mở đầu cho sự ra đời nhiều ABAF khác nhƣ Fab, minibody (scFv- CH3), diabody ( dimer scFv), scFv- Fc. Các dạng này có thể có một vùng gắn KN (monovalent binding) hoặc 2 vùng gắn KN (bivalent binding) [10]. Trong số các ABAF, dạng gần với cấu trúc của phân tử kháng thể hoàn chỉnh nhất là dạng scFv-Fc có hai vùng gắn KN. Phần Fc trong scFv-Fc thƣờng có nguồn gốc từ ngƣời, do đó khi vào cơ thể scFv-Fc có đầy đủ khả năng nhƣ một phân tử kháng thể hoàn chỉnh để gây các phản ứng miễn dịch cần đến phần Fc (nhƣ ADCC, CDC, CDCC…) mà scFv không thể gây ra đƣợc.
Nguyên tắc chung để tạo ABAF gồm có hai bƣớc là sử dụng kĩ thuật tái tổ hợp DNA để tạo ra đoạn gene mã hoá, sau đó biểu hiện đoạn gene tái tổ hợp trong hệ biểu hiện phù hợp, do đó một số tài liệu còn gọi chúng là các cấu trúc kháng thể tái tổ hợp (recombinant antibody fragment) [42,12]. Kháng thể tái tổ hợp Kháng thể tái tổ hợp là thuốc thử cần thiết cho nghiên cứu, chẩn đoán và điều trị [25]. Nhu cầu sử dụng kháng thể trong nghiên cứu khoa học, trong chẩn đoán và điều trị bệnh ngày càng lớn, đặc biệt là các kháng thể đặc hiệu có nguồn gốc từ ngƣời, nhƣng nguồn kháng thể ngƣời thƣờng khó kiếm đƣợc. Vì vậy, phƣơng pháp chung để thu nhận đƣợc các kháng thể là từ động vật gây miễn dịch và sau đó nhân tính hoá để hạn chế tối đa phản ứng miễn dịch khi sử dụng.
Nhằm làm tăng hiệu quả điều trị của các kháng thể đơn dòng, các nhà khoa học đã kết hợp các gen từ các nguồn tế bào lympho B khác nhau (từ chuột, ngƣời) để tạo các gen tái tổ hợp mã hoá các kháng thể đơn dòng có vùng gắn kết kháng nguyên đồng nhất, gắn kết với cùng một vị trí của kháng nguyên. Các kháng thể đơn dòng có thể là kháng thể đơn dòng chuột, kháng thể đơn dòng ngƣời, kháng thể đơn khỉ, kháng thể đơn dòng nhân hoá. Các kháng thể đơn dòng sản xuất theo phƣơng pháp Kohler và Milstein năm 1975 [29] có ứng dụng rất lớn trong nghiên cứu khoa học để xác định sự tƣơng tác giữa các phân tử, xác định z các quyết định kháng nguyên. Tuy nhiên, khi ứng dụng trong điều trị lại gặp những trở ngại về tính hiệu quả do chúng nhanh chóng bị trung hoà (cơ thể ngƣời bệnh sinh kháng thể kháng lại nó, gọi tắt là hiện tƣợng HAMA).
Để khắc phục vấn đề này, các nhà khoa học đã sử dụng kỹ thuật gen để: (1) tạo kháng thể đơn dòng dạng ghép; (2) sản xuất kháng thể có bản chất của ngƣời hoàn toàn. Kháng thể đơn dòng dạng ghép (Chimeric monoclonal antibody) là kháng thể mang vùng biến đổi có nguồn gốc của chuột và vùng hằng định có nguồn gốc của ngƣời. Kháng thể đơn dòng dạng ghép làm tăng hiệu quả điều trị và giảm hiện tƣợng HAMA. Trên thực tế đã có 5 kháng thể đơn dòng dạng ghép đã đƣợc bán trên thị trƣờng ở nhiều nƣớc để điều trị miễn dịch và ung thƣ.
