CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Định nghĩa ung thư vú Ung thư vú là loại ung thư hình thành và phát triển ở bộ phận vú của nữ giới và cả nam giới. Thuật ngữ “ung thư vú” thường được dùng để chỉ ung thư phát triển từ các tế bào biểu mô (carcinoma) vú. Trong một số trường hợp hiếm gặp, ung thư mô mềm (sarcoma) hoặc ung thư tế bào hệ bạch huyết (lymphoma) cũng có thể hình thành ở vú.
Có rất nhiều loại ung thư vú khác nhau với rất nhiều điểm khác nhau trong biểu hiện bệnh, quá trình phát triển, đáp ứng với các phương pháp chữa trị, khả năng di căn và tái phát. Do đó, xác định đúng loại ung thư vú đóng vai trò rất quan trọng trong quyết định liệu pháp điều trị [5]. Dịch tễ học Ung thư là nguyên nhân chính gây tử vong, với gần 8 triệu ca tử vong do các bệnh ác tính vào năm 2008 và dự kiến 11 triệu ca tử vong liên quan đến ung thư vào năm 2030. Mặc dù tỷ lệ mắc ung thư phổi tăng mạnh trong những năm gần đây (12% tổng số ca ung thư ở nữ) , ung thư vú vẫn là bệnh lý ác tính phổ biến nhất ở phụ nữ trên toàn thế giới, với hơn 1,3 triệu ca được chẩn đoán hàng năm và gần 0,5 triệu ca tử vong.
Căn bệnh này chiếm 1/4 số ca ung thư mới ở phụ nữ trên toàn cầu, nhưng có tới 1/3 ở Anh, nơi nguy cơ suốt đời là 1/8.000 trường hợp ung thư vú mới được chẩn đoán hàng năm ở Anh, chiếm tỷ lệ chuẩn hóa theo độ tuổi là 123,9 trường hợp trên 100. Năm 2012, theo công bố của cơ quan nghiên cứu quốc tế về ung thư (GLOBOCAN), trên toàn thế giới có 1.000 ca mắc mới và có 522.000 phụ nữ tử vong do UTV [5], [7]. Tại Mỹ, năm 2011 có khoảng 229.060 ca mắc mới và 39.920 ca chết vì UTV [7]. 4 Phụ nữ ở Hoa Kỳ có nguy cơ phát triển ung thư vú suốt đời ước tính là 12,3% (tức là cứ 8 phụ nữ thì có 1 người) .290 trường hợp ung thư vú xâm lấn (192.370 phụ nữ và 1919 nam giới) và 62.280 trường hợp ung thư biểu mô nữ tại chỗ của vú sẽ được chẩn đoán ở Hoa Kỳ, với 40.610 trường hợp tử vong do ung thư vú xâm lấn được dự đoán [8].
Có 1,7 triệu ca ung thư mới mắc được chẩn đoán năm 2012 (chiếm tỉ lệ 25% tất cả các loại ung thư). Ung thư vú phổ biến ở cả những nước phát triển và kém phát triển [9]. Ung thư vú ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương chiếm khoảng 1/3 gánh nặng toàn cầu của căn bệnh này. Tỷ lệ mắc ung thư vú ước tính hàng năm ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là 319 000 trường hợp so với khoảng 607 000 trường hợp ở các nước Bắc Mỹ và Châu Âu [10].
Ở ViệtNam, năm 2008 có 5 268 ca mắc bệnh, trong đó có 2 284 ca tử vong tính trên 100. Theo số liệu của chương trình mục tiêu phòng chống ung thư năm 2010, có 12.533 trường hợp mới mắc UTV với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 29,9/100. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc là 15.000 ca/năm, tỷ lệ tử vong là 35%. Ở Miền Bắc với tỷ lệ mắc theo tuổi là 27,3/100.000 dân, ở Miền Nam tỷ lệ này là 17,1/100.
