CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nghiên cứu về tính đa dạng, đặc điểm phân loại, hình thái các loài thực vật họ Long não 1. Trên thế giới Họ Long não (Lauraceae Juss.) từ lâu đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm bởi tính đa dạng và ứng dụng phong phú của nó.
Các nghiên cứu đầu tiên về taxon này là Jussieu (1789-1824) [124]. Từ đó đến nay đã có rất nhiều các nghiên cứu được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Nghiên cứu của Lorea-Hernández (2002) về sự đa dạng, phân bố và tình trạng bảo tồn của họ Lauraceae Juss. ở miền Nam Mexico đã ghi nhận 120 loài thuộc cho 10 chi: Aiouea, Beilschmiedia, Cassytha, Cinnamomum, Licaria, Litsea, Mocinnodaphne, Nectandra, Ocotea và Persea; trong đo các loài đặc hữu chiếm 47,5% số loài được khảo sát, chỉ có 58 loài được ghi nhận trong nghiên cứu trước đó về tính đa dạng thực vật ở các Khu BTTN thuộc miền Nam Mexico [138].
Ngearnsaengsaruay và cộng sự (2011) đã khái quát các loài thực vật chi Litsea ở Thái Lan, theo đó, 35 loài đã được liệt kê, mô tả chi tiết về danh pháp, phân bố và đặc điểm sinh thái [145]. Theo nghiên cứu Liu và cộng sự (2020), loài Phoebe hekouensis Bing Liu, W. Yang phân bố ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) được mô tả là loài mới đối với khoa học. Loài này có hình thái tương tự như Phoebe megacalyx H.
Li ở các đặc điểm như các cành lá chắc khỏe và có hình nón màu nâu, bầu noãn dày đặc và các tua dài hơn 1 cm, nhưng đặc điểm khác là các lá rộng hơn, lên đến 18 cm (so với 4,5–11,5 cm), các chùm hoa ngắn hơn với độ dài 10–15 cm (so với tối đa 23 cm), noãn dày đặc và vòi nhụy dễ thấy. Loài mới cũng giống Phoebe macrocarpa C. Wu, nhưng khác ở chỗ các cánh đài dài hơn nhiều, dài 9–13 mm (so với khoảng 4 mm) [134]. Cũng ở Vân Nam, Zhang và cộng sự (2020), đã nghiên cứu sâu về Cinnamomum chago, một loài thực vật đặc hữu, quý hiếm nơi đây, đã ghi nhận 4 64 cá thể trưởng thành của loài này phân bố trong phạm vi 923 km 2.
Các tác giả đã đánh giá: môi trường sống của các loài đã bị suy thoái do mở rộng các hoạt động chăn nuôi và phá rừng, từ đó khuyến nghị xếp loài Cinnamomum chago ở mức Nguy cấp (Endangered) trong Danh sách Đỏ của IUCN [171]. Trong quá trình nghiên cứu, hệ thống phân loại về họ Lauraceae Juss. đã có những thay đổi nhất định. Dưới đây xin đề cập một số thay đổi ở taxon bậc chi trong những nghiên cứu gần đây ở khu vực Đông Nam Á.
Nghiên cứu về chi Endiandra ở đảo Borneo (thuộc ba quốc gia: Malaysia và Brunei và Indonesia), Deby Arifiani (2001) đã có những đề xuất điều chỉnh trong hệ thống phân loại đối với taxon này. Cụ thể, trong khoảng 100 loài được ghi nhận trước đó ở Borneo, có 8 loài được công nhận là đặc hữu, 3 loài (Endiandra immersa, Endiandra elongata, và Endiandra rhizophoretum) được mô tả là loài mới của vùng nghiên cứu; 5 loài còn lại là Endiandra clavigera Kosterm., Endiandra ochracea Kosterm., Endiandra kingiana Gamble, Endiandramacrophylla (Blume) Boerl. và Endiandra rubescens (Blume) Miq. Tương tự, De Kok (2016), khi nghiên cứu về chi Beilschmiedia ở Malaysia, đã phân tích lịch sử phân loại của nhóm, mô tả chính, bản đồ phân bố, đánh giá bảo tồn, thông tin sinh thái, đặc điểm thực vật dân tộc và hình thái học của các loài.
