Luận văn: Phân tích đặc điểm từ láy trong thơ của nhà thơ Nguyễn Duy

Luận văn thạc sĩ phân tích ngôn ngữ học đặc điểm từ láy trong thơ nguyễn duy, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
136
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn thạc sĩ về đặc điểm từ láy thơ Nguyễn Duy

Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học về đặc điểm từ láy trong thơ Nguyễn Duy là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, giải mã một trong những yếu tố quan trọng tạo nên dấu ấn cá nhân Nguyễn Duy. Từ láy, một phương thức cấu tạo từ đặc sắc của tiếng Việt, không chỉ làm phong phú kho từ vựng học tiếng Việt mà còn là phương tiện biểu đạt tư tưởng, tình cảm một cách tinh tế. Trong thơ Việt Nam hiện đại, Nguyễn Duy nổi lên như một "thi sĩ thảo dân" với phong cách thơ Nguyễn Duy mộc mạc, chân thật nhưng cũng đầy chiêm nghiệm và triết lý. Việc phân tích cách ông vận dụng từ láy không chỉ làm sáng tỏ đặc trưng ngôn ngữ của tác giả mà còn khẳng định hiệu quả nghệ thuật của ngôn từ trong việc chuyên chở những thông điệp thẩm mỹ. Công trình này tiếp cận đối tượng từ góc độ ngôn ngữ học, sử dụng các phương pháp nghiên cứu luận văn bài bản như miêu tả, phân tích ngữ nghĩa và thống kê, phân loại. Luận văn không chỉ dừng lại ở việc hệ thống hóa lý thuyết về từ láy trong tiếng Việt mà còn đi sâu vào khảo sát ngôn ngữ trên ba tập thơ tiêu biểu của Nguyễn Duy. Qua đó, nghiên cứu chỉ ra những đặc điểm về cấu tạo, ngữ pháp và vai trò của từ láy trong việc miêu tả thiên nhiên, khắc họa con người, góp phần khẳng định vị thế và phong cách không thể trộn lẫn của nhà thơ. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cho việc giảng dạy các tác phẩm Nguyễn Duy trong nhà trường cũng như cho các nghiên cứu liên ngành giữa ngôn ngữ và văn học.

1.1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu từ láy trong tiếng Việt

Việc nghiên cứu từ láy trong tiếng Việt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Từ láy được xem là "mảng từ vựng thể hiện rõ nhất linh hồn của tiếng Việt", nơi sự hòa phối âm thanh tạo nên những giá trị biểu cảm và ngữ nghĩa độc đáo. Chúng không chỉ bổ sung một số lượng từ vựng đáng kể mà còn mang lại khả năng gợi tả, gợi cảm mạnh mẽ, điều mà các từ đơn hay từ ghép khó có thể đạt được. Một luận văn ngôn ngữ học tập trung vào từ láy trong tác phẩm văn chương cụ thể giúp làm rõ cơ chế hoạt động và hiệu quả nghệ thuật của ngôn từ. Nó cho thấy cách một tác giả lớn như Nguyễn Duy đã khai thác và làm giàu thêm tiềm năng của ngôn ngữ dân tộc, biến những chất liệu đời thường thành nghệ thuật thi ca đỉnh cao.

1.2. Giới thiệu phong cách thơ Nguyễn Duy và dấu ấn ngôn ngữ

Nguyễn Duy là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Phong cách thơ Nguyễn Duy là sự kết hợp hài hòa giữa chất mộc mạc, dân dã với sự sâu sắc, đậm đặc chất thế sự. Thơ ông vừa gai góc, thẳng thắn, vừa đôn hậu, trữ tình. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy chắt lọc từ lời ăn tiếng nói của nhân dân, gần gũi mà vẫn độc đáo, giàu sức gợi. Chính vì vậy, việc khảo sát lớp từ láy – một thành tố đậm chất dân gian – trong thơ ông là con đường hiệu quả để khám phá dấu ấn cá nhân Nguyễn Duy. Cách ông sử dụng từ láy tượng hình, từ láy tượng thanh không chỉ để miêu tả mà còn để triết lý, suy ngẫm về cuộc đời, về nhân tình thế thái, tạo nên một giọng thơ không thể nhầm lẫn.

