Chương 1: Cơ sở lí luận, “Chương 2: Đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ pháp của từ láy trang thơ Nguyễn Duy “Cương3: Vi trồ ca từ lấy trong thr Nguyen Dy Charong 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1-1. Khái niệm về từ lấy và tiêu chí nhận diện từ lấy trong tiếng Việt (Quan tâm nghiên cứu về các đặc điểm của từ lấy tiếng Việt có thể kế đến u biểu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tai Cin, Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành, li Xuân Ninh, Hà Quang Năng, Hoàng Cao Cương, Diệp Quang. ‘Ban, NauyEn Thiện Giáp, Phi Tuyết Hinh, Đảo Than, Nguyễn Thị Hai, Hữu Dat, Nguyén Đức Tôn. Như vậy, từ lâu, việc nghiên cứu từ lấy đã được các nhà Việt "ngữ học quan tâm, Tuy nhiên, tủy từng mức độ nghiên cứu mà mỗi công trình đều 48 cép đến một vẫn để khác nhau.
Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vưng ngữ nghĩ tống iệ, đã xem xế từ lấy trên phương diện cấu tạo, phân loại và đặc điểm ý nghĩa của ừ ly. Theo ông: "Láy là những từ được ấu ta theo phương thức lấy, đó là phương thức lặp lạ toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết với thanh điệu giữ nguyên hay biển đổi theo quy tắc biển thanh, tức là uy tắc thanh điệu biến đổi theo "hai nhóm: nhóm cao và nhóm thấp”, Từ láy được bình thành do phương thức lầy tác đông vào hình vị cơ sở, cho nên ý nghĩa của từ láy cũng hình thành ÿ nghĩa của. hinh vi cơ số. Do đó, khi xem xếtý nghĩa của từ lấy edn pha đổi chiều nghĩa của nó với hình vị cơ sở.
Tuy ông đã phân tích khá kĩ về nhóm từ lầy, nhưng nhóm từ lấy phòng thanh và nhóm từ lấy âm cách điệu hóa chưa được bản nhiều “rong công trình nghiên cứu khá công phu về hi tượng “Tit lay trong tiéag ViệP, nhà nghiên cứu Hoàng Văn Hành coi từ láy là một hiện tượng ngôn ngữ phúc. tạp và đa dạng. Lây là một cơ chế hòa phối ngữ âm, cơ chế "đối" và "điệg”. Từ việc soi từ ly là một cơ chế, ác giá tiếp tục tìm hiểu về cấu tạo từ láy, các kiễu cơ cầu nghĩ của tử lấy và sau đồ rất ra 9 quả nghệ thuật của từ ly, Ông đã tiến hành tổng kết những thành quả nghiên cứu về từ lấy tiếng Việt từ trước đến nay.
Trên cơ sở đồ, tác giả cũng đưa ra những mặt tồn tại và những mặt có thể k phát huy và bổ sung, tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu những vấn đề còn chưa được giải đáp, chung quanh hiện tượng lấy trong tiếng Viê. Các đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của từ lấy đều được tác giả trình bảy một cách có hệ thống. Về mặt ý nghĩa, tác giả đã quan tâm phân tích kĩ cơ chế hình thành và giá trị biểu đạt của ba nhóm từ lấy là: nhóm từ lấy phòng thanh, nhóm từláy sắc thái hóa và nhóm từ lấy âm eich digu. (Can cée tie gid Dinh Trong Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong “Phong cách học tiếng Việt lại nhìn nhân từ áy từ phương diễn màu sắc bi cảm mà giá trị của chúng dựa trên sự đi lập với những từ đồng nghĩa hoặc tương đồngvề ý nghĩa.
