Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu kho tàng dược liệu phong phú với 3.948 loài thực vật có mạch và nấm được sử dụng trong y học dân gian, trong đó tài nguyên cây thuốc chiếm khoảng 30% tổng số loài thực vật bậc cao. Tuy nhiên, sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên từ 15,6 triệu hecta trước năm 1945 xuống còn 8,5 triệu hecta vào năm 1993, tương đương độ che phủ giảm mạnh từ 43,8% xuống 23,8%, đã khiến nguồn gen dược liệu tự nhiên đứng trước nguy cơ cạn kiệt. Tại vùng biển Đông Bắc, đảo Ba Mùn thuộc Vườn quốc gia Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh là một đảo đồi thấp với đỉnh cao 314 mét, cấu trúc địa hình dải hẹp kéo dài theo hướng đông bắc - tây nam, giữ vai trò lá chắn sinh thái quan trọng. Mặc dù sở hữu hệ thực vật nhiệt đới đặc thù, các nghiên cứu chuyên sâu về nguồn cây thuốc tại đây còn rất hạn chế. Luận văn thạc sĩ sinh học chuyên ngành Sinh thái học của tác giả Lê Thị Hằng, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đinh Thị Phượng tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, đã tiến hành điều tra hệ thống tài nguyên cây thuốc tại đảo. Nghiên cứu thực hiện trong khung thời gian từ tháng 3 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018. Mục tiêu trọng tâm là đánh giá mức độ đa dạng taxon, thành phần loài, phổ dạng sống, yếu tố địa lý và xác định các loài dược liệu nguy cấp. Kết quả ghi nhận 161 loài thực vật có giá trị làm thuốc, cung cấp cơ sở khoa học thực chứng để Vườn quốc gia và địa phương xây dựng chiến lược bảo tồn, khai thác bền vững nguồn tài nguyên quý báu này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên sự tích hợp giữa lý thuyết sinh thái học quần xã và hệ thống học thực vật hiện đại. Cơ sở phân loại tiến hóa dựa trên hệ thống Takhtajan năm 1981 nhằm xác lập trật tự phát sinh chủng loại của các bậc ngành, họ, chi và loài. Về mặt hình thái sinh thái học, nghiên cứu ứng dụng lý thuyết phổ dạng sống của Raunkiaer kết hợp chuẩn hóa 4 nhóm dạng sống cơ bản gồm thân gỗ, thân bụi, thân thảo và thân leo theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành năm 2000. Về địa lý thực vật học, đề tài vận dụng khung phân loại 20 yếu tố địa lý thực vật của Lê Trần Chấn năm 1999 và thang phân loại của Nguyễn Nghĩa Thìn năm 2004, vốn đã sắp xếp thành công 10.193 loài trong hệ thực vật Việt Nam. Nghiên cứu làm sáng tỏ 3 khái niệm cốt lõi: tính đa dạng sinh học taxon dược liệu, cấu trúc sinh thái quần xã hải đảo và tiêu chuẩn phân hạng nguy cấp nguồn gen theo Sách đỏ Việt Nam năm 2007.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua các đợt điều tra thực địa từ tháng 3 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018 tại đảo Ba Mùn. Phương pháp chọn mẫu kết hợp khảo sát theo tuyến và lập ô tiêu chuẩn định lượng. Tác giả thiết lập các tuyến điều tra định hướng vuông góc với đường đồng mức, khoảng cách giữa các tuyến song song từ 50 đến 100 mét, bề rộng khảo sát mỗi tuyến là 2 mét. Trên các tuyến, tác giả bố trí các ô tiêu chuẩn có diện tích 400 mét vuông (kích thước 20 mét x 20 mét) đại diện cho các trạng thái rừng. Bên trong mỗi ô tiêu chuẩn, tiến hành lập các ô dạng bản diện tích 25 mét vuông (kích thước 5 mét x 5 mét) để thống kê tầng cây tái sinh, cây bụi và thảm tươi. Cỡ mẫu khảo sát bao quát 2 sinh cảnh chính: quần xã rừng trên cạn và quần xã rừng ngập mặn từ độ cao 0 đến 314 mét. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện sinh thái, ghi nhận đầy đủ biến động vi khí hậu ven biển. Mẫu vật thu thập được phân tích hình thái so sánh, định danh khoa học và đối chiếu công dụng theo tài liệu y dược học cổ truyền của Đỗ Tất Lợi năm 1986 và Lê Trần Đức năm 1995.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn đã ghi nhận và định danh 161 loài thực vật có giá trị làm thuốc thuộc 137 chi, 59 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch. Ngành Hạt kín chiếm ưu thế vượt trội với 142 loài (đạt 88,2%), 125 chi (đạt 91,2%) và 51 họ (đạt 86,4%). Ngành Dương xỉ đứng thứ hai với 15 loài (đạt 9,32%), ngành Thông đất có 3 loài (đạt 1,86%) và ngành Hạt trần có 1 loài (đạt 0,62%). Trong ngành Hạt kín, lớp Hai lá mầm chiếm ưu thế tuyệt đối với 129 loài (đạt 90,8% tổng số loài Hạt kín), còn lớp Một lá mầm chỉ có 13 loài (đạt 9,15%).