II. Nền tảng lý luận Cách nhận diện và phân loại từ láy tiếng Việt

Để phân tích đặc điểm từ láy trong thơ Nguyễn Duy, luận văn trước hết xây dựng một nền tảng lý luận vững chắc về từ láy. Chương cơ sở lý luận đã tổng hợp quan điểm của nhiều nhà Việt ngữ học hàng đầu như Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Tài Cẩn. Khái niệm từ láy được định nghĩa là "từ đa âm tiết được cấu tạo theo phương thức láy, trong đó quan hệ giữa các âm tiết phải thể hiện được sự hòa phối và lặp lại về mặt ngữ âm, có giá trị biểu trưng và sắc thái hóa về ngữ nghĩa". Luận văn đưa ra các tiêu chí nhận diện rõ ràng để phân biệt từ láy với từ ghép, một vấn đề vốn phức tạp trong từ vựng học tiếng Việt. Các phương pháp phân loại từ láy cũng được trình bày hệ thống, dựa trên hai tiêu chí chính: cấu tạo và ngữ nghĩa. Về cấu tạo, từ láy được chia thành láy hoàn toàn và láy bộ phận (láy âm, láy vần). Về ngữ nghĩa, chúng được phân thành nhóm mô phỏng âm thanh, nhóm biểu trưng hóa và nhóm chuyên biệt hóa về nghĩa. Việc nắm vững hệ thống lý thuyết này là tiền đề quan trọng cho quá trình khảo sát ngôn ngữ và phân tích ngữ nghĩa của từ láy trong các tác phẩm Nguyễn Duy, đảm bảo tính khoa học và nhất quán cho toàn bộ công trình.

2.1. Định nghĩa và các tiêu chí nhận diện cấu tạo từ láy

Luận văn đã tổng hợp và thống nhất cách hiểu về cấu tạo từ láy. Theo đó, một từ được xác định là từ láy khi có sự lặp lại toàn bộ hoặc một phần hình thức âm tiết, tuân theo các quy tắc hài thanh, hài âm chặt chẽ. Ba tiêu chí chính được đưa ra để nhận diện. Thứ nhất, từ Hán Việt thường không có dạng láy. Thứ hai, trong từ láy thuần Việt, thường chỉ có một tiếng gốc có nghĩa. Thứ ba, từ láy nói chung không thể đảo trật tự các tiếng như một số từ ghép. Những tiêu chí này, dù có những hạn chế nhất định, vẫn là công cụ hữu hiệu để xác định và sàng lọc ngữ liệu cho một đề cương luận văn thạc sĩ về ngôn ngữ.

2.2. Các phương pháp phân loại từ láy trong từ vựng học tiếng Việt

Việc phân loại từ láy là bước thiết yếu để hệ thống hóa đối tượng nghiên cứu. Luận văn áp dụng hai cách phân loại chính. Về mặt cấu tạo, có láy đôi, láy ba, láy tư; trong đó láy đôi được chia nhỏ thành láy hoàn toàn (lặp cả âm tiết) và láy bộ phận (lặp phụ âm đầu hoặc lặp vần). Về mặt ngữ nghĩa, dựa trên quan điểm của Hoàng Văn Hành, từ láy được chia thành ba nhóm: từ láy mô phỏng âm thanh (từ láy tượng thanh), từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu (từ láy tượng hình), và từ láy vừa biểu trưng vừa chuyên biệt hóa nghĩa. Cách phân loại đa chiều này giúp việc phân tích trở nên toàn diện, khai thác được cả đặc điểm hình thức lẫn giá trị biểu cảm của từ láy.