“Trong luận văn, chúng tôi thẳng nhất cách hiểu về khái niệm từ láy như sau Ti úy là từ đa âm tiết được cấu tạo theo phương thức ly, trong đỏ quan hệ giữa các âm tế phải hễ hiện được sự hòa phối và lập ại về mặt ngữ âm, có giá trị bu trương và sắc ái hóa về ngữ nghĩa “Trong tiếng Việt, việc phân biệt từ ghép va tir liy von rất phức tạp vì có sự. chuyển hoá từ từ ghếp sang từ lấy âm. Đẳng thi, lại không ít rường hợp phân tích rach ri gta la ghếp hay liy thi dinh xép ching vio đơn vị trung gian. Tuy vây, ching wi va ra mots tigu chi dé ahn dign tr iy như sau: ~ Tiêu chí thứ nhất.
Lấy âm là phương thức cấu tao riêng của từ Tiếng Viễt, Từ Hán Việt nói chung không có dạng lấy am (tr trường hợp yếu tổ gốc Hán đã được Việt hoá hoàn toàn). Cho nên, nếu bit chắc chấn một từ bai âm tết đó là từ” Hân Việt thì xác định nó à ừ ghép nghĩa chứ không phải là từ lấy âm, dồ b ngoài số dạng lấy âm ngẫu nhiên. Ví dụ: "oập kê, lăng đăng, tr hy, tt ~ Tiêu chí thứ hai: Ranh giới để phân biệt một từ thuần Việt và một từ lấy đôi thuần Việt là : Ở từ ghép hai âm tiết, cả hai tiếng đều có ngl Vi du: “go bot, che chấn, trai trẻ, máu mũ. Còn từ láy dõi thì chỉ một tiếng gốc là có nghĩa, còn tiếng kia là tiếng láy lại, không có nghĩa hoặc mắt nghĩa, có trường hợp cả hai tiếng dầu võ nghĩa.
Có thể phân biệt bằng cách tách riêng từng tiếng, nếu mỗi tiếng khỉ đứng độ lấp dều có nghĩ th đó la ừ ghếp song song (hoặc ding lip). Vi du: “dau đón, khao khác li li, đau đón, ngây ngẤt”. nu chỉ một tiếng có nghĩa thì đồ là lầy âm, Ví dụ: "ạnh lùng, làm lụng, phập phẳng, lâm nhảm)". chỉcó tiếng "lạnh, làm, phồng, nhàm”.
là ếng gốc cổ nhấn ~ Tiêu chí thứ ba: Nếu đảo trả tự giữa các ng mà giữa các iếng Ấy đều có nghĩa thì đó là từ ghép nghĩa. Bởi vi lay âm nói chung ~ không đảo được).Vĩ dụ: “oa diy/ diy doa, gin git! git gin, mir mi mit ma, ng ngẫn/ ngắn ngơ, thần thi thờ thẫn,." đều có thể đảo trật tự các tiếng trong từ nên là các từ ghếp nghĩa. Các tis “lanh fing, tin ngén, ng nging, 19 rng, thim thot, thập thỏ. là các từ lấy âm.
Cách này có mặt hạn chế là do quy luật ngữ âm hoặc do người dùng muỗn tạo sự mới mẻ nên một số từ lấy âm dích thực cũng đảo được trật tư. Ví dụ: "nhớ nhung/ nhung nhớ, da diều diết da, nhỗ nhăng/ nhăng nhố.” nên có thể gây ra nhằm lẫn 1. Đặc điểm của từ láy trong tiếng Việt Xung quanh hiện tượng lấy trong tiếng Việt còn tồn tại các ý kiến, quan niệm khác nhau, có nhiều điểm chưa thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Ngay trong khái niệm về từ lầy cũng đã tồn tại nhiều tên gọi khác nhau: ti phan digp (Đỗ Hữu.
