CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN PHAN 1: CÁC VẤN £>Ề VỀ QUAN LÝ, CHĂM sóc sức K.HOẺ NGƯỜI NHIỄM HIV/AIDS 1. Cơ sở cho hoat đông chăm sóc sức khoẻ người nhiễm HIV/AIDS tai công đồng; 1. Sinh bệnh học của nhiễm HIV: Thời gian trang bình từ khi nhiễm HIV đến khi tử vong là 10 năm [7]. Trong thời gian ủ bệnh người nhiễm HIV có thổ hoàn toàn khoẻ mạnh, sinh hoạt và làm việc bình thường.
Hiện nay nhờ có nhũng tiến bộ trong công tác điều trị và chăm sóc toàn diện người nhiễm HIV/AIDS nên thời gian sống của người nhiễm HIV/AIDS có thể tới 15 năm và có thể hon 15 năm[53][54]. Một đặc trưng riêng biệt của nhiễm HIV khác với các bệnh truyền nhiễm khác là trong suốt thời gian ủ bệnh, kể cả khi phát bệnh người nhiễm HIV luôn là nguồn truyền nhiễm làm lây nhiễm HIV cho người khác. HIV ký sinh và phát triển chủ yếu ở các tế bào miễn dịch, làm hệ thống miễn dịch của cơ thê bị suy sụp, tạo điều kiện cho các nhiễm khuẩn cơ hội và ung thư phát tri ển gây tử vong[39]. Bệnh cảnh biểu hiện của AIDS rất phong phú, đa dạng với các triệu chứng có thể gặp trong rất nhiều cơ quan của cơ thể nên vâh đề chẩn đoán nhiều khi rất khó khăn.
Hiện nay nhiễm HIV/AIDS chưa có thuốc điều trị và vác xin dự phòng đặc hiệu. Công tác dự phòng chủ yếu hiện nay vẫn dựa vào việc thực hi ện các hành vi an toàn trong công tác ngành y tế, người bênh và cộng đồng[17][19]. Các nghiên cứu khoa học trên thế giới đã khẳng định:[50] 4 +Tái nhiễm HIV nhiều lần sẽ làm cho khả năng phát triển thành AIDS nhanh hon. +Mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục sẽ làm tăng khả năng lây nhiễm HIV lên rất nhiều lần đồng thời cũng nít ngắn thời gian ủ bệnh của người nhiễm HIV.
4-Việc thực hiện điều trị cho các bà mẹ mang thai, các tiết chế nuôi con nhân tạo cho những trường hợp phụ nữ bị nhiễm HIV đã làm giảm đến 70% sự lây truyền mẹ — con. Vấn đề kỳ thị của cộng đồng với người nhiễm HIV: Trong giai đoạn đẩu của dịch, do các biện pháp truyền thông giáo d ục c ường điệu quá mức đã làm nảy sinh sự phân biệt đối xử của cộng đồng đối với người nhiễm HIV/AIDS. Người ta cho rằng nhiễm HIV/AIDS đồng nghĩa với sự xấu xa, tệ nạn xã hội như mãi dâm, ma tuý. Người nhiễm HIV/AIDS vừa đựợc hiểu là đối tượng tệ nạn xã hội vừa là người mang bệnh truyền nhiễm dễ lây và chắc chắn tử vong vì không có thuốc chữa.
Vì vây người nhiễm HIV/AIDS bị cộng đổng xa lánh, phân biệt đối xử.[5] Sự kỳ thị đó ở Việt Nam không kém phần nặng nề. Nhiều địa phương, nhất là vùng nông thôn, cộng đồng hầu như không chấp nhân người nhiễm HIV/AIDS sinh sống, làm ãn trong vùng quê của mình. Một số người nhiễm HIV/AIDS khi nhân được sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội cũng không vì thế mà có th ể làm ăn trên quê h ương c ủa mình được.[4] Vâh đề làm thế nào giảm áp lực của sự phân biệt đối xử, xa lánh của cộng đồng ? Có rất nhiều các biện pháp nhưng một trong những biện pháp là đưa ng ười nhi ễm HIV/AIDS được tái hoà nhập cộng đổng, bình thường hoá vâh đề HIV, tạo một thói quen, một hành vi tốt đối với cộng đồng thông qua việc chăm sóc sức kho ẻ ng ười nhi ễm HIV /AIDS dựa vào cộng đổng. NI1U cầu chăm sóc sức khoẻ (CSSK) của người nhiễm HIV/AIDS: Là những nhu cầu của người nhiễm HIV/A1DS mong muốn được sống dễ chịu hom, hoà nhập cộng đồng về thể chất, tinh thần, dự phòng và đi ều tr ị nh ững nhi ễm khuẩn cơ hội.