Các kháng thể hoàn toàn có bản chất của ngƣời mới đƣợc nghiên cứu trong những năm gần đây và đang trong giai đoạn thử nghiệm. Kháng thể đặc hiệu các loại kháng nguyên Phản ứng kháng nguyên - kháng thể rất đặc hiệu, vì vậy để thu nhận đƣợc các kháng thể đặc hiệu kháng nguyên đích ta cần hiểu rõ mối tƣơng tác kháng nguyên - kháng thể, xác định nét đặc trƣng của kháng thể đối với các kháng nguyên có nguồn gốc, bản chất khác nhau [4]. Kháng thể đặc hiệu kháng nguyên ung thư. Rất nhiều ung thƣ biểu hiện phân tử trên bề mặt tế bào đặc hiệu, nghĩa là chúng không biểu hiện hoặc biểu hiện với số lƣợng rất nhỏ trên các tế bào soma bình thƣờng.
Vai trò của các kháng nguyên này trong hình thành hoặc phát triển khối u vẫn cần phải nghiên cứu làm sáng tỏ. Tuy nhiên, chức năng sinh học của những kháng nguyên này là đích để chẩn đoán và điều trị đã đƣợc xác định vì: - Các kháng thể có thể cho phép xác định sớm khối u. - Trong nhiều trƣờng hợp kháng thể gắn kết với tế bào khối u dẫn đến sự phá hủy các tế bào này theo cơ chế gây độc tế bào phụ thuộc kháng nguyên. - Kháng thể có thể gắn cộng hợp với đầu đạn chẳng hạn một độc tố hoặc một nhân phóng xạ để hƣớng tới các tế bào ung thƣ đích nhằm phá hủy chúng mà không gây z tổn thƣơng đối với các tế bào bình thƣờng.
Nhiều kháng thể đầu đã đƣợc sử dụng có hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị ung thƣ. Để tạo các kháng thể đặc hiệu kháng nguyên ung thƣ, động vật đƣợc gây miễn dịch với các tế bào mang kháng nguyên đích hoặc với các kháng nguyên tinh sạch. Các kháng thể đơn dòng xuất hiện trong động vật gây miễn dịch hoặc với các kháng nguyên tinh sạch. Các kháng thể đơn dòng xuất hiện trong động vật gây miễn dịch đƣợc sàng lọc dựa trên hoạt tính gắn kết với các tế bào ung thƣ và kiểm tra hoạt tính diệt tế bào [4].
Kháng thể đặc hiệu kháng nguyên cụm biệt hóa ( CD). Kháng nguyên cụm biệt hóa là những chỉ thị trên bề mặt tế bào lympho, chúng đƣợc sử dụng để phân biệt các dòng tế bào, các trạng thái phát triển và các cụm chức năng, chúng chỉ có thể nhận diện bằng các kháng thể đơn dòng và đƣợc đánh số, chẳng hạn CD1, CD2, CD3 vv. Kháng thể đặc hiệu các thụ thể bề mặt tế bào. Các thụ thể trên bề mặt tế bào là các glycoprotein đƣợc cắm vào hoặc gắn kết với màng tế bào huyết tƣơng, hƣớng ra ngoài môi trƣờng và có vị trí gắn kết cho các ligand đặc hiệu.
Ligand gắn với thụ thể tế bào tạo ra các tín hiệu sinh học và nó đƣợc lan truyền từ ngoài vào trong tế bào làm xuất hiện các phản ứng của tế bào nhƣ tăng sinh, biệt hóa, chết theo chƣơng trình vv. Các thụ thể trên bề mặt tế bào truyền các tín hiệu ligand rất khác nhau chẳng hạn các nhóm thụ thể, hoạt hóa một enzyme. Tạo kháng thể đặc hiệu với các thụ thể trên bề mặt tế bào là một thách thức lớn vì hầu hết chúng có số lƣợng quá ít không đủ để gây miễn dịch, ngoại trừ việc biểu hiện các gen tái tổ hợp. Nhiều thụ thể xuyên qua màng tế bào vài lần theo dạng hình sin và không thể biểu hiện nhƣ những đoạn tái tổ hợp hòa tan.
Kháng thể đặc hiệu kháng nguyên tế bào gốc. Tế bào gốc có tiềm năng biệt hóa và phát triển thành các dạng tế bào khác nhau trong cơ thể động vật. Đáp ứng một phần cho hệ thống sửa chữa của cơ thể, về lí thuyết tế bào gốc có thể phân chia không giới hạn để bổ sung các tế bào khác. Tế bào gốc phôi ngƣời thƣờng đƣợc thu nhận từ phôi 5-7 ngày tuổi có tiềm năng phát triển z thành tất cả các dạng tế bào.