Trong số bệnh nhân phát hiện bệnh có 70% người bệnh đến khám ở giai đoạn muộn [11]. Các yếu tố nguy cơ Nếu một phụ nữ không có triệu chứng có kết quả tiêu cực khi khám sức khỏe, điểm quyết định tiếp theo là dựa trên phân tầng nguy cơ. Phụ nữ có thể được phân thành 2 nhóm rủi ro cơ bản: Phụ nữ có nguy cơ bình thường: Đối với phụ nữ từ 20 đến 39 tuổi, nên thực hiện CBE cứ 1 đến 3 năm một lần, khuyến khích nhận thức về vú. Đối với phụ nữ từ 40 tuổi trở lên, nên thực hiện CBE và chụp nhũ ảnh tầm soát hàng năm, đồng thời khuyến khích nhận thức về vú.
Khuyến nghị rằng phụ nữ nên bắt đầu tầm soát nhũ ảnh hàng năm khi 40 tuổi [8]. 5 Phụ nữ có nguy cơ gia tăng: Phụ nữ đã trải qua chiếu xạ lồng ngực trước: Kết quả từ một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ trải qua chiếu xạ lồng ngực trong thập kỷ thứ hai hoặc thứ ba của cuộc đời có nguy cơ phát triển ung thư vú tăng lên đáng kể ở tuổi 40 [8]. Một nghiên cứu về các gia đình của Hiệp hội Liên kết Ung thư Vú (BCLC) đã chỉ ra rằng các đột biến trong tế bào ung thư buồng trứng có nguy cơ ung thư vú thấp hơn (nguy cơ tương đối [RR] 0,63) và nguy cơ ung thư buồng trứng cao hơn (RR p 1.9), so với các đột biến bên ngoài vùng này. Gayther và cộng sự.
(1995) đã phát hiện ra rằng nguy cơ ung thư buồng trứng so với nguy cơ ung thư vú cao hơn ở những gia đình có đột biến cắt ngắn protein ở 2/3 gen đầu tiên so với những gia đình có đột biến cắt ngắn protein ở 1/3 cuối cùng của gen. Gần đây hơn, Thompson và Easton (2002) đã phát hiện ra rằng các đột biến gen có liên quan với nhau với nguy cơ ung thư vú thấp hơn, và Risch et al. Các yếu tố nguy cơ của ung thư vú đã được mô tả rõ ràng và bao gồm những điều sau: • Tuổi (65 tuổi so với <65 tuổi, mặc dù nguy cơ tăng ở mọi lứa tuổi lên đến 80 tuổi) • Tiền sử gia đình bị ung thư vú • Tuổi muộn khi mang thai đủ tháng đầu tiên (> 30 tuổi) • Không bao giờ mang thai đủ tháng • Chậm kinh sớm và / hoặc mãn kinh muộn • Một số đột biến di truyền nhất định đối với bệnh ung thư vú (ví dụ: trong các gen BRCA1, BRCA2, ATM và CHEK2) • Một số rối loạn ở vú, chẳng hạn như tăng sản không điển hình hoặc ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ • Mật độ mô vú cao • Mật độ xương cao (sau mãn kinh) 6 • Bức xạ liều cao vào ngực. Nhìn chung, các yếu tố rủi ro trên là cố định.
Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi và có thể điều chỉnh, bao gồm béo phì, sử dụng hormone ngoại sinh (liệu pháp thay thế hormone gần đây và lâu dài; sử dụng thuốc tránh thai gần đây), sử dụng rượu, sử dụng thuốc lá, chế độ ăn kiêng và mức độ thể chất thấp [13]. Khám sàng lọc và chẩn đoán ung thư vú 1. Khám sàng lọc ung thư vú Kiểm tra vú được thực hiện ở những phụ nữ không có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của ung thư vú để bệnh có thể được phát hiện sớm nhất có thể. Các thành phần của đánh giá sàng lọc vú phụ thuộc vào tuổi của bệnh nhân và các yếu tố khác, chẳng hạn như tiền sử bệnh tật và gia đình, và có thể bao gồm nhận thức về vú, khám sức khỏe, đánh giá nguy cơ, chụp nhũ ảnh sàng lọc, và trong một số lựa chọn các trường hợp, chụp MRI.
