vào trong tế bào hoặc ra ngoài tế bào để cân bằng nồng độ nƣớc giữa trong và ngoài tế bào. Nƣớc trong và ngoài tế bào bị phân cách bởi màng bán thấm của tế bào; màng này cho phép nƣớc đi qua một cách có chọn lọc.

Sự phân bố nƣớc trong cơ thể Nƣớc theo khu vực Tỷ lệ % Trong tế bào 55% Ngoài tế bào 45% Trong huyết tƣơng, bạch huyết 7,5% Các mô liên kết 7,5% Tổ chức xƣơng sụn 8,0% Các dịch sinh học khác 2,0% Nƣớc di chuyển giữa các vùng trong cơ thể theo cơ chế khuếch tán thụ động. Nƣớc di chuyển từ vùng có nồng độ nƣớc cao tới vùng có nồng độ nƣớc thấp. Con đƣờng này đƣợc gọi là quá trình thẩm thấu. Hƣớng di chuyển của nƣớc khi thẩm thấu phụ thuộc vào nồng độ chất hoà tan trong dung dịch, áp lực thẩm thấu và phụ thuộc vào mặt trong hay ngoài của màng thẩm thấu.

Sự di chuyển của nƣớc sẽ ngừng lại khi áp lực thẩm thấu của hai màng tế bào cân bằng nhau. Nhƣ vậy nƣớc có thể di chuyển qua màng tế bào một cách tự do 6 nhằm cân bằng áp lực thẩm thấu trong và ngoài màng tế bào. Đây là con đƣờng cơ bản của việc tự điều hoà áp lực thẩm thấu của cơ thể, điều hoà nƣớc giữa các khoang của cơ thể, giữa trong và ngoài tế bào. Chức năng của nước trong cơ thể 1.

Là dung môi Dung môi là một dung dịch lỏng để hoà tan nhiều chất hoá học khác nhau; nƣớc là một dung môi sống. Không có dung dịch nƣớc rất ít các phản ứng hoá học có thể xảy ra, các chức năng sống của cơ thể không thể điều hoà và thực hiện đƣợc. Nhờ việc hoà tan vào dung môi trong hoặc ngoài tế bào mà các chất hoá học của cơ thể sống có thể tồn tại và linh động thực hiện các chức năng trong cơ thể sống. Khi thực phẩm vào cơ thể, nó sẽ đƣợc tiếp xúc ngay với các dịch tiêu hoá (chứa nhiều nƣớc) tại nƣớc bọt, trong dạ dày, ruột non.

Thực phẩm đƣợc nhào trộn và phản ứng với các chất hoá học để thực hiện chức năng tiêu hoá. Các chất dinh dƣỡng sẽ đƣợc hấp thu vào máu: Máu chứa khoảng 3 lít nƣớc. Nƣớc trong mạch máu giúp cho máu có dạng lỏng và hoà tan các chất dinh dƣỡng, để vận chuyển chúng đến các mô và tế bào của cơ thể. Nƣớc trong mách máu còn có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển nhiều chất quan trọng khác nhƣ hoocmon, các kháng thể từ nơi tổng hợp đến tận cơ quan sử dụng chúng.

Những chất thừa sinh ra trong quá trình chuyển hoá nhƣ cacbon dioxit, urê… cũng đƣợc hoà tan trong nƣớc của máu và đƣợc chuyển đến thận và phổi để vận chuyển ra ngoài. Những sản phẩm thừa của quá trình chuyển hoá trong tế bào sẽ đi theo con đƣờng ngƣợc lại để ra khỏi tế bào. Nƣớc trong tế bào là một môi trƣờng để các chất dinh dƣỡng tham gia vào các phản ứng sinh hoá nhằm xây dựng và duy trì tế bào. Nƣớc cũng là môi trƣờng để các chất chuyển hoá đƣợc vận chuyển từ các cơ quan khác nhau trong tế bào, tạo nên môi trƣờng thuận lợi cho các phản ứng xảy ra trong tế bào.

7 Nƣớc đóng vai trò quan trọng trong việc trong việc duy trì cấu trúc và hình dạng của màng tế bào. Sự tƣơng tác chọn lọc giữa phân tử nƣớc và phần ƣa nƣớc của màng tế bào tạo nên một lực đẩy chuỗi hydrocacbon kị nƣớc tạo nên và duy trì cấu trúc của màng tế bào. Chất phản ứng Các chất tham gia vào phản ứng hoá học đƣợc gọi là chất phản ứng. Nƣớc là một chất phản ứng tham gia vào các phản ứng khác nhau của cơ thể.

Trong quá trình phản ứng, phân tử nƣớc thƣờng bị phân tách, cho nguyên tử H, ion H+, nguyên tử O, ion O2-, nhóm OH hoặc OH- tham gia vào các phản ứng hoá học của cơ thể. Trong phản ứng thủy phân các phần tử có trọng lƣợng lớn nhƣ polysacchariede, chất béo, đạm đƣợc phân cắt thành các phần tử nhỏ hơn khi phản ứng với nƣớc. Trong quá trình thủy phân, ion H+ từ nƣớc đƣợc tách ra và gắn vào các phần tử nhỏ mới tạo thành, trong khi đó phần OH- còn lại sẽ gắn với các sản phẩm khác của phản ứng. Nƣớc còn tham gia vào nhiều sản phẩm khác của các phản ứng trong tế bào.

Chất bôi trơn Các dung dịch lỏng có tính bôi trơn do chúng dễ dàng bao phủ lên các chất khác, nƣớc có tác dụng bôi trơn các cơ quan quan trọng của cơ thể, đặc biệt là nơi tiếp xúc các đầu nối, bao hoạt dịch và màng bao, tạo nên sự linh động tại đầu xƣơng và sụn, màng phổi, cơ hoành và miệng. Điều hòa nhiệt độ Nƣớc có một vai trò quan trọng trong việc điều hòa nhiệt độ cho cơ thể. Nhiệt sinh ra do quá trình chuyển hoá, oxy hoá sinh năng lƣợng của các chất dinh dƣỡng. Năng lƣợng sinh ra có tác dụng duy trì nhiệt độ của cơ thể ở 370C và giúp cơ thể thực hiện các hoạt động thể lực.

Nhiệt sinh ra thƣờng vƣợt quá nhu cầu duy trì nhiệt độ của cơ thể, nhiệt thừa sẽ đƣợc toả ra ngoài theo đƣờng truyền trực tiếp hoăc phát nhiệt, một trong những cách toả nhiệt có hiệu quả là 8 qua đƣờng hô hấp hoặc qua da. Khi nƣớc bay hơi từ dạng nƣớc sang dạng hơi, chúng hấp thụ và mang theo nhiệt. Bay hơi 1 lít qua đƣờng mồ hôi của da làm mất 580 kcal nhiệt lƣợng của cơ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