Chương 1: Tổng quan Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu và hệ thống hóa các quan điểm lí luận về chức năng, nghĩa từ vựng của các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc, luận án đã xác định phạm vi và đƣa ra cách hiểu về chức năng, nghĩa từ vựng để phục vụ cho việc nghiên cứu. Ngoài ra, luận án chỉ rõ bản chất mối quan hệ giữa chức năng với nghĩa từ vựng, phạm vi chuyển đổi chức năng - nghĩa từ vựng. Sự chuyển đổi không chỉ đƣợc chứng minh bằng ngữ liệu (định lƣợng, định tính) mà còn đi sâu làm rõ phƣơng thức chuyển đổi cơ cấu nghĩa (theo nội dung thuật ngữ hóa) trên ngữ liệu tiếng Việt. Chương 2: Sự chuyển đổi chức năng - nghĩa trong phạm vi danh từ Luận án xác định phạm vi chức năng - nghĩa của danh từ mà luận án nghiên cứu, tiến hành khảo sát thống kê và phân tích sự chuyển đổi chức năng - nghĩa trong phạm vi từ loại danh từ.
Chương 3: Sự chuyển đổi chức năng - nghĩa trong phạm vi động từ và tính từ Luận án xác định phạm vi chức năng - nghĩa của động từ và tính từ mà luận án nghiên cứu, tiến hành khảo sát thống kê và phân tích sự chuyển đổi chức năng - nghĩa trong phạm vi từ loại động từ và tính từ. Chương 4: Hệ quả của phƣơng thức chuyển nghĩa và chuẩn hóa nghĩa thuật ngữ hóa từ thƣờng Luận án nghiên cứu sự chuyển đổi chức năng - nghĩa của từ theo hai phƣơng thức cơ bản là ẩn dụ và hoán dụ. Ngoài ra, luận án tổng hợp lại và rút ra hệ quả của sự chuyển đổi chức năng - nghĩa từ vựng trong tiếng Việt đồng thời từ đó đƣa ra một số kiến nghị về việc chuẩn hóa nghĩa thuật ngữ tiếng Việt. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Dẫn nhập Trong chƣơng này, sau khi điểm qua tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án, chúng tôi xác định những tri thức lí luận làm tiền đề cho việc triển khai luận án: các phạm vi chức năng trong ngôn ngữ học, các quan điểm về nghĩa và phạm vi nghĩa của những đơn vị từ vựng đƣợc khảo sát, mối quan hệ giữa chức năng và nghĩa từ vựng và cách hiểu về chuyển đổi chức năng - nghĩa từ vựng. Trên cơ sở đó luận án khảo sát và nghiên cứu sự chuyển đổi chức năng - nghĩa từ vựng trong tiếng Việt. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan 1. Sơ lược tình hình Cho đến nay các nhà ngôn ngữ học trong nƣớc và ngoài nƣớc đã nghiên cứu nhiều về chức năng ngôn ngữ, ngữ nghĩa riêng biệt.
Tuy nhiên việc nghiên cứu sự chuyển đổi chức năng - nghĩa từ vựng, theo hiểu biết của chúng tôi, chƣa đƣợc đề cập tới một cách chính thức. Vấn đề chung đặt ra là: ngôn ngữ nói chung và đơn vị ngôn ngữ thuộc các cấp hệ khác nhau đều có các chức năng xác định. Đồng thời nhận thức chung đã đƣợc thừa nhận ngôn ngữ với tƣ cách là công cụ giao tiếp và tƣ duy thì ở những phạm vi giao tiếp tƣ duy xác định cũng nhƣ ở những loại đơn vị, biểu thức khác nhau đều biểu đạt, biểu hiện, có nghĩa và có ý nghĩa. Vậy nghĩa và chức năng có quan hệ tƣơng tác, quy định, chuyển đổi lẫn nhau nhƣ thế nào thì chƣa đƣợc trực tiếp giải thích, luận chứng bằng các nguồn ngữ liệu cụ thể.