III. Phương pháp phân tích đặc điểm cấu tạo từ láy thơ Nguyễn Duy

Chương 2 của luận văn tập trung vào việc áp dụng phương pháp nghiên cứu luận văn để phân tích đặc điểm cấu tạo và ngữ pháp của từ láy trong thơ Nguyễn Duy. Dựa trên kết quả khảo sát ngôn ngữ từ ba tập thơ lớn, nghiên cứu đã thống kê được 1156 lượt từ láy xuất hiện. Kết quả cho thấy từ láy đôi chiếm tỷ lệ áp đảo (97,66%), trong đó láy âm (láy phụ âm đầu) là phổ biến nhất (57,35%). Các dạng láy ba và láy tư tuy số lượng ít nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra những nét độc đáo. Về mặt ngữ pháp, đặc điểm từ láy trong thơ Nguyễn Duy thể hiện sự đa dạng về từ loại. Tính từ láy chiếm số lượng lớn nhất (70,93%), phục vụ đắc lực cho việc miêu tả trạng thái, tính chất. Động từ láy (24,18%) và danh từ láy (0,45%) cũng được sử dụng linh hoạt. Về chức năng cú pháp, từ láy đảm nhiệm nhiều vai trò như vị ngữ (67,56%), bổ ngữ (18,69%), và định ngữ (11,94%). Phân tích chi tiết các số liệu này cho thấy Nguyễn Duy không chỉ sử dụng từ láy một cách tự nhiên mà còn có sự dụng công nghệ thuật, khai thác tối đa tiềm năng của chúng để xây dựng hình tượng và biểu đạt cảm xúc.

3.1. Khảo sát ngôn ngữ Thống kê số lượng và tần suất xuất hiện

Thủ pháp thống kê, phân loại là nền tảng thực tiễn cho luận văn. Quá trình khảo sát ngôn ngữ được tiến hành trên 03 tập thơ tiêu biểu: "Nguyễn Duy thơ" (2010), "Quê nhà ở phía ngôi sao" (2012), và "Kinh và liễn" (2020). Kết quả thống kê chi tiết cho thấy: trong tổng số 1156 lượt, có 1129 từ láy đôi, 9 từ láy ba và 18 từ láy tư. Trong láy đôi, láy bộ phận chiếm ưu thế với 906 từ, còn láy hoàn toàn có 223 từ. Những con số này cung cấp một bức tranh toàn cảnh về mức độ sử dụng và sự ưu tiên của Nguyễn Duy đối với từng loại hình cấu tạo từ láy, làm cơ sở cho những nhận định sâu hơn về phong cách của ông.

3.2. Đặc điểm ngữ pháp và chức năng cú pháp của từ láy

Từ láy trong thơ Nguyễn Duy rất linh hoạt về mặt ngữ pháp. Chúng có thể là tính từ (mong manh, lạnh lùng), động từ (băn khoăn, loay hoay), và cả danh từ (đêm đêm, người người). Về chức năng cú pháp, chúng thường giữ vai trò vị ngữ để miêu tả đặc điểm của chủ thể ("ảnh trăng im phăng phắc"), làm bổ ngữ để tô đậm tính chất của hành động ("nơm nớp lo"), hoặc làm định ngữ để khắc họa sự vật ("những câu thơ nhọc nhằn"). Đặc biệt, Nguyễn Duy thường đảo vị trí định ngữ lên đầu câu ("Gập ghềnh lũng thấp đồi cao") để tạo hiệu ứng nhấn mạnh, thể hiện sự dụng công trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy.

IV. Bí quyết khai thác giá trị biểu cảm của từ láy trong thơ Nguyễn Duy

Luận văn đã giải mã thành công giá trị biểu cảm của từ láy trong việc xây dựng thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy. Không chỉ là đơn vị từ vựng, từ láy dưới ngòi bút của ông trở thành công cụ đắc lực để tạo hình và biểu cảm, mang lại hiệu quả nghệ thuật của ngôn từ một cách tối đa. Khi miêu tả thiên nhiên, những từ láy tượng hình như gầy guộc, mong manh, vành vạnh, lắm tắm đã vẽ nên những bức tranh vừa chân thực, gần gũi, vừa giàu sức gợi. Thiên nhiên không còn là cái phông nền tĩnh tại mà trở nên sống động, có hồn, phản chiếu tâm trạng và suy tư của con người. Khi khắc họa con người, từ láy lại là phương tiện hữu hiệu để lột tả trạng thái nội tâm, nỗi vất vả lam lũ hay những khoảnh khắc xúc cảm tinh tế. Các từ như nhễ nhại, lóc nhóc, thấp thững, băn khoăn đã góp phần tạo nên những hình tượng thơ ám ảnh, thể hiện sâu sắc tính dân tộc trong thơ và sự đồng cảm của nhà thơ với những kiếp người. Cách Nguyễn Duy vận dụng ngữ nghĩa của từ láy cho thấy một tư duy thơ độc đáo, luôn tìm tòi để biến ngôn ngữ đời thường thành chất liệu thi ca tinh luyện, tạo nên phong cách thơ Nguyễn Duy không thể trộn lẫn.