Đánh giá chẩn đoán vú khác với kiểm tra vú ở chỗ nó được sử dụng để đánh giá một vấn đề hiện có (ví dụ, khối lượng trội, tiết dịch từ núm vú). Mặc dù bằng chứng sơ bộ cho thấy rằng siêu âm vú có thể là một phương pháp hỗ trợ sàng lọc hữu ích cho chụp nhũ ảnh trong việc đánh giá những phụ nữ có vòng một cao với bộ ngực dày, việc sử dụng nó như một xét nghiệm sàng lọc hiện không được khuyến khích. Các hướng dẫn này chỉ bao gồm siêu âm trong quá trình chẩn đoán của một số phụ nữ được chọn dựa trên kết quả dương tính cụ thể [8]. Chẩn đoán ung thư vú Chẩn đoán giải phẫu bệnh theo kinh điển được cho là tiêu chuẩn vàng để phân type mô bệnh học (MBH) và chia độ mô học (ĐMH) nhằm chẩn đoán chính xác về hình thái học khối u, để cung cấp những thông tin quan trọng cho điều trị và tiên lượng bệnh.
Năm 2012, WHO đã công bố bảng phân loại ung thư vú mới nhất với một số sửa đổi bổ sung quan trọng [14]. Trên thực tế, UTV thường được chẩn đoán dựa vào 3 phương pháp: lâm sàng, tế bào học và chụp tuyến vú, nếu một trong ba yếu tố này có nghi ngờ thì bệnh nhân sẽ 7 được tiến hành làm sinh thiết tức thì để chẩn đoán xác định. Ngoài ba phương pháp thông dụng trên, một số các phương pháp khác như sinh thiết kim, sinh thiết mở được áp dụng tuỳ theo từng trường hợp. Phương pháp sinh thiết ngoài ý nghĩa để chẩn đoán xác định còn có giá trị để đánh giá trình trạng thụ thể nội tiết (ER, PR) và Her2/neu nhằm định hướng cho phương pháp điều trị nội tiết, hoá chất, điều trị đích và để tiên lượng bệnh.
Sự biểu hiện quá mức của HER2 hoặc sự khuếch đại gen của nó là cả hai yếu tố tiên lượng và tiên lượng ở bệnh nhân ung thư vú [15]. Phụ nữ bị ung thư vú biểu hiện quá mức thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì ở người loại 2 (HER2, còn được gọi là HER2 / neu) là có nguy cơ mắc bệnh tiến triển và tử vong cao hơn so với những phụ nữ có khối u không biểu hiện quá mức HER2 [16]. Ung thư vú được chẩn đoán khi còn trẻ có tương quan với khả năng sống sót kém hơn và tỷ lệ tái phát cao hơn khi so sánh với những bệnh nhân lớn tuổi hơn [17]. * Triệu chứng lâm sàng: Khoảng 7% các trường hợp ung thư vú được chẩn đoán ở phụ nữ 40 tuổi và dưới 4% ở phụ nữ dưới 35 tuổi.
Mặc dù ung thư vú không phổ biến ở phụ nữ trẻ, nhưng đây là loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ 40 tuổi, chiếm 30–40% tổng số các bệnh ung thư nữ [18]. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở phụ nữ 40 tuổi ở các nước phát triển và tỷ lệ sống sót của phụ nữ trẻ mắc bệnh ung thư vú trung bình thấp hơn phụ nữ lớn tuổi [19]. Triệu chứng lâm sàng của Ung thư tuyến vú rất đa dạng, khi có các triệu chứng điển hình thì thường đã ở giai đoạn muộn của bệnh. - Các triệu chứng tại tuyến vú: a) Khối to lên ở vú: Là triệu chứng có ở 90% số bệnh nhân Ung thư vú.
Có thể xác định được các tính chất sau: 8 + Vị trí: thường bị ở một vú nhưng có khi bị cả hai vú. + Các biến đổi ở da vùng có khối U:. Dấu hiệu da trên khối U bị lõm xuống vì dính vào khối U.