Trong giới hạn thời gian làm nghiên cứu tìm hiểu, tuy chúng tôi chƣa tìm đƣợc các nghiên cứu chuyển đổi trực tiếp, chƣa đƣợc giải thích rõ ràng tập trung nhƣng đã bắt gặp một số luận điểm, một số công trình có kết quả liên quan. Một số ý tưởng liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án ở ngoài nước 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ ở phần lý do chọn đề tài của luận án, chúng tôi đã nhắc đến ngữ pháp chức năng hệ thống của M. Halliday cho rằng ngôn ngữ nhƣ là một trong những hệ thống tạo nghĩa (chúng tôi nhấn mạnh) làm nên văn hóa loài ngƣời. Ông cũng là ngƣời đề ra quan điểm ba siêu chức năng trong ngữ pháp chức năng hệ thống, đó là siêu chức năng tư tưởng (ideational metafunction), siêu chức năng liên nhân (interpersonal metafunction) và siêu chức năng văn bản (textual metafunction).
Các siêu chức năng này quan hệ tƣơng tác lẫn nhau trong văn bản để ngôn ngữ thực hiện những hệ thống tạo nghĩa thông qua ngữ cảnh và ngữ cảnh văn hóa. Ông quan niệm “văn bản là một sản phẩm tạo nghĩa, nó là đầu ra, một cái gì đó có thể ghi lại và nghiên cứu đƣợc. Văn bản thuộc các phong cách chức năng khác nhau mà giới tu từ học đã xác định phân loại. Ông cũng nói rõ chức năng tƣ tƣởng biểu đạt nội dung, tức là kinh nghiệm phản ánh chủ quan, khách quan của ngƣời nói, đƣợc định hình bằng ngôn ngữ, qua ngôn ngữ.
Nội dung nghĩa phản ánh bao gồm thông tin kinh nghiệm và lô-gích. Vậy là rõ ràng có mối quan hệ chức năng thể hiện qua văn bản, cụ thể hơn là ngữ cảnh thuộc phong cách chức năng với nội dung nghĩa đƣợc biểu đạt, biểu hiện trong kí hiệu ngôn ngữ. Vấn đề cần làm rõ mối quan hệ tƣơng tác này ở loại đơn vị, biểu thức xác định. Một số biểu hiện liên hệ ở Việt ngữ học Trong Việt ngữ học từ những năm 80 trở lại đây đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chuyển đổi chức năng - nghĩa.
Cùng với hƣớng nghiên cứu sự chuyển đổi chức năng để tạo ra những phạm trù, những đơn vị mới trong tiếng Việt đã có một số công trình nghiên cứu. Công trình nghiên cứu công phu, có tính gợi mở khoa học cao là “Một số suy nghĩ về hiện tƣợng chuyển loại trong tiếng Việt” (1981) của tác giả Hà Quang Năng. Có thể nhận thấy ở công trình này là tác giả đã chỉ rõ hiện tƣợng mà trƣớc đây gọi là “nhất từ đa loại”, tức là một từ vừa làm chức năng danh từ vừa làm chức năng động từ mà trong từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên) xử lý là: “cày I d. Sự thực ở đây có sự chuyển chức năng ngữ pháp (từ loại thuộc phạm trù từ vựng - ngữ pháp) và nghĩa danh từ phân biệt với nghĩa động từ.
Kết quả của sự chuyển đổi đã rõ ràng. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiếp theo là luận án “Quá trình chuyển hóa của một số thực từ thành giới từ trong tiếng Việt” (1995) của Vũ Văn Thi. Ông cho rằng đây là quá trình hƣ hóa - ngữ pháp hóa. Gần đây nhất là luận án Tiến sĩ ngữ văn “Hiện tƣợng chuyển hóa từ thực từ sang hƣ từ tiếng Việt” (theo lý thuyết ngữ pháp hóa) (2005), đã công bố thành sách, của Trần Thị Nhàn.