4.1. Vai trò của từ láy tượng hình trong việc miêu tả thiên nhiên

Trong thơ Nguyễn Duy, thiên nhiên hiện lên đầy hình khối và màu sắc nhờ hệ thống từ láy tượng hình đặc sắc. Cây tre Việt Nam hiện lên qua dáng vẻ "Thân gầy guộc, lá mong manh". Ánh trăng trong ký ức thì "tròn vành vạnh", còn khi soi chiếu xuống lòng người thì "im phăng phắc". Bờ mộng bùn của tuổi thơ thì "lắm tắm dấu chân cua". Những từ láy này không chỉ miêu tả chính xác mà còn thổi hồn vào cảnh vật, khiến chúng mang theo cả một chiều sâu cảm xúc, gắn liền với ký ức, tình yêu quê hương và những chiêm nghiệm về cuộc đời.

4.2. Sức mạnh của ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy khi khắc họa con người

Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy có sức mạnh đặc biệt trong việc khắc họa chân dung con người, và từ láy là một công cụ then chốt. Hình ảnh người mẹ vất vả hiện lên qua giọt mồ hôi "nhễ nhại", bên cạnh đàn con "lóc nhóc". Dáng đi của người bà tần tảo trong đêm khuya là những bước "thập thững". Những con chữ trong thơ ông về chiến tranh thì "ngọ nguậy" như những vết thương chưa lành. Mỗi từ láy đều được đặt đúng chỗ, không chỉ mô tả hành động, dáng vẻ bên ngoài mà còn chạm đến tận cùng nỗi niềm, tâm trạng bên trong, thể hiện một cái nhìn đầy trắc ẩn và thấu hiểu.

V. Kết quả nghiên cứu Dấu ấn từ láy làm nên phong cách Nguyễn Duy

Công trình luận văn thạc sĩ đã đi đến kết luận quan trọng: việc sử dụng từ láy là một trong những yếu tố cốt lõi định hình phong cách thơ Nguyễn Duy. Kết quả nghiên cứu cho thấy ông không chỉ kế thừa vốn từ láy chung của dân tộc mà còn có những sáng tạo độc đáo, để lại dấu ấn cá nhân Nguyễn Duy rất rõ nét. Sự sáng tạo thể hiện ở việc biến đổi, gia công ngữ nghĩa của những từ láy quen thuộc, tạo ra những sắc thái biểu cảm mới mẻ, bất ngờ. Ví dụ như từ "thập thững" để miêu tả dáng đi gập ghềnh, nhọc nhằn của người bà, hay "lếch nhếch" để tự họa cảnh sống khốn khó của một nhà thơ. Hơn nữa, việc vận dụng dày đặc lớp từ láy đậm chất khẩu ngữ, dân gian đã góp phần làm đậm thêm tính dân tộc trong thơ ông. Ngôn ngữ thơ của ông vì thế mà vừa gần gũi, chân thực như lời ăn tiếng nói hằng ngày, vừa có sức ám ảnh và chiều sâu của một tư duy nghệ thuật lớn. Đặc điểm từ láy trong thơ Nguyễn Duy không chỉ là một vấn đề của phong cách học mà còn là chìa khóa để hiểu sâu hơn về tâm hồn và tư tưởng của một nhà thơ luôn gắn bó máu thịt với nhân dân và đất nước.

5.1. Phân tích những từ láy được Nguyễn Duy sử dụng sáng tạo

Một trong những phát hiện thú vị của luận văn là việc chỉ ra những cách dùng từ láy đầy sáng tạo của Nguyễn Duy. Ông không ngần ngại biến đổi vỏ âm thanh hoặc ngữ nghĩa của từ để phù hợp với ý đồ nghệ thuật. Từ "thập thờm" (đi không vững) được biến thể thành "thập thững", gợi tả bước đi vừa chậm chạp, gập ghềnh, vừa nhọc nhằn của tuổi già. Từ "lếch thếch" và "nhếch nhác" dường như được kết hợp thành "lếch nhếch", tạo ra một từ mới mang đầy đủ sắc thái nghĩa của cả hai. Hay "phập phèo" vừa diễn tả sự bấp bênh, vừa gợi hình ảnh mong manh như bong bóng nước. Những sáng tạo này cho thấy một tài năng ngôn ngữ bậc thầy.