Thứ hai, sự phân bố cây thuốc có sự chênh lệch lớn giữa các quần xã. Quần xã rừng trên cạn ghi nhận 140 loài thuộc 117 chi và 57 họ. Trong khi đó, quần xã rừng ngập mặn chỉ có 21 loài thuộc 11 họ, tiêu biểu là họ Đậu với 6 loài, họ Đước và họ Thầu dầu mỗi họ có 3 loài.

Thứ ba, cấu trúc dạng sống toàn khu vực thể hiện rõ ưu thế của nhóm thân bụi với 47 loài (chiếm 29,2%), tiếp đến là thân gỗ với 44 loài (chiếm 27,3%), thân thảo với 42 loài (chiếm 26,1%) và thân leo có 28 loài (chiếm 17,4%).

Thứ tư, nghiên cứu xác định 15 họ giàu loài nhất (chứa từ 4 loài trở lên), dẫn đầu là họ Đậu với 12 loài và họ Thầu dầu với 11 loài. Đặc biệt, luận văn phát hiện 15 loài cây thuốc quý hiếm thuộc danh mục Sách đỏ Việt Nam năm 2007.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa số lượng loài rõ rệt giữa quần xã rừng trên cạn (140 loài) và rừng ngập mặn (21 loài) phản ánh tác động mang tính quyết định của điều kiện lập địa. Quần xã rừng cạn nhận lượng mưa lớn từ 2.000 đến 2.200 mm/năm và nền nhiệt ổn định 15 đến 25 độ C, tạo lớp thảm mục dày thuận lợi cho tầng cây bụi và thân gỗ phát triển. Ngược lại, rừng ngập mặn chịu áp lực khắc nghiệt từ độ mặn 31 đến 34,5 phần nghìn và ngập triều định kỳ, chỉ những loài thích nghi chuyên hóa cao như Vẹt dù, Trang, Vông nem mới tồn tại được.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa hiệu quả thông qua các bảng ma trận taxon và biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ dạng sống giữa hai quần xã. Biểu đồ chỉ ra rằng ở rừng ngập mặn, cây thân gỗ chiếm tỷ lệ áp đảo 38,1% (cao hơn mức 25,7% ở rừng cạn), trong khi dạng thân bụi ở rừng cạn chiếm tới 31,4% (vượt trội so với 19,0% ở rừng ngập mặn). So sánh với các khu bảo tồn lân cận như Na Hang (yếu tố nhiệt đới chiếm 80,21%) hay Bến En (yếu tố đặc hữu chiếm 31,56%), hệ cây thuốc đảo Ba Mùn mang đặc trưng rõ nét của hệ thực vật nhiệt đới hải đảo ven bờ miền Bắc.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả điều tra thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc:

Thứ nhất, phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt và tăng cường tuần tra đối với sinh cảnh của 15 loài cây thuốc quý hiếm ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007. Ban quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long chủ trì triển khai cắm mốc ranh giới bảo tồn từ quý 1 năm 2025 đến quý 4 năm 2026, hướng tới mục tiêu giảm 100% các vụ xâm hại, khai thác trộm dược liệu tự nhiên.

Thứ hai, triển khai các biện pháp lâm sinh khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp nghiên cứu nhân giống thử nghiệm 5 đến 8 loài dược liệu bản địa có giá trị cao như Ba kích, Đơn đỏ, Dạ cẩm và Nhân trần. Chi cục Kiểm lâm phối hợp cùng các viện nghiên cứu lâm nghiệp thực hiện trong giai đoạn 2025 - 2028, phấn đấu đạt tỷ lệ cây con sống trên 80% khi đưa ra vườn ươm.

Thứ ba, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa và bản đồ GIS phân bố 161 loài cây thuốc trên diện tích đảo Ba Mùn. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh phối hợp với các cơ sở đào tạo triển khai trong thời gian 24 tháng (2025 - 2026), cung cấp công cụ quản trị dữ liệu đa dạng sinh học hiện đại cho cán bộ lâm nghiệp.