Trong giới hạn ở cấp độ ngữ pháp, sự chuyển đổi chức năng - nghĩa đƣợc thực hiện không chỉ thể hiện trong việc chuyển hóa từ thực từ sang hƣ từ mà còn thể hiện trong việc chuyển loại giữa các thực từ. Tuy nhiên, riêng lĩnh vực về từ vựng ngữ nghĩa chƣa có công trình nào nghiên cứu làm sáng tỏ tác động của sự chuyển đổi chức năng - nghĩa mà nhiệm vụ của luận án cần thực hiện. Các phạm vi chức năng trong ngôn ngữ học 1. Những cách hiểu về chức năng Sau thời kỳ ngôn ngữ học quá nhấn mạnh đến cấu trúc, hình thức, các nhà ngôn ngữ học cũng đã đề cập nhiều đến chức năng, chức năng luận trong nghiên cứu ngôn ngữ.
Vậy chúng ta nên hiểu “chức năng là gì?” để tiện vận dụng vào ngôn ngữ học. Trong tiếng Việt, “chức năng” xuất hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau và mang nghĩa xác định trong mỗi lĩnh vực đó. - Theo cuốn “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, “chức năng” đƣợc hiểu một cách thông thƣờng “là tác dụng, vai trò bình thường hoặc đặc trưng của một người nào đó, một cái gì đó” [97, tr. - Từ góc độ triết học, ngƣời ta hiểu “chức năng” một cách chuyên sâu hơn: “chức năng là sự thể hiện ra bên ngoài của một khách thể nào đó trong hệ thống các quan hệ nhất định” [105, tr.
- Trong ngôn ngữ học, khái niệm “chức năng” còn đƣợc hiểu là chức năng trong cấu trúc của chính ngôn ngữ: chức năng khu biệt của âm vị; chức năng định danh của từ và ngữ; chức năng thể hiện một đơn vị lời nói trọn vẹn của câu và phát ngôn; chức năng tạo đơn vị bậc cao hơn trong tôn ti các đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, v. Khi nói đến chức năng là nói đến vai trò, vị trí, phẩm chất của đối tƣợng nào đó trong phạm vi hoạt động, tồn tại. Chức năng đƣợc tổng hợp từ kết quả của những 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạt động, vị trí mà đối tƣợng đảm nhiệm, phải qua trải nghiệm, xuất hiện tái diễn. Vì nội dung của “chức năng” đƣợc hiểu theo những cung bậc khác nhau nên chúng ta xem xét “chức năng” ở mỗi phạm vi xác định.
Chức năng khái quát của ngôn ngữ Ngôn ngữ là một hiện tƣợng xã hội đặc biệt bởi nó không giống những tính xã hội khác mang tính giai cấp hay thể chế chính trị xã hội nào đó. Ngôn ngữ tồn tại trong mọi xã hội và mọi cộng đồng ngƣời. Vì vậy, ngôn ngữ có chức năng tác động đến vị thế trong xã hội. Các nhà ngôn ngữ kinh điển cho rằng: ngôn ngữ có hai chức năng quan trọng, đó là phƣơng tiện giao tiếp trọng yếu và công cụ của tƣ duy.
Lenin: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” [85, tr. Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ ngƣời này đến ngƣời khác với một mục đích nhất định nào đó. Sự giao tiếp đƣợc thực hiện nhờ hoạt động giao tiếp giữa hai hoặc hơn hai ngƣời với nhau trong một bối cảnh nhất định và bằng một phƣơng tiện giao tiếp chung là ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ mà con ngƣời có khả năng hiểu biết lẫn nhau.
Ngôn ngữ là một trong những động lực bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời. Sở dĩ ngôn ngữ quan trọng nhất vì trên góc độ lịch sử và toàn diện mà xét, không một phƣơng tiện giao tiếp nào có thể sánh đƣợc với ngôn ngữ. Thực ra chúng ta có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều hình thức tín hiệu khác, chứ không nhất thiết chỉ bằng ngôn ngữ. Chẳng hạn, ta dùng tiếng chuông, cái gật đầu, sự nháy mắt cũng là một hình thức giao tiếp, nhƣng đó không phải là ngôn ngữ.