5.2. Biểu hiện tính dân tộc trong thơ qua lăng kính ngôn ngữ học

Tính dân tộc trong thơ Nguyễn Duy biểu hiện rõ nét qua việc ông ưu tiên sử dụng lớp từ vựng thuần Việt, đặc biệt là từ láy. Đây là lớp từ gắn liền với tư duy cụ thể, giàu hình ảnh và cảm xúc của người Việt. Bằng cách đưa những từ như lom khom, gầy guộc, xao xác, bâng khuâng vào thơ một cách tự nhiên, Nguyễn Duy đã tạo ra một không gian thẩm mỹ đậm chất Việt Nam. Thơ ông là tiếng nói của đồng ruộng, của lũy tre làng, của những thân phận bình dị. Việc phân tích từ láy từ góc độ ngôn ngữ học đã lượng hóa và chứng minh một cách khoa học cho đặc điểm phong cách nghệ thuật mà giới phê bình văn học đã cảm nhận.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí luận, “Chương 2: Đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ pháp của từ láy trang thơ Nguyễn Duy “Cương3: Vi trồ ca từ lấy trong thr Nguyen Dy Charong 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1-1. Khái niệm về từ lấy và tiêu chí nhận diện từ lấy trong tiếng Việt (Quan tâm nghiên cứu về các đặc điểm của từ lấy tiếng Việt có thể kế đến u biểu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tai Cin, Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành, li Xuân Ninh, Hà Quang Năng, Hoàng Cao Cương, Diệp Quang. ‘Ban, NauyEn Thiện Giáp, Phi Tuyết Hinh, Đảo Than, Nguyễn Thị Hai, Hữu Dat, Nguyén Đức Tôn. Như vậy, từ lâu, việc nghiên cứu từ lấy đã được các nhà Việt "ngữ học quan tâm, Tuy nhiên, tủy từng mức độ nghiên cứu mà mỗi công trình đều 48 cép đến một vẫn để khác nhau.

Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vưng ngữ nghĩ tống iệ, đã xem xế từ lấy trên phương diện cấu tạo, phân loại và đặc điểm ý nghĩa của ừ ly. Theo ông: "Láy là những từ được ấu ta theo phương thức lấy, đó là phương thức lặp lạ toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết với thanh điệu giữ nguyên hay biển đổi theo quy tắc biển thanh, tức là uy tắc thanh điệu biến đổi theo "hai nhóm: nhóm cao và nhóm thấp”, Từ láy được bình thành do phương thức lầy tác đông vào hình vị cơ sở, cho nên ý nghĩa của từ láy cũng hình thành ÿ nghĩa của. hinh vi cơ số. Do đó, khi xem xếtý nghĩa của từ lấy edn pha đổi chiều nghĩa của nó với hình vị cơ sở.

Tuy ông đã phân tích khá kĩ về nhóm từ lầy, nhưng nhóm từ lấy phòng thanh và nhóm từ lấy âm cách điệu hóa chưa được bản nhiều “rong công trình nghiên cứu khá công phu về hi tượng “Tit lay trong tiéag ViệP, nhà nghiên cứu Hoàng Văn Hành coi từ láy là một hiện tượng ngôn ngữ phúc. tạp và đa dạng. Lây là một cơ chế hòa phối ngữ âm, cơ chế "đối" và "điệg”. Từ việc soi từ ly là một cơ chế, ác giá tiếp tục tìm hiểu về cấu tạo từ láy, các kiễu cơ cầu nghĩ của tử lấy và sau đồ rất ra 9 quả nghệ thuật của từ ly, Ông đã tiến hành tổng kết những thành quả nghiên cứu về từ lấy tiếng Việt từ trước đến nay.

Trên cơ sở đồ, tác giả cũng đưa ra những mặt tồn tại và những mặt có thể k phát huy và bổ sung, tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu những vấn đề còn chưa được giải đáp, chung quanh hiện tượng lấy trong tiếng Viê. Các đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của từ lấy đều được tác giả trình bảy một cách có hệ thống. Về mặt ý nghĩa, tác giả đã quan tâm phân tích kĩ cơ chế hình thành và giá trị biểu đạt của ba nhóm từ lấy là: nhóm từ lấy phòng thanh, nhóm từláy sắc thái hóa và nhóm từ lấy âm eich digu. (Can cée tie gid Dinh Trong Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong “Phong cách học tiếng Việt lại nhìn nhân từ áy từ phương diễn màu sắc bi cảm mà giá trị của chúng dựa trên sự đi lập với những từ đồng nghĩa hoặc tương đồngvề ý nghĩa.