Kết quả đã có những điểm khác so với những nghiên cứu trước đó. Theo De Kok, 18 loài được công nhận như cũ trong các hệ thống phân loại, có 6 loài được chỉnh lý tên (Beilschmiedia insignis, Beilschmiedia kunstleri, Beilschmiedia maingayi, Beilschmiedia huangnacea, Beilschmiedia roxburghiana và Beilschmiedia scortechinii) và 5 loài có tên được đặt thành từ đồng nghĩa (synonyms); 01 tên được công bố hợp lệ lần đầu tiên (Beilschmiedia atra) và một loài được công nhận và mô tả ở đây là mới đối với khoa học (Beilschmiedia kochummenii) [94]. Gần đây, đặc điểm hệ thống học các loài thực vật thuộc chi Dehaasia ở đảo Sumatra (Indonesia) cũng đã được điều chỉnh lại. Theo nghiên cứu của Fijridiyanto và cộng sự (2020), 8 loài đã được ghi nhận là đặc trưng cho vùng, trong đó có 02 loài được ghi nhận là loài mới (Dehaasia bandaharense và 5 Dehaasia pilosa) [105].
Tổng hợp từ các nghiên cứu trên thế giới, họ Long não có khoảng 55 chi và trên 2.500 loài, chủ yếu phân bố ở vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á và Braxin. Chúng chủ yếu là các loại cây thường xanh dạng thân gỗ hay cây bụi có hương thơm, chỉ có hai chi là các loại cây sớm rụng, duy nhất chi Cassytha (tơ xanh) gồm các loài dây leo sống ký sinh. Các loại cây thân gỗ trong họ Long não chiếm ưu thế trong các khu rừng nhiệt đới á nhiệt đới, nhiệt đới Châu Á và Australia là chi Litsea có hơn 400 loài, chi Cinnamomum có khoảng 250 loài [124]. Trên quan điểm của sinh học phân tử, theo những nghiên cứu tổng hợp bởi Rohwer (2000), Chanderbali và cộng sự (2001), Rohwer và Rudolph (2005), Song và cộng sự (2017), họ Lauraceae Juss.
được phân chia thành các tông (mỗi tông bao gồm các chi, loài có mối quan hệ di truyền gần gũi): + Tông Hypodaphnideae Reveal: chỉ có 1 chi, 1 loài ở vùng nhiệt đới Tây Phi. + Tông Cryptocaryeae Nees: gồm 13 chi, khoảng 775 loài. Có tính liên nhiệt đới, một số loài cận nhiệt đới tới New Zealand. + Tông Cassytheae Dumortier = Cassythaceae Lindley: với 1 chi, 24 loài, phân bố chú yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là tại Australia, bao gồm cả vùng ôn đới ấm tại đây.
+ Tông Neocinnamomeae Yu Song, W. Tan: 1 chi, 6 loài phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á, tây Malesia (Sumatra). + Tông Caryodaphnopsideae Yu Song, W. Tan: 1 chi, 15 loài, phân bố từ khu vực Trung và Nam Mỹ, Đông Nam Á tới Philippines và Borneo.
+ Tông Melizaurus: 4-5 chi, 23 loài, phân bố chủ yếu từ Trung Mỹ (Costa Rica) tới Nam Mỹ. + Tông Perseeae Nees: gồm 7 chi, 430 loài, phân bố rộng khắp trên thế giới. + Tông Cinnamomeae Nees: khoảng 12-20 chi, 1.165 loài, là những loài Liên nhiệt đới, riêng chi Sassafras có ở vùng ôn đới. + Tông Laureae Le Maout & Decaisne: khoảng 9 chi, 545 loài.