Thứ tư, tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng và hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững cho hơn 900 cư dân xã Minh Châu. Chính quyền huyện Vân Đồn cùng các tổ chức đoàn thể định kỳ tổ chức 4 khóa tập huấn mỗi năm từ năm 2024 đến năm 2027, giảm thiểu 85% áp lực thu hái lâm sản trái phép vào rừng đặc dụng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình luận văn là nguồn tài liệu tham khảo khoa học có giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Giảng viên, nghiên cứu viên và học viên sau đại học chuyên ngành Sinh thái học, Thực vật học, Dược liệu học: Luận văn cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về điều tra ô tiêu chuẩn 400 mét vuông, phân tích phổ dạng sống và phân tích yếu tố địa lý thực vật, phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy và nghiên cứu học thuật.
  2. Cán bộ quản lý tại các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên biển đảo: Dữ liệu phân bố chi tiết của 161 loài cây thuốc và 15 loài nguy cấp là luận cứ trực tiếp giúp thiết kế phân khu bảo tồn nghiêm ngặt và xây dựng đề án quản lý rừng bền vững.
  3. Các doanh nghiệp và hợp tác xã sản xuất dược liệu y học cổ truyền: Cung cấp thông tin nguồn gen cây thuốc bản địa như Ba kích, Gừng gió, Màng tang, định hướng cho các dự án thuần hóa, gây trồng đạt tiêu chuẩn GACP-WHO.
  4. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và nông nghiệp cấp tỉnh, huyện: Là căn cứ thực tiễn để hoạch định chính sách phát triển kinh tế sinh thái biển gắn liền với bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên tỉnh Quảng Ninh.

Câu hỏi thường gặp

Câu 1: Luận văn đã ghi nhận bao nhiêu loài thực vật có giá trị làm thuốc tại đảo Ba Mùn? Trả lời: Nghiên cứu đã xác định được 161 loài cây thuốc thuộc 137 chi, 59 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch. Sự phân bố không đều khi quần xã rừng trên cạn sở hữu tới 140 loài, trong khi quần xã rừng ngập mặn chỉ có 21 loài.

Câu 2: Ngành thực vật nào chiếm tỷ lệ áp đảo trong hệ cây thuốc tại khu vực nghiên cứu? Trả lời: Ngành Hạt kín chiếm ưu thế tuyệt đối với 142 loài, tương đương 88,2% tổng số loài cây thuốc. Trong đó, lớp Hai lá mầm chiếm tới 129 loài (đạt 90,8% số loài ngành Hạt kín), tập trung nhiều nhất ở họ Đậu với 12 loài và họ Thầu dầu với 11 loài.

Câu 3: Dạng sống nào phổ biến nhất trong các loài cây thuốc tại đảo Ba Mùn? Trả lời: Cấu trúc dạng sống phân bố thành 4 nhóm rõ rệt, trong đó nhóm cây thân bụi chiếm tỷ lệ cao nhất với 47 loài (đạt 29,2%), theo sau là thân gỗ với 44 loài (đạt 27,3%), thân thảo với 42 loài (đạt 26,1%) và thân leo có 28 loài (đạt 17,4%).

Câu 4: Có bao nhiêu loài cây thuốc quý hiếm được ghi nhận trong danh mục nghiên cứu? Trả lời: Luận văn đã ghi nhận 15 loài thực vật có giá trị làm thuốc thuộc diện quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007. Các loài này phân bố rải rác ở sinh cảnh rừng tự nhiên trên cạn và cần được ưu tiên bảo vệ nguồn gen khẩn cấp.

Câu 5: Tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra thực địa nào để thu thập số liệu cây thuốc? Trả lời: Tác giả kết hợp điều tra theo tuyến rộng 2 mét với thiết lập các ô tiêu chuẩn diện tích 400 mét vuông (20 mét x 20 mét). Trong mỗi ô tiêu chuẩn, tiếp tục lập các ô dạng bản diện tích 25 mét vuông (5 mét x 5 mét) để khảo sát tầng dưới tán.

Kết luận

  • Luận văn đã lập danh lục khoa học hoàn chỉnh gồm 161 loài thực vật có giá trị làm thuốc thuộc 137 chi, 59 họ của 4 ngành thực vật tại đảo Ba Mùn.
  • Khẳng định vai trò áp đảo của ngành Hạt kín với 142 loài, trong đó lớp Hai lá mầm chiếm trên 90% thành phần loài của ngành.
  • Làm rõ sự phân hóa sâu sắc về thành phần loài giữa quần xã rừng trên cạn (140 loài) và quần xã rừng ngập mặn (21 loài).
  • Xác định cấu trúc dạng sống đặc trưng của hệ cây thuốc với sự chiếm ưu thế của nhóm thân bụi (29,2%) và thân gỗ (27,3%).
  • Nhận diện 15 loài cây thuốc nguy cấp có tên trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007, cung cấp dữ liệu nền tảng cho công tác bảo tồn sinh học biển đảo.

Về định hướng tiếp theo trong giai đoạn 2025 - 2030, các cơ quan chức năng cần ưu tiên số hóa bản đồ phân bố và nhân rộng mô hình nhân giống ngoại vi các loài dược liệu quý. Độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm hãy khai thác toàn văn tài liệu luận văn để ứng dụng vào công tác bảo tồn, phát triển tài nguyên dược liệu Việt Nam.