ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư tuyến tiền liệt là một trong những ung thư thường gặp nhất ở nam giới. Trên thế giới, theo số liệu mới nhất của Globocan 2018, tỷ lệ mới mắc của ung thư tuyến tiền liệt là 13,5%, xếp thứ hai trong mười loại ung thư thường gặp nhất ở nam giới. Tỷ lệ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt là 6,7%, đứng thứ năm trong mười loại ung thư thường gặp ở nam giới [23], [46]. Tại Việt Nam, cũng theo Globocan năm 2018, ung thư tuyến tiền liệt có tỷ lệ mắc bệnh là 8,4/100.000 dân, xếp thứ năm trong mười loại ung thư thường gặp ở nam giới [1], [2], [23].
Theo nghiên cứu tầm soát ở nam giới trên 50 tuổi tại Bệnh viện Bình Dân, ghi nhận tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt là 3% [4]. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều phương tiện hỗ trợ chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt như siêu âm Doppler, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ… đã được đưa vào sử dụng, nhưng xét nghiệm phát hiện kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA - Prostate specific antigen) huyết thanh, vẫn rất có giá trị trong chẩn đoán và theo dõi điều trị ung thư tuyến tiền liệt, vì giá thành xét nghiệm rẻ, dễ thực hiện và là một kỹ thuật ít xâm lấn. Hiện nay, một số nghiên cứu về các phương pháp chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt, có xu hướng phân tích thêm về mối tương quan giữa nồng độ PSA huyết thanh với một số yếu tố sinh học khác như: thể tích tuyến tiền liệt, tuổi bệnh nhân; Liên quan giữa các dạng PSA, như PSA tự do trong huyết thanh và đồng phân PSA lưu thông trong máu (PSA tạo phức, PSA tự do)… để tăng độ nhạy của PSA trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt. Các nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ phần trăm PSA tạo phức tăng, trong khi tỷ lệ phần trăm PSA tự do giảm ở người bị ung thư tuyến tiền liệt, so với người chứng bình thường, hoặc so với người bị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt [13].
Như vậy, tỷ lệ phần trăm PSA tự do có thể làm gia tăng độ đặc hiệu của xét nghiệm 2 PSA trong việc chẩn đoán phân biệt giữa ung thư tuyến tiền liệt với tăng sản lành tính tuyến tiền liệt [12], [33], [34]. Đặc biệt, một xét nghiệm mới được Bộ Y Tế đưa vào ứng dụng hiện nay trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt, đó là xét nghiệm p2PSA, là một dạng đồng phân của PSA tự do trong máu, nồng độ chất này thường tăng lên trong ung thư tuyến tiền liệt [3]. Bên cạnh đó, năm 2012, chỉ số sức khỏe tuyến tiền liệt (PHI: Prostate Health Index) đã được Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm của Hoa Kỳ công nhận và đưa vào sử dụng trong sàng lọc ung thư tuyến tiền liệt [19], [25], [26], [33]. Đây là một hướng tiếp cận mới giúp chẩn đoán phân biệt giữa ung thư tuyến tiền liệt với tăng sản lành tính tuyến tiền liệt, thông qua việc phối hợp các giá trị PSA toàn phần, PSA tự do và p2PSA lại với nhau trong một thuật toán để cho ra một điểm số duy nhất [34], [38], [39].
Kết quả điểm số này cho phép thầy thuốc lâm sàng quyết định chẩn đoán ung thư hay không ung thư tuyến tiền liệt. Chính từ ý nghĩa này, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu giá trị của mật độ PSA, phần trăm PSA tự do, phần trăm p2PSA và chỉ số sức khỏe tuyến tiền liệt trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt” với 2 mục tiêu sau: 1/ Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị ngưỡng cắt của mật độ PSA, phần trăm PSA tự do, phần trăm p2PSA và chỉ số sức khỏe tuyến tiền liệt trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt ở bệnh nhân có khối u tuyến tiền liệt đến khám tại Bệnh viện Ung Bướu Thành Phố Cần Thơ và Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2019 – 2020. 2/ Khảo sát mối tương quan giữa mật độ PSA, phần trăm PSA tự do, phần trăm p2PSA và chỉ số sức khỏe tuyến tiền liệt với điểm Gleason ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tại Bệnh viện Ung Bướu Thành Phố Cần Thơ và Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2019 – 2020. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cƣơng tuyến tiền liệt và ung thƣ tuyến tiền liệt 1.1 Giải phẫu tuyến tiền liệt Tuyến tiền liệt (TTL) nằm dưới bàng quang.
Theo McNeal phân chia thành 5 vùng có ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý tiền liệt tuyến: vùng đệm xơ – cơ phía trước, vùng ngoại vi, vùng trung tâm, vùng mô trước và vùng chuyển tiếp [10], [17].1 Giải phẫu tuyến tiền liệt theo McNeal (cắt dọc) (Nguồn: Phạm Minh Thông – 2012 [17]) 1. Vùng ngoại vi 2. Vùng trung tâm 3. Vùng chuyển tiếp 4.
Vùng đệm xơ-cơ trước 1.2 Sinh học tế bào và hình thái của tuyến tiền liệt bình thƣờng Tuyến tiền liệt gồm những thành phần thượng mô và thành phần nền được phân cách bởi màng đáy [44]. 4 - Phần thượng mô tuyến tiền liệt: gồm hai loại tế bào cơ bản gồm tế bào đáy và những tế bào ống tuyến có vai trò tiết. Ngoài ra còn có tế bào thần kinh nội tiết được phân tán trong vùng này. - Phần mô đệm bao gồm: hỗn hợp chất ngoại bào với các nguyên bào sợi, các tế bào cơ trơn, những tế bào nội mô, những tế bào thần kinh….