Một chẩn đoán nhiễm HIV sẽ tạo ra một áp lực đáng kể về mặt tâm lý, làm tăng sự không ổn định của mọi khía cạnh tronh đời sống con ng ười, k ể c ả ch ất l ượng cu ộc sống và tuổi thọ, hiệu quả của điều trị và đáp ứng của xã hội. Để đáp ứng với sự không ổn định, người nhiễm HIV phải thực hiện một loạt sự điều chỉnh, ngay cả sự không đáp ứng, bản thân nó có thể là một sự điều chỉnh thông qua sự từ chối[23]. Sự điều chỉnh đó có thể là: buổn rầu, lo lắng đến quá mức có thể dẫn đến suy sụp, từ chối sự thật, tự cách ly với cộng đổng, mặc cảm tội lỗi hoặc có những phản ứng tiêu cực làm lây nhiễm HIV ra ngoài cộng đồng. Tuy có những điều chỉnh, phản ứng khác nhau nhưng hầu hết người nhiễm đều có nhu cầu chăm sóc về mặt y tế.
Nhu cầu được khám bệnh, chữa bệnh khi ốm đau luôn là những đòi hỏi của tất cả mọi người và hiển nhiên người nhiễm càng phải có các nhu cầu chăm sóc hơn nữa về mặt y tế nên có thể cho rằng, nhân viên y tế là người có nhiều khả năng tiếp xúc với người nhiễm HIV/AIDS nhất. Vây nhu cầu chăm sóc về mặt y tế của người nhiễm gồm những vấn đề gì: +ĐÒĨ hỏi đựoc khám bệnh +Được chữa bệnh +Hiểu biết vể căn bệnh +Chăm sóc con cái họ +HỖ trợ các kiến thức và kỹ năng cho người có điều kiện, khả năng chăm sóc họ ngay tại nhà.[5][49] Càng ở gần giai đoạn cuối của bệnh, nhu cầu đòi hỏi được chăm sóc càng thôi thúc họ và việc tìm kiếm các dịch vụ y tế càng thôi thúc họ và nhu 6 cầu tìm kiếm các dịch vụ y tế cũng mạnh mẽ hơn, đó chính là bản năng và khát vọng sống của con người. Bên cạnh việc cần được chăm sóc về mặt y tế, người nhiễm HIV/AIDS cũng như người bình thường khác, luôn có những đòi hỏi được chăm sóc và hỗ trợ về mặt xã hội: Nhu cầu có thu nhập, có công ăn việc làm, và vấn đề bảo đảm các quyền về con người khi đang sống, quyền không bị phân biệt đối xử, bình đẳng như mọi người khác trong xã hội. Sự đáp ứng của hệ thông y tế: Là một căn bệnh, hiển nhiên hệ thống Y tế phải gánh chịu h ậu qu ả c ủa nhi ễm HIV/A1DS.
Bản thân hệ thống Y tế luôn có nguy cơ quá tải khi th ực hi ện việc chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS, các báo cáo từ các nước cận Sahara cho thấy có nhiều nước hơn 50% số bênh nhân nằm trong bệnh viên do AIDS[5] và ngay tại Campuchia số bệnh nhân nhập viện có tới 12% dương tính[57] vây điều gì sẽ xảy ra ở Việt Nam khi con số nhập viện do AIDS ngày càng tăng lên. Một đặc điểm của nhiễm HIV ở Việt Nam là hầu hết số nhiễm ở trong tình trạng nghèo, nhiều trường hợp không tự đảm bảo cuộc sống hàng ngày cho nên hẩu hết các chi phí vể y tế khi chăm sóc trong bênh viện nhiều bệnh viện phải gánh chịu. Những báo cáo về thất thu viện phí của bênh nhân AIDS ở một số bệnh viện ngày một nhiều. Hê thống Y tế Việt Nam hiên đã ở trong tình trạng quá tải, lượng bệnh nhân đến khám ở các cơ sở y tế có xu hướng gia tăng[5].