“Trong luận văn, chúng tôi thẳng nhất cách hiểu về khái niệm từ láy như sau Ti úy là từ đa âm tiết được cấu tạo theo phương thức ly, trong đỏ quan hệ giữa các âm tế phải hễ hiện được sự hòa phối và lập ại về mặt ngữ âm, có giá trị bu trương và sắc ái hóa về ngữ nghĩa “Trong tiếng Việt, việc phân biệt từ ghép va tir liy von rất phức tạp vì có sự. chuyển hoá từ từ ghếp sang từ lấy âm. Đẳng thi, lại không ít rường hợp phân tích rach ri gta la ghếp hay liy thi dinh xép ching vio đơn vị trung gian. Tuy vây, ching wi va ra mots tigu chi dé ahn dign tr iy như sau: ~ Tiêu chí thứ nhất.

Lấy âm là phương thức cấu tao riêng của từ Tiếng Viễt, Từ Hán Việt nói chung không có dạng lấy am (tr trường hợp yếu tổ gốc Hán đã được Việt hoá hoàn toàn). Cho nên, nếu bit chắc chấn một từ bai âm tết đó là từ” Hân Việt thì xác định nó à ừ ghép nghĩa chứ không phải là từ lấy âm, dồ b ngoài số dạng lấy âm ngẫu nhiên. Ví dụ: "oập kê, lăng đăng, tr hy, tt ~ Tiêu chí thứ hai: Ranh giới để phân biệt một từ thuần Việt và một từ lấy đôi thuần Việt là : Ở từ ghép hai âm tiết, cả hai tiếng đều có ngl Vi du: “go bot, che chấn, trai trẻ, máu mũ. Còn từ láy dõi thì chỉ một tiếng gốc là có nghĩa, còn tiếng kia là tiếng láy lại, không có nghĩa hoặc mắt nghĩa, có trường hợp cả hai tiếng dầu võ nghĩa.

Có thể phân biệt bằng cách tách riêng từng tiếng, nếu mỗi tiếng khỉ đứng độ lấp dều có nghĩ th đó la ừ ghếp song song (hoặc ding lip). Vi du: “dau đón, khao khác li li, đau đón, ngây ngẤt”. nu chỉ một tiếng có nghĩa thì đồ là lầy âm, Ví dụ: "ạnh lùng, làm lụng, phập phẳng, lâm nhảm)". chỉcó tiếng "lạnh, làm, phồng, nhàm”.

là ếng gốc cổ nhấn ~ Tiêu chí thứ ba: Nếu đảo trả tự giữa các ng mà giữa các iếng Ấy đều có nghĩa thì đó là từ ghép nghĩa. Bởi vi lay âm nói chung ~ không đảo được).Vĩ dụ: “oa diy/ diy doa, gin git! git gin, mir mi mit ma, ng ngẫn/ ngắn ngơ, thần thi thờ thẫn,." đều có thể đảo trật tự các tiếng trong từ nên là các từ ghếp nghĩa. Các tis “lanh fing, tin ngén, ng nging, 19 rng, thim thot, thập thỏ. là các từ lấy âm.

Cách này có mặt hạn chế là do quy luật ngữ âm hoặc do người dùng muỗn tạo sự mới mẻ nên một số từ lấy âm dích thực cũng đảo được trật tư. Ví dụ: "nhớ nhung/ nhung nhớ, da diều diết da, nhỗ nhăng/ nhăng nhố.” nên có thể gây ra nhằm lẫn 1. Đặc điểm của từ láy trong tiếng Việt Xung quanh hiện tượng lấy trong tiếng Việt còn tồn tại các ý kiến, quan niệm khác nhau, có nhiều điểm chưa thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Ngay trong khái niệm về từ lầy cũng đã tồn tại nhiều tên gọi khác nhau: ti phan digp (Đỗ Hữu.