Phân bố rộng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt tại Đông Nam Á và Malesia, 6 hiếm gặp ở vùng ôn đới. Gần đây, Hou và cộng sự (2018) đã nghiên cứu lịch sử tiến hóa của họ Lauraceae Juss. ở Khu BTTN Xishuangbanna (Trung Quốc) bằng cách sử dụng mã vạch DNA. Mục đich của nghiên cứu là đánh giá được lịch sử tiến hóa của thực vật họ Lauraceae và để chứng minh tầm quan trọng của việc kết hợp thông tin phát sinh loài với bảo tồn đa dạng sinh học, tính đặc biệt trong quá trình tiến hóa (evolutionary distinctiveness - ED), đa dạng phát sinh loài (phylogenetic diversity - PD), sự phong phú của loài (species richness - SR) và danh mục các loại thực vật nguy cấp thuộc họ Lauraceae Juss.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng cộng có 19 loài có giá trị ED cao (> 0,1) và 54 loài nguy cấp đã được tìm thấy ở Xishuangbanna. Khu BTTN chỉ bảo tồn hơn một nửa số loài trong họ Lauraceae Juss. Nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến họ Long não như Lê Khả Kế (1969 - 1976) trong bộ Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam (tập 1-6) [32]; Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984) trong Danh lục thực vật Tây Nguyên [4], Phạm Hoàng Hộ (1999-2000) trong bộ Cây cỏ Việt Nam (tập 1-3) đã thống kê 18 chi với 243 loài [25], Trần Hợp (2002) trong bộ Tài nguyên cây gỗ Việt Nam [26] Nguyễn Tiến Bân (chủ biên, 2003) trong Danh lục các loài thực vật Việt Nam [6], Võ Văn Chi (2012) trong bộ Từ điển cây thuốc Việt Nam [13]. Nguyễn Tiến Bân (1997) đã giới thiệu về họ Long não như sau: Gỗ với lá đơn mọc cách, không có lá kèm, hoặc hiếm khi là cỏ ký sinh không có lá (Cassytha).
Hoa thường mẫu 3 (ít khi mẫu 5 hay mẫu 2). Hoa của các loài thuộc họ Long não có đặc trưng bởi bộ nhị nhiều (nhưng là bội số của phiến bao hoa), họp thành những bó 3 nhị, trong đó 2 nhị bên thường tiêu giảm thành nhị lép hay tuyến mật và bởi bao phấn mở bằng 2 hoặc 4 van [5]. Dựa vào tác dụng của các loài trong họ Long não, có thể phân thành các nhóm theo mục đích khai thác và sử dụng như: 7 - Nhóm cây làm thuốc: Quế rừng (Cinnamomum iners), Quế thanh (Cinnamomum cassia), Bộp lá xoan ngược (Actinodaphne obovata), Màng tang (Litsea cubeba),… - Nhóm cây cho gỗ: Quế thanh (Cinnamomum cassia), Quế bời lời (Cinnamomum polydelphum), Re hương (Cinnamomum balansae), Bời lời trung bộ (Litsea griffithi var. - Nhóm cây cho tinh dầu khá phong phú với một số đại diện như: Quế thanh (Cinnamomum cassia), Long não (Cinnamomum camphora), Re cuống dài (Cinnamomum longepetiolatum), Bời lời nhớt (Litsea glutinosa), Bời lời đắng (Litsea umbellata), Re trắng mũi mác (Phoebe lanceolata), Re hương (Cinnamomum balansae)…[40].
Nghiên cứu về họ Long não ở các VQG, Khu BTTN ở Việt Nam điển hình có: Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1996) trong nghiên cứu hệ thực vật ở VQG Cúc Phương đã công bố 14 loài loài thuộc họ Long não [33]. Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời (1998) khi nghiên cứu hệ thực vật ở Sa Pa – Fansipan đã thống kê được 39 loài và dưới loài của 11 chi trong đó 3 loài thuộc chi Cinnamomum, 6 loài thuộc chi Litsea của họ Long não [57]; Năm 2003, Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô khi nghiên cứu đa dạng hệ thực vật ở VQG Bạch Mã đã thống kê được 14 loài thuộc chi Cinnamomum và 15 loài thuộc chi Litsea [60]. Cũng tại VQG Bạch Mã, Lê Công Sơn (2014) đã mô tả hình thái, môi trường sống, phân bố của 44 loài và 2 thứ thuộc 2 chi Cinnamomum và Litsea trong họ Long não và ghi nhận vùng phân bố của 19 loài [46] Năm 2006, Nguyễn Nghĩa Thìn và Đặng Quyết Chiến đã công bố 17 loài và dưới loài của 9 chi trong đó 2 loài thuộc chi Cinnamomum, 5 loài thuộc chi Litsea thuộc họ Long não trong khu hệ thực vật Na Hang [64]. 8 Đậu Bá Thìn và cộng sự (2017) khi nghiên cứu họ Long não ở VQG Bến En đã ghi nhận 57 loài và dưới loài, 13 chi, trong đó bổ sung 11 loài cho danh lục họ Long não ở VQG Bến En (so với kết quả công bố năm 2007, 2008 và 2013).