Gần đây, nhiều dạng tế bào gốc đã đƣợc phân lập và xác định đặc tính. Các tế bào này là một quần thể tế bào hiếm mà chúng có thể hình thành khối u mới với tất cả các dạng tế bào đặc trƣng cho khối u khởi nguyên. Những tế bào này có khản năng tự đổi mới và phân chia không đối xứng. Tách đƣợc những tế bào gốc khối u có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu làm sáng tỏ hoàn toàn quá trình di căn và tìm ra loại thuốc điều trị mới đặc hiệu cho ung thƣ [4].
Kháng thể đặc hiệu các yếu tố phát triển. Các yếu tố phát triển và biệt hóa là dạng hòa tan, nó cảm ứng tế bào phân chia hoặc biệt hóa thông qua cơ chế sử dụng các thụ thể. Các yếu tố phát triển và biệt hóa kiểm soát các quá trình sinh lý và bệnh lý cơ bản nhƣ quá trình phát triển phôi, tạo mạch và hình thành các khối u. Khi tạo kháng thể đặc hiệu các yếu tố phát triển hoặc biệt hóa, hoạt tính trung hòa thƣờng đƣợc đặt ra.
Do vậy các kháng thể đơn dòng đặc hiệu các yếu tố này đƣợc tiến hành theo phƣơng pháp gây miễn dịch chuẩn và kỹ thuật dung hợp, sau đó các kháng thể có khả năng trung hòa đƣợc chọn lọc để ứng dụng cho phép thử hoạt tính. Kháng thể đặc hiệu cytokine. Các cytokine thƣờng là các protein nhỏ hòa tan điều hòa các phản ứng viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch thông qua cơ chế với trung gian là các thụ thể. Lớp các chất miễn dịch này bao gồm các interleukin, các yếu tố kích thích quần thể, các yếu tố hoại tử khối u, yếu tố phát triển biến đổi các interpheron và các chemokine.
Interpheron có thể kích thích phản ứng miễn dịch kháng virus và interpheron-α tái tổ hợp đã đƣợc sử dụng khá hữu hiệu trong điều trị viêm gan B và C. Các cytokine khác, chẳng hạn yếu tố gây hoại tử α là đích của các kháng thể đơn dòng điều trị nhiễm khuẩn mới. Kháng thể đặc hiệu kháng nguyên virus. Các virus là những nguồn lây nhiễm có thể gây ra những bệnh nguy hiểm đe dọa tới sức khỏe cộng đồng nhƣ cúm, viêm gan, AIDS và một số bệnh ung thƣ.
Virus có cấu tạo hạt với kích thƣớc rất nhỏ trong đó DNA và RNA đƣợc bao bọc bởi lớp vỏ capsid. Các kháng nguyên của virus nhô lên trên lớp vỏ capsid đóng vai trò quan z trọng trong việc tiếp cận, dung hợp và xâm nhiễm DNA hoặc RNA của mình vào tế bào chủ. Phản ứng miễn dịch có bản chất kháng thể hình thành là lớp bảo vệ đầu tiên giúp tế bào chủ tránh khỏi sự xâm nhiễm của virus. Các kháng thể đặc hiệu kháng nguyên tái tổ hợp là công cụ vô giá trong nghiên cứu virus và trong một số trƣờng hợp có thể sử dụng để tạo miễn dịch thụ động, điều trị bệnh do virus.
Các phƣơng pháp tạo kháng thể. Nhu cầu sử dụng kháng thể trong nghiên cứu khoa học, trong chẩn đoán và điều trị bệnh ngày càng lớn, đặc biệt là các kháng thể đặc hiệu có nguồn gốc của ngƣời. Vì vậy, phƣơng pháp chung để nhận đƣợc các kháng thể là từ động vật gây miễn dịch và sau đó nhân tính hóa để hạn chế tối đa phản ứng miễn dịch khi sử dụng. Phương pháp tạo dòng tế bào lai hybridoma.
Đáp ứng miễn dịch dịch thể của cơ thể đƣợc hình thành khi có kháng nguyên xâm nhập và cảm ứng tạo ra các loại kháng thể.