Có nhiều nguyên nhân cho sự quá tải này nhưng một vấn đề cần đặt ra đó là việc chăm sóc sức khoẻ ở y tế tuyến cơ sở. Vì vậy quản lí, chăm sóc sức khoẻ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đổng cũng là th ực hi ện chiến lược trên. Trong môi trường chăm sóc y tê' đối với bệnh nhân AIDS, tỉ lê lây nhiễm HIV trong nhân viên y tế cũng là một vấn đề bức xúc hiện nay. Với xác suất tỉ lệ lây nhiễm HIV cho nhân viên y tế là 0,03%, việc làm hạn chế người 7 bệnh nằm điều trị tại các cơ sở y tế cũng nên thực hiện để giảm bớt các nguy có lây chéo giữa nhân viên y tế và người nhiễm HIV/AIDS.[39] Trước những vấn đề bức xúc trên, cần phải tổ chức quản lí, chăm sóc sức khoẻ cho người nhiễm HIV/AIDS ngay tại cộng đồng là một trong những trọng tâm hiện nay của công tác phòng chống AIDS hiện nay.
Quản lí chăm sóc sức khoẻ người nhiễm HIV/AIDS không những làm giảm các ảnh hưởng kinh tế xã h ội c ủa đ ại d ịch HIV/AIDS mà còn làm giảm sự lan truyền HIV từ người nhiễm ra cộng đồng. Đây cũng chính là biên pháp can thiệp phải được thực hiện trong các can thiệp của phòng chống AIDS. Tuy nhiên, vẫn có sự kỳ thị và phân biệt đối xử với những ng ười nhi ễm HIV/AIDS làm cho công việc quản lý CSSK những người nhiễm HIV/AIDS gặp nhiều khó khăn. Dịch tễ học của nhiễm HIV/AIDS: 1.1: Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên toàn cầu Tính đến cuối năm 1999, luỹ tích số người nhiễm HIV còn sống là 33,6 triệu người, luỹ tích số người đã chết do AIDS là 16,3 triệu người ( trong đó có 2,1 triệu người chết trong năm 1999), có khoảng 1/5 số chết trong năm 1999 là trẻ em và 45% là phụ nữ.
Trong năm 1999, ước tính có 5 triệu người mới nhiễm HIV, trong đó có 570. Mỗi ngày trên thế giới có thêm 15.000 người mới nhiễm HIV. Độ tuổi nhiễm HIV chủ yếu là trẻ từ 15-49 tuổi.[37] 95% số người nhiễm HIV còn sống là người của các nước khu vực cận Sahara và ở vùng Nam và Đông Nam Á. Chỉ tính riêng hai vùng này đã chiếm tới 91,2% số người nhiễm mới HIV trong năm 1999.
Hệ thống y tế nghèo nàn, nguồn lực dành cho các hoạt động dự phòng và chăm sóc hạn hẹp., đã làm tăng sự tràn lan của HIV. Khoảng hơn một nửa người nhiễm HIV trên thế giới đang nằm trong độ tuổi dưới 25 và thường họ bị chết do AIDS trước khi đầy 35 tuổi. Thế giới ghi nhân thành công của một số nước Châu Á: Các chương trình can thiệp dự phòng mạnh mẽ ở một số nước Châu Á dường như đã làm 8 giảm nguy cơ lây nhiễm HIV, thậm chí đã chặn đứng sức mạnh tấn công của HIV và thực tế đã làm chững lại tỉ lệ nhiễm bệnh ở Thái Lan và Phi lip pin. Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam: Nhiễm HIV/AIDS đang trở thành vấn đề ngày càng nghiêm trọng ở Việt Nam.
Dịch HIV tăng nhanh vào những năm cuối thê' kỷ 20. Hiện nay đại dịch chưa có dấu hiộu chững lại. Nhiễm HIV có xu hướng xuất hiện nhiều ở lứa tu ổi trẻ (t ừ 20-29) chi ếm 36,8% trường hợp. Vào cuối năm 1997 tỉ lệ nhiễm HIV ở đối tượng từ 13-19 tu ổi m ới chỉ có 5% đến cuối năm 1998 tăng lên đến 6,4%.