‘Chiu, 1962); sử lắp láy' (Hồ Lê, 1976); từ lắp láy Nguyễn Nguyên Trứ, 1970); te lay cám (Nguyễn Tài Cẩn 1975, Nguyễn Văn Tu, 1976); tieáp (Đào Thân, 1970; Hoàng, Văn Hành, 1979, 1985; Nguyễn Thiện Giáp, 1985; Đỗ Hữu Châu, 1986; Diệp “Quang Ban, 1989). Tiêu biểu có một vài định nghĩa cho các tên gọi trên như sau: [Nha nghiên cứu Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: "Từ lấy âm là loi từ ghép trong đổ, theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay, các thành tổ rực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm. Quan hệ ngữ âm được thể hiện m ở chỗ là các thảnh tổ trực tiếp phải tương ứng với nhau về hai mặt mặt yếu tổ siêu âm đoạn tính (hanh điệu) và mặt yế tổ âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa, vẫn ản" [4, tr. Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Tử láy là những từ được cấu tao theo phương thức lấy, đólà phương thức lặp li toànbộ hay bộ nhân hình thức âm tiết (với những thanh điệu giữ nguyễn bay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điều, biển đổi theo bai nhóm, nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh năng) của một ình vị hay đơn vị có nghĩa”[, trái] Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: "Ngữ lấy âm là những cụm từ được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lp li ó kêm theo sự biển đôi ngữ âm nào đồ của từ đã có.
Đặc trưng ngữ nghĩa nỗi bật của ngữ lầy âm là giá trị gợi ta (biểu cảm, mô. phỏng, tượng hình, tượng thanh)” [23, tr. Nha nghién cia Hoang Van Hanh ‘quan niệm: “ lừ láy, nói chung, là từ được cấu tạo bằng cách nhân. ng theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa.
i, vita hai hoà với nhau về âm và về nghĩa, có giá tị biển tưng hoá” [32 tr27] "Nhà nghiên cứu Hỗ Lê vi “Từ đơn lắp lấy là một loi từ khá đặc bit, xét về mặt sấu tạo. Nó có tính chất của từ đơn nhưng không phải hoàn toàn là từ đơn; nó được gom theo phương thức lắp lầy. Nhưng trong không ít trường họp, quan hệ ắp lầy VỀ mặt ngữ nghĩa lại không được hiện ra một cách rõ ràng” [49, tr206]. Tác giả Nguyễn Nguyên Trữ lại cho rằng: "Từ lấy đôi trong tiếng Việt hiện đại là một loại tạ đơn trong đó có sự ấy lại hoặc là toàn bộ âm tiết, hoặc là phần phụ âm đầu hay phần vẫn rong kết cầu âm tết của hai yếu tổ tạo thành.
Giữa hai âm tiết thường có “mồi quan hệ thanh điệu theo những quy luật nhất định” [76, 52 Như vậy, 1 66 hai :h nhìn Khác nhau về hiện tượng lấy * Cách nhìn thứ nhất coi lấy là gép: Lê Văn Lý xem từ ly là một trong bai kiểu từ ghép trong tiếng Việt (1972). Trương Văn Chỉnh, Nguyễn Hiển Lê đã gộp tử lấy và ừ ghép vào một khi niệm chung, bao quất hơn là ừ kép (196). Nguyễn Văn “Tu goi là từ ghép lấy âm, coi đó là “Những từ ghép vì thực chất chúng được cầu tao Ta bởi một từ tổ với bản thân nó không bị biến âm hoặc bị biển âm” [7§, tr 68] "Nguyễn Tài Cần có quan niệm rộng vỀ từ lấy, ông cho rằng “Từ lấy là loại từ ghép, trong theo con mit nhìn của người Việt hiện nay, các thành tổ rực p được kết hop Iai với nhau chủ yế là theo quan hệ ngữ. Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ là các thành tổ trực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về bai mặt Mặt yếu tổ siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tổ âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính.
giữa vẫn và âm cuối vẫn). Sở đĩ trong định nghĩa tắc giả phải nói "trong con mắt của người Việt hiện nay” là vì có nhiều tổ hợp vốn trước đây thuộc vào kiểu ghép nghĩa, nhưng hiện nay đứng rên diện đồng đại mà xét thi chuyén sang thành kiểu lấy âm [4, 109-111]. Đây là một quan niệm ring, nhưng xết theo quan niệm ny thi ed loi tử sau cũng bị loại ra hối phạm vi của lớp từ này. Đổ là những từ mà tổ chỉ có sự lấy lại ở riêng thanh điệu, Vi dy: tinh od, vững chải ¡ bẩn thù.