‘Chiu, 1962); sử lắp láy' (Hồ Lê, 1976); từ lắp láy Nguyễn Nguyên Trứ, 1970); te lay cám (Nguyễn Tài Cẩn 1975, Nguyễn Văn Tu, 1976); tieáp (Đào Thân, 1970; Hoàng, Văn Hành, 1979, 1985; Nguyễn Thiện Giáp, 1985; Đỗ Hữu Châu, 1986; Diệp “Quang Ban, 1989). Tiêu biểu có một vài định nghĩa cho các tên gọi trên như sau: [Nha nghiên cứu Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: "Từ lấy âm là loi từ ghép trong đổ, theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay, các thành tổ rực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm. Quan hệ ngữ âm được thể hiện m ở chỗ là các thảnh tổ trực tiếp phải tương ứng với nhau về hai mặt mặt yếu tổ siêu âm đoạn tính (hanh điệu) và mặt yế tổ âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa, vẫn ản" [4, tr. Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Tử láy là những từ được cấu tao theo phương thức lấy, đólà phương thức lặp li toànbộ hay bộ nhân hình thức âm tiết (với những thanh điệu giữ nguyễn bay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điều, biển đổi theo bai nhóm, nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh năng) của một ình vị hay đơn vị có nghĩa”[, trái] Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: "Ngữ lấy âm là những cụm từ được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lp li ó kêm theo sự biển đôi ngữ âm nào đồ của từ đã có.

Đặc trưng ngữ nghĩa nỗi bật của ngữ lầy âm là giá trị gợi ta (biểu cảm, mô. phỏng, tượng hình, tượng thanh)” [23, tr. Nha nghién cia Hoang Van Hanh ‘quan niệm: “ lừ láy, nói chung, là từ được cấu tạo bằng cách nhân. ng theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa.

i, vita hai hoà với nhau về âm và về nghĩa, có giá tị biển tưng hoá” [32 tr27] "Nhà nghiên cứu Hỗ Lê vi “Từ đơn lắp lấy là một loi từ khá đặc bit, xét về mặt sấu tạo. Nó có tính chất của từ đơn nhưng không phải hoàn toàn là từ đơn; nó được gom theo phương thức lắp lầy. Nhưng trong không ít trường họp, quan hệ ắp lầy VỀ mặt ngữ nghĩa lại không được hiện ra một cách rõ ràng” [49, tr206]. Tác giả Nguyễn Nguyên Trữ lại cho rằng: "Từ lấy đôi trong tiếng Việt hiện đại là một loại tạ đơn trong đó có sự ấy lại hoặc là toàn bộ âm tiết, hoặc là phần phụ âm đầu hay phần vẫn rong kết cầu âm tết của hai yếu tổ tạo thành.

Giữa hai âm tiết thường có “mồi quan hệ thanh điệu theo những quy luật nhất định” [76, 52 Như vậy, 1 66 hai :h nhìn Khác nhau về hiện tượng lấy * Cách nhìn thứ nhất coi lấy là gép: Lê Văn Lý xem từ ly là một trong bai kiểu từ ghép trong tiếng Việt (1972). Trương Văn Chỉnh, Nguyễn Hiển Lê đã gộp tử lấy và ừ ghép vào một khi niệm chung, bao quất hơn là ừ kép (196). Nguyễn Văn “Tu goi là từ ghép lấy âm, coi đó là “Những từ ghép vì thực chất chúng được cầu tao Ta bởi một từ tổ với bản thân nó không bị biến âm hoặc bị biển âm” [7§, tr 68] "Nguyễn Tài Cần có quan niệm rộng vỀ từ lấy, ông cho rằng “Từ lấy là loại từ ghép, trong theo con mit nhìn của người Việt hiện nay, các thành tổ rực p được kết hop Iai với nhau chủ yế là theo quan hệ ngữ. Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ là các thành tổ trực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về bai mặt Mặt yếu tổ siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tổ âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính.

giữa vẫn và âm cuối vẫn). Sở đĩ trong định nghĩa tắc giả phải nói "trong con mắt của người Việt hiện nay” là vì có nhiều tổ hợp vốn trước đây thuộc vào kiểu ghép nghĩa, nhưng hiện nay đứng rên diện đồng đại mà xét thi chuyén sang thành kiểu lấy âm [4, 109-111]. Đây là một quan niệm ring, nhưng xết theo quan niệm ny thi ed loi tử sau cũng bị loại ra hối phạm vi của lớp từ này. Đổ là những từ mà tổ chỉ có sự lấy lại ở riêng thanh điệu, Vi dy: tinh od, vững chải ¡ bẩn thù.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