Nhìn chung, phần mô đệm có khả năng làm thay đổi vi môi trường của tế bào ở phần thượng mô như việc thành phần thượng mô nhận chất dinh dưỡng và androgen khi những chất này đi qua phần mô đệm.2 Thành phần cấu tạo mô tuyến tiền liệt ở ngƣời (Nguồn: Jack Schalken - 2005 [44]) 1.3 Ung thƣ tuyến tiền liệt 1.1 Phân loại Ung thư biểu mô tuyến là loại mô bệnh chủ yếu nhất, chiếm 95% các tổn thương ác tính tại TTL. Một số loại khác hiếm gặp hơn như: ung thư tế bào chuyển tiếp (chiếm 1% - 4%), Sarcoma TTL (chiếm 0,1% - 0,2%), ung thư tế bào đáy và các loại u thứ phát [2], [30].2 Lâm sàng - Thường không triệu chứng, ngay cả ở giai đoạn tiến triển bệnh [2]. Triệu chứng đường tiểu dưới: tiểu máu, tiểu lâu, tiểu khó, tiểu gấp… Triệu chứng toàn thân (giai đoạn trễ): sụt cân, mệt mỏi, đau xương. - Thăm khám trực tràng: có giá trị khi khối u ở vùng ngoại vi, có thể phát hiện khối u lớn hơn 0,2mL, giá trị tiên đoán chỉ khoảng 21 – 50% và các trường hợp chẩn đoán được thì đa số khối u đã xâm nhập ra khỏi vỏ bọc bao tuyến tiền liệt [1].3 Cận lâm sàng - Định lượng PSA: là một xét nghiệm có giá trị tầm soát, chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt, đồng thời, PSA cũng có giá trị trong đánh giá kết quả điều trị và theo dõi sau điều trị.
Giá trị bình thường của PSA là < 4ng/mL [1], [2]. - Siêu âm tuyến tiền liệt: hiện nay kích thước tối thiểu của khối u TTL có thể phát hiện được qua siêu âm là khoảng 0,5cm, những khối u này có thể sờ thấy khi thăm khám trực tràng bằng tay. Ngoài ra, các nhà lâm sàng có thể dựa vào thể tích tuyến tiền liệt kết hợp với nồng độ tPSA để tính được chỉ số mật độ PSA. Với máy siêu âm Doppler màu chuẩn với đầu dò qua đường trực tràng có thể giảm bớt được 40% các cuộc sinh thiết không cần thiết.3 Siêu âm TTL trên xƣơng mu (Nguồn: Phạm Minh Thông – 2012 [17]) 6 - Chụp cộng hưởng từ và cắt lớp vi tính: Hiện nay, chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp cắt lớp vi tính là hai phương pháp thăm dò khá hiệu quả trong ung thư TTL.
Hình ảnh (MRI) có khả năng phân biệt được những vùng khác nhau của TTL và cho những hình ảnh theo không gian ba chiều.4 TTL bình thƣờng trên MRI (ngang mức giữa tuyến) (Nguồn: Bùi Văn Lệch – 2016 [10]) T: Vùng chuyển tiếp P: Vùng ngoại vi FS: Mô đệm xơ – cơ trước Hình 1.5 Ung thƣ TTL lan ngoài vỏ bao (Nguồn: Bùi Văn Lệch – 2016 [10]) 7 - Chụp PET/CT: PET cho thông tin về hình ảnh rối loạn chức năng hay rối loạn chuyển hóa ở mô, vì thế, có thể phát hiện sớm được các tổn thương ở mô tuyến tiền liệt, hình ảnh cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong chẩn đoán ung thư. Chụp cắt lớp vi tính (CT) cho thông tin về hình ảnh giải phẫu, giúp định vị được chính xác các tổn thương trên nhiều bình diện không gian. Kết hợp PET và CT cho phép chúng ta tận dụng được những ưu điểm của chúng trong chẩn đoán bệnh. Vì vậy, kỹ thuật ghi hình này cho hiệu quả chẩn đoán vượt trội, chúng có giá trị chẩn đoán sớm, chính xác, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn so với các kỹ thuật hình ảnh khác.
Tuy nhiên, đây là một phương pháp phức tạp, giá thành rất cao, nên không phải bệnh nhân nào cũng được sử dụng. - Nội soi niệu đạo – bàng quang: tìm tổn thương ở TTL và bàng quang. - Sinh thiết và xét nghiệm mô bệnh học: Để khẳng định có hay không có ung thư TTL chỉ có thể thông qua sinh thiết mô và làm xét nghiệm giải phẫu bệnh lý. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể sinh thiết hàng loạt bệnh nhân, mà cần phải chọn lọc dựa vào dấu hiệu nghi ngờ ung thư khi thăm khám tuyến TTL qua trực tràng, kết quả của siêu âm hoặc nồng độ PSA của bệnh nhân.
Về mô bệnh học, đa số ung thư TTL (95%) là ung thư biểu mô tuyến, còn lại 5% là ung thư tế bào chuyển tiếp, ung thư tế bào vảy (trong đó 90% là sarcoma tế bào chuyển tiếp). Các tế bào ung thư thường tăng sắc, nhân to và hạt nhân lồi, bào tương ưa kiềm. Tế bào đáy thường mất liên tục, các túi tuyến phân bố một cách hỗn loạn [6]. Hệ thống phân độ Gleason do Gleason DF và cộng sự công bố năm 1966.
Năm 1993, hệ thống này được Tổ chức y tế thế giới (WHO) chọn làm hệ thống phân loại cho ung thư TTL [30]. Hệ thống phân độ Gleason rất có giá trị trong đánh giá diễn tiến tự nhiên của ung thư tuyến tiền liệt, cũng như đánh giá nguy cơ tái phát sau khi cắt khối